Y học thực chứng và vắc-xin pḥng chống cúm gia cầm H5N1
Hoạt cảnh
Bạn làm việc tại một trung tâm y tế có
đông người Việt. Một bác sĩ thường trú trẻ đến hỏi ư kiến bạn
về hiệu quả và tính an toàn của vắc-xin pḥng chống cúm gia cầm
H5N1 v́ bệnh nhân Việt nam của cô ta muốn được chích ngừa trước
khi về thăm Việt nam. Bạn đề nghị bác sĩ này nên tra cứu vấn đề
qua hệ thống Ovid của trường và viết bản tóm tắt một trang những
điều mà cô phân tích được. Bạn hẹn gặp cô bác sĩ này ngày hôm
sau tại bữa ăn trưa ở trường. Sau đây là bản phân tích.
Câu hỏi tra cứu (Research question):
Trong một quần thể người lớn, hiệu quả và
tính an toàn của vắc-xin pḥng chống cúm gia cầm H5N1, so với
placebo, ra sao? (In a population of adults, how effective and
how safe is the influenza H5N1 vaccine, relative to placebo?)
Loại câu hỏi tra cứu (Type of
question):
Điều trị.
Cơ sở dữ liệu (Database):
MEDLINE qua trung gian hệ thống Ovid của
trường.
Từ tra cứu (Key terms):
H5N1, vaccine.
Nguồn (Source):
Treanor JJ, Campbell JD, Zangwill KM, et
al. Safety and Immunogenicity of an Inactivated Virion Influenza
A (H5N1) Vaccine. N Engl J Med 2006;354:1343-51.
Tính thực của các dữ liệu lâm sàng
(Clinical data validity):
Đây là một thực nghiệm lâm sàng ngẫu
nhiên và mù đôi (randomized, double-blind clinical trial). Nhân
viên y tế tiêm chích vắc-xin cho bệnh nhân không biết kết quả
xét nghiệm và cũng không tham dự vào việc đánh giá các dữ liệu;
ống chích được che. Các bệnh nhân được theo dơi đầy đủ trong
khoảng thời gian 56 ngày. Điểm cuối (end point) là luợng kháng
thể kháng H5N1 tăng 4 lần so với lúc ban đầu. Các bệnh nhân
được phân tích trong nhóm bệnh đă được phân phối ngẫu nhiên lúc
ban đầu (intent-to-treat analysis). Ngoài ra, các nhóm bệnh
nhân có các đặc tính tương đồng lúc bắt đầu thực nghiệm.
Tính quan trọng của các dữ liệu lâm
sàng (Clinical data importance):
Chỉ có nhóm bệnh nhân dùng liều 90
micrograms là có phản ứng kháng thể tăng 4 lần ở ngày thứ 28 sau
liều tiêm thứ hai.
84% các báo cáo phản ứng được đánh giá là
nhẹ. Phản ứng tại chỗ tiêm thường là đau, và thấy nhiều hơn với
liều cao. Không có khác biệt lớn về biến chứng giữa lần tiêm
chích 1 và lần tiêm chích 2.
|
Kết quả đối với
liều 90 micrograms |
|
Control Event Rate (on
placebo)
(CER) |
Experimental Event Rate
(on vaccine) (EER) |
Relative benefit
increase
(RBI=|EER-CER|/CER) |
Absolute benefit
increase
(ABI=|EER-CER|) |
Number needed to treat
(NNT=1/ABI) |
|
0% |
56% |
(56%-0%)/0% = ¥ |
56%-0% = 56% |
1/56% = 2 |
|
Khoảng tin cậy 95% |
44% to 68% |
2 to 3 |
Experimental Event = dữ kiện thực nghiệm,
ở đây là tiêm chích vắc-xin.
Control Event = dữ kiện đối chứng, ở đây
là placebo.
Relative benefit increase = phần trăm
tăng lợi ích tương đối.
Absolute benefit increase = phần trăm lợi
ích tuyệt đối.
Number needed to treat = số bệnh nhân cần
điều trị.
Tính áp dụng của các dữ liệu lâm sàng
(Clinical data applicability):
Đây là giai đoạn II (phase II) của thực
nghiệm lâm sàng, nhằm xác định liều tối ưu cho vắc-xin. Nếu
giai đoạn III cũng tiến triển suông sẽ như vậy và không có biến
chứng nghiêm trọng bất ngờ xảy ra, và nhà sản xuất đáp ứng các
yêu cầu, rất có nhiều khả năng Cục thực phẩm và thuốc (Food and
Drug Administration – FDA) sẽ cho phép lưu hành loại vắc-xin này
theo đúng chỉ định, liều, cách thức tiêm và thời gian tiêm.
Xét lại (Revision):
6 tháng.
Lời bàn:
1.
Để có thể áp dụng y khoa thực chứng trong lâm sàng, câu
hỏi cần phải khu trú (focused), chứ không nên tổng quát. Câu
hỏi trên, thuộc diện điều trị, gồm 4 phần: quần thể nghiên cứu
(quần thể người lớn) – thuốc thực ngiệm (vắc-xin pḥng chóng cúm
gia cầm H5N1) – đối chứng (placebo) – điểm cuối (hiệu quả và an
toàn).
2.
Muốn thực hiện y khoa thực chứng trong lâm sàng, cần có
tiếp cận cơ sở dữ liệu một cách nhanh, gọn và đầy đủ, chủ yếu
bằng đường Internet truyền băng rộng. Các cơ sở dữ liệu thương
mại thường có giao diện dễ sử dụng hơn là PubMed.
3.
Có 3 tiêu chuẩn chính và 3 tiêu chuẩn phụ để đánh giá
tính thực của các dữ liệu lâm sàng. Nếu bài báo không hội đủ
một trong ba tiêu chuẩn chính th́ bạn có thể ngưng đọc ở đây để
đi t́m bài báo khác.
Ba tiêu chuẩn
chính:
- Bệnh nhân có
được phân phối ngẫu nhiên vào các nhóm điều tri hay không?
Và danh sách phân phối ngẫu nhiên này có được giữ kín hay
không?
- Các bệnh nhân
có được theo dơi đầy đủ và khá lâu hay không?
- Các bệnh nhân
có được phân tích trong nhóm mà ḿnh được phân phối hay không?
Ba tiêu chuẩn
phụ:
- Phương pháp
trị liệu có được giữ kín đối với bệnh nhân và thày thuốc hay
không?
- Các nhóm có
được săn sóc giống nhau hay không, ngoại trừ thuốc thử nghiệm?
- Các nhóm có
tương đương với nhau hay không lúc bắt đầu thực nghiệm?
4.
Có 14 người (trên 451 bệnh nhân lúc ban đầu) không nhận
được liều vắc-xin số 2 v́ nhiều lư do. Đây có phải là một mất
mát chấp nhận được không? Một quy ước chung là tỷ lệ mất do
không theo dơi (follow-up loss) không được quá 20%.
5.
Mặc dù các tác giả có nêu lên 15 trường hợp dương tính
với xét nghiệm ức chế kết tập hồng cầu và 12 trường hợp duơng
tính với xét nghiệm vi trung ḥa (các trường họp này co thể trên
cùng một bệnh nhân dương tính với cả hai xét nghiệm), sự việc
các bệnh nhân được phân phối ngẫu nhiên trong các nhóm khác nhau
đem lại sư cân bằng về các yếu tố có thể ảnh hưởng đến tiên
lượng. Đó là lợi điểm của phân phối ngẫu nhiên so với các cách
phân phối khác.
6.
Khái niệm NNT (number needed to treat) ngày càng được phổ
biến trên y văn Mỹ, nhất là trong các bài báo có liên hệ tới lâm
sàng. NNT lúc nào cũng đi kèm với thời gian. Trong trường hợp
này, NNT là 2 bệnh nhân trong 56 ngày, nghĩa là cần chích ngừa
2 bệnh nhân bằng vắc-xin pḥng chống cúm gia cầm H5N1 để có 1
bệnh nhân đạt được độ miễn nhiễm ở ngày thứ 56. Để đánh giá xem
NNT này cở nào, ta thử xem NNT đối với các bệnh khác xem sao.
Trong bệnh đái đường, để tránh 1 trường hợp viêm thần kinh, bác
sĩ phải điều trị 15 bệnh nhân trong 6.5 năm bằng chế độ insulin
tích cực (intensive insulin therapy). Trong cơn đau thắt ngực
bất ổn (unstable angina), bác sĩ phải điều trị 29 bệnh nhân
trong 30 ngày bằng heparin phân lượng thấp
(low-molecular-weight heparin) để tránh 1 trường hợp tử
vong/nhồi máu cơ tim/tái phát cơn đau thắt ngực.
Khái niệm NNH
(number needed to harm) cũng tuơng tự, nhưng đối với biến chứng.
7.
Trong việc áp dụng các kết quả của các thực nghiệm lâm
sàng bằng y học thực chứng vào việc điều trị cho một bệnh nhân
cụ thể, một số bác sĩ thường quên hỏi xem giá trị và sở thích
(values and preferences) cuả bệnh nhân như thế nào, mà chỉ áp
đặt các kết quả này xuống bệnh nhân một cách tùy tiện. Nếu có
điều kiện, bác sĩ cần làm một phân tích quyết định lâm sàng
(clinical decision analysis), sử dụng ly thuyết về tiện ích ước
đoán (theory of expected utilities) cùng với thống kê Bayes.
Hạ màn (Resