NHẦM LẪN Y KHOA
Nhân báo Lao Động điện tử đăng bài
Bệnh nhân vỡ hàm, bác sĩ mổ tay và bài
U bên trái, cắt bên phải, đă đến lúc công chúng cũng như
ngành y tế cần phải quan tâm hơn đến vấn đề an toàn bệnh nhân
tại các cơ sở y tế.
Trong trường hợp thứ nhất, có thể thấy
mấy điều mang tính chất hệ thống như sau:
1.
Vấn đề xác định có phải đúng là bệnh nhân cần làm thủ
thuật hay không. Bệnh viện hoặc khoa X-Quang chỉ sử dụng tên
riêng mà thôi th́ không đủ để xác điịnh bệnh nhân có đúng là
người cần được làm thủ thuật hay không. Bệnh viện cần có quy
định hai hoặc ba loại quy định về bệnh nhân, chẳng hạn họ tên
đầy đủ, ngày tháng năm sinh, và mă số bệnh nhân. Và việc xác
định đúng bệnh nhân cần thực hiện mỗi lần cần làm thủ thuật, kể
cả thủ thuật thông thường như tiêm chích, và đối chiếu với bệnh
nhân và ṿng căn cước mang ở cổ tay hoặc cổ chân.
2.
Vấn đề chuyển giao bệnh nhân. Nguy cơ nhầm lẫn tăng cao
khi chuyển giao bệnh nhân giữa các khoa pḥng hoặc các toán
trực. Bệnh viện cần qui định quy tŕnh và nội dung của cuộc bàn
giao, chẳng hạn ngày giờ, thành phần bàn giao, tên tuổi bệnh
nhân, chẩn đoán, thủ thuật, các xét nghiệm đáng quan tâm, t́nh
trạng bệnh nhân, thuốc và các việc cần làm hoặc cần theo dơi.
3.
Vấn đề cách biệt quyền hạn. Ngành y tế thường theo
truyền thống tôn ti trật tự, trên dưới. Người dưới thường ít
khi chất vấn quyết định của người trên, nhất là khi người trên
giỏi chuyên môn hơn. Điều này thường dẫn tới hậu quả là các
nhầm lẫn ít khi được nêu lên để đối chất trong toán trực hoặc
trong giao ban buổi sáng. Mặc khác, các y bác sĩ tại Viêt Nam
thường ít khi nghe ư kiến của bệnh nhân hoặc thân nhân bệnh
nhân. Trong trhường hợp này, ta thấy vợ bệnh nhân đă ít nhất
hai lần nêu lên nghi vấn nhầm lẫn y khoa, nhưng cả hai lần đều
bị các bác sĩ bỏ ngoài tai.
4.
Vấn đề tự báo cáo. Trong một môi trường mà mọi nhầm lần
đều được qui cho trách nhiệm cá nhân, chắc chắn các thành viên
có tham gia trong nhầm lẫn sẽ không tự báo cáo cho đến chừng nào
công việc bị đỗ bể ra. Nhầm lẫn y khoa, thay v́ được coi như
một thất bại cá nhân, cần được xem như là một cơ hội học tập và
một cơ hội đánh giá lại toàn bộ hệ thống trong quá tŕnh chăm
sóc bệnh nhân.
Trong trường hợp thứ hai, có mấy điểm
mang tính hệ thống sau đây:
1.
Vấn đề chống nhầm bệnh nhân, nhầm phẩu thuật, nhầm bên
phẫu thuật. Rơ ràng đây là một nhầm lẫn về bên phẫu thuật
(wrong side), thể hiện rơ ở biên bản phẫu thuật và giấy ra viện
của bệnh nhân. Nhầm lẫn về bên phẫu thuật thường thấy khi tổn
thương ở những vị trí cơ thể đối xứng nhau qua mặt phẳng giữa
(median plane), chẳng hạn như tay phải/tay trái, chân phải/chân
trái. Tại Mỹ, tất cả các cơ sở thực hành ngoại khoa được kiểm
định bởi Ủy ban liên hợp kiểm định các cơ sở y tế (Joint
Commisssion on Accreditation of Healthcare Organizations-JCAHO)
đều áp dụng quy chế phổ cập chống nhầm bệnh nhân, nhầm phẩu
thuật, nhầm bên phẩu thuật (Universal protocol against wrong
patient, wrong surgery, wrong side). Để tránh nhầm lẫn này,
phẫu thuật viên cần đích thân đánh dấu phía bên dự định mỗ bằng
mực không phai (indelible ink) trong khi bệnh nhân c̣n tỉnh để
có thể xác định cùng với phẩu thuật viên phía bên dự định mỗ
và tên phẫu thuật. Trước khi cho bệnh nhân ngũ mê, tất cả các
thành viên của toán mỗ cần ngưng ngay mọi việc đang làm để tham
dự việc “tạm ngưng” (time out), để xác định bệnh nhân, phẩu
thuật và phía bên mỗ. Nếu bất cứ một người nào trong toán có
nghi vấn, cả toán không được tiến hành phẫu thuật mà cần phải
làm sáng tỏ nghi vấn đó.
2.
Vấn đề giao tiếp. Trong trường hợp bệnh viện có bác sĩ
ngoại quốc hành nghề, vấn đề bảo đảm giao tiếp thông thoáng với
bệnh nhân bản xứ là điều quan trọng. Các cản trở giao tiếp,
ngoài ngôn ngữ ra, c̣n có thể do giới hạn về thị giác, thính
giác, tri giác của bệnh nhân. Mặc dù thủ tục kư giấy thuận mỗ
(consent) là bắt buộc, nhưng chuyện bệnh nhân có hiểu rơ nội
dung của giấy thuận mỗ mới là điều quan trọng (informed
consent). Bác sĩ cần giải thích với bệnh nhân và gia đ́nh bản
chất của phẫu thuật bằng những từ mà người thường có thể hiểu
được, ai tham gia vào quá trinh mỗ, các tai biến có thể xảy ra,
kiểu gây mê, các cách điều trị khác mà bệnh nhân có thể lựa
chọn, quyền của bệnh nhân được từ chối, quyền của bệnh nhân được
quyền hỏi ư kiến của một bác sĩ khác (second opinion). Nếu các
điều trong nội dung trên được bàn kỹ lưỡng với bệnh nhân và
người nhà th́ có thể tránh được nhiều điều đáng tiếc xảy ra sau
này.
Mỗi khi có trường hợp nhầm lẫn y khoa,
thường có hai thái độ xử lư. Một, quy trách nhiệm cho cá nhân,
như trong trường hợp thứ nhất - “khẳng định nguyên nhân chính
dẫn đến sự cố này là lề lối làm việc quan liêu, thiếu trách
nhiệm và yêu cầu mọi người phải viết lại bản kiểm điểm cho trung
thực hơn.” Hai, xem nhẹ nhầm lẫn y khoa, như trong trường hợp
thứ hai - “Bệnh viện chỉ thiếu sót là không thông báo cho bệnh
nhân, nên không có trách nhiệm ǵ” hoặc “Tất cả chỉ là sơ
suất.” Trong cả hai trường hợp này, thay v́ có thái độ “con sâu
làm sầu nồi canh” và thái độ chối bỏ sự việc, ít ra bệnh viện
cần làm một phân tích nguyên nhân gốc (root cause analysis –
RCA), có cả sự tham dự của bệnh nhân hoặc người nhà, trong các
lănh vực thiết kế, trang thiết bị, quy tŕnh/quy chế, con người
và môi trường/tổ chức (DEPOSE – design, equipment, process,
operators, enviroment) và xem tại sao các hàng rào cản thường
qui bị chọc thủng (barrier analysis).
Nhầm lần y khoa không phải chỉ xảy ra duy
nhất tại Viêt Nam. Tại Mỹ, năm 1999, Viện Y học (Institute of
Medicine) công bố báo cáo “Nhầm lần là bản chất của con người
(To Err Is Human),” với con số ước tính từ 44 ngàn tới 98 ngàn
tử vong hàng năm do nhầm lẫn y khoa, tương đương với việc một
phản lực cơ Boeing 747 rớt mỗi ngày. Tổn phí quốc gia do các sự
cố xấu có thể pḥng ngừa được (preventable adverse events) gây
ra lên đến 17 – 29 tỷ đô la Mỹ hàng năm. Công chúng Mỹ cũng rất
ít hiểu biết về các vần đề an toàn trong y khoa. Khi được hỏi
nguyên nhân chính của nhầm lẫn y khoa, 29% trả lời là do tắc
trách và 27% là do quá tải.
Một câu hỏi chí lư thường được nhiều
người nhắc đến “Tại sao các nhầm lẫn y khoa lại có thể xảy ra
trong khi phương châm chính của ngành y là 'trước hết không làm
hại (primum non nocere)'?” Ngành y gồm những hệ thống được xem
là phức tạp (complex) và gắn bó chặt chẻ (tightly coupled).
Nguy cơ nhầm lẫn xảy ra cao hơn trong các hệ thống này, so với
trong các hệ thống tuyến tính (linear) và gắn bó lỏng lẻo
(loosely coupled). Hệ thống phức tạp gồm nhiều thành phần
chuyên khoa hóa, tương tác qua lại với nhau bằng nhiều ṿng phản
hồi, nên khi một bộ phận bị hư th́ khó thay thế bộ phận đó và
ảnh hưởng của sự hỏng này có thể lan ra xa và lâu dài. Trong hệ
thống gắn bó chặt chẻ, các quy tŕnh nối tiếp rất là khít khao,
nên khi có sự cố xảy ở một quy tŕnh th́ các quy tŕnh khác bị
ảnh hưởng. Cần phải thấy rằng các nhầm lẫn y khoa thường thấy
chỉ là các nhầm lẫn đương thời (active errors), mặt nổi của tảng
băng mà phần đáy chứa đầy các nhẫm lẫn tiềm ẩn (latent errors).
Nếu chỉ sửa phần nổi, như sa thải nhân viên, mà không giải quyết
phần đáy, th́ không bao lâu sau nhầm lẫn lại xảy ra nữa, lần này
với cá nhân khác. An toàn ít được quan tâm trong ngành y, so
với các ngành khác, chẳng hạn như hàng không. Nếu phi cơ rớt,
phi công cũng tử nạn chung với hành khách. Trong ngành y, nếu
có nhầm lẫn th́ bệnh nhân gánh chịu hậu quả, chứ bác sĩ không bị
tác hại tới.
Ngành y tế cần tiếp cận vấn đề an toàn
bệnh nhân một cách có hệ thống hơn, thay v́ chỉ nhắm vào loại
trừ nhầm lẫn y khoa một cách riêng lẽ. Cần hiểu an toàn theo
nghĩa rộng chứ không chỉ là không có nhầm lẫn, mà là:
–
một quan điểm mới về sư phức tạp và nguy hiểm cao
của hệ thống y khoa,
–
một tập hợp các quy tŕnh nhằm phát hiện, đánh giá
và ngăn ngừa các nguy hại,
–
một kết quả với ít nhầm lẫn hơn và ít nguy cơ và
nguy hại hơn.
Cụ thể, trên b́nh diện quốc gia, cần tiến
hành các sách lược sau đây:
1.
Thiết lập một cơ quan chủ quản về an toàn bệnh nhân.
Nhiệm vụ của cơ quan này là xác định một số mục tiêu quan trọng
về an toàn bệnh nhân, tiến hành nghiên cứu nhầm lẫn và an toàn
trong ngành y, theo dơi và đánh giá các số liệu báo cáo, trợ
giúp các cơ sở y tế thiết lập các hệ thống an toàn, giáo dục an
toàn cho nhân viên y tế và cho công chúng.
2.
Thiết lập hai hệ thống báo cáo, bắt buộc và tự nguyện.
Cả hai hệ thống báo cáo này đều cần thiết. Hệ thống báo cáo bắt
buộc dành cho những trường hợp nhầm lẫn y khoa gây chết người
hay thiệt hại nghêm trọng, – một, nhằm bảo đảm với công chúng là
những nhầm lẫn này được theo dơi và giải quyết – hai, nhằm
khuyến khích các cơ sở y tế cải thiện an toàn bệnh nhân để tránh
bị phạt và bị phơi bày trước công luận – ba, nhằm khiến các cơ
sở y tế phải đầu tư thêm cho an toàn bện nhân. Hệ thống báo cáo
tự nguyện nhắm vào cải thiện an toàn. Các nhầm lẫn y khoa không
gây tai hại hoặc các nhầm lẫn được coi như “xém” (near misses)
thuộc hệ thống báo cáo tự nguyện. Hệ thống báo cáo này nằm
ngoài hệ thống hành chánh, kín, không công bố trước công chúng,
và không có chế tài.
3.
Thiết lập một hành lang pháp lư để bảo vệ những người tự
nguyện báo cáo nhầm lẫn y khoa. Nhằm khuyến khích các báo cáo
tự nguyện, cần có những luật lệ chuyển trách nhiệm cá nhân
(individual liability) sang cho trách nhiệm cơ quan (enterprise
liability) và một chế độ không ai có lỗi cả (no-fault system)
như trong hệ thống bồi thường công nhân (workers' compensation)
tại Mỹ.
4.
Thiết lập các tiêu chuẩn về an toàn bệnh nhân. Các tiêu
chuẩn này nhằm thiết lập mức tối thiểu về an toàn giữa các cơ sở
y tế với nhau. Các cơ quan quản lư y tế, các hội chuyên khoa,
các trường đào tạo có thể góp phần vào việc đề xuất, chọn lọc và
giảng dạy các tiêu chuẩn nàỵ Đồng thời, các tiêu chuẩn về an
toàn bệnh nhân này cần đươc phổ biến rộng răi trong công chúng
để khi bệnh nhân vào viện, họ biết đâu là những điều tối thiểu
về an toàn mà bệnh viện phải thực hiện.
5.
Thiết lập hệ thống an toàn trong các cơ sở y tế. Đây là
khâu mà tất cả các biện pháp trên đều thể hiện trực tiếp và là
khâu quan trọng nhất.
Một, cần có sự
lănh đạo. An toàn bệnh nhân phải nằm trong nhiệm vụ mục đích
của cơ sở y tế. Tất cả mọi người đều xem an toàn bệnh nhân là
trách nhiệm của chính ḿnh. Lănh đạo cần phân công, phân nhiệm
rơ ràng về an toàn bệnh nhân, đồng thời bảo đảm đủ nhân lực và
tài lực cho hệ thống an toàn bệnh nhân.
Hai, cần tôn
trọng những giới hạn của con người trong thiết kế an toàn, chẳng
hạn không nên dựa quá mức vào trí nhớ hoặc sự tỉnh táo cuả nhân
viên y tế. Đơn giản và tiêu chuẩn hóa các quy tŕnh và luôn lấy
an toàn bệnh nhân là mục tiêu trong thiết kế.
Ba, khuyến
khích các toán làm việc chung với nhau. Huấn luyện những người
làm việc chung trong một quy trinh, đồng thời để cho bệnh nhân
tham dư trong quá tŕnh thiết kế và chăm sóc v́ bệnh nhân thường
có những cái nh́n mà nhân viên y tế không thấy được.
Bốn, dự đoán
chuyện không ngờ. Thực hiện các biện pháp chủ động trước, chẳng
hạn phân tích hậu quả của sự cố (Failure mode and effects
analysis – FMEA).
Năm, thiết lập
một môi trường học tập, khuyến khích báo cáo các nhầm lẫn và
nguy hại, chống lại các trù dập, thông tin thông suốt và học hỏi
từ những nhẫm lẫn.
Đă đến lúc bệnh nhân không thể chấp nhận
sự thiếu an toàn tại các cơ sở y tế cũng như ngành y không thể
làm ngơ được nữa.
Huỳnh Tấn Tài
Đại Học Illinois tại Chicago (UIC)
Chicago, Illinois
và
Ủy Ban Liên Hợp Kiểm Định Các Cơ Sở Y Tế (JCAHO)
Oakbrook Terrace, Illinois
Tài liệu
1.
http://www.laodong.com.vn/new/xahoi/index.html
2.
Institue of Medicine: To Err Is Human. Building a Safer
Health System. NAP; Washington, DC (2000)
3.
Marais K, Durac N, Leveson N: Beyond Normal Accidents and
High Reliability Organizations: The Need for an Alternative
Approach to Safety in Complex Systems. MIT internal report;
March 24, 2004.
4.
Nadzam DM, Atkins M, Waggoner DM, Shonk R: Cleveland
Clinic Health System: A Comprehensive Framework for a Health
System Patient Safety Initiative. Q Manage Health Care; 14
(2):80-90, 2005
|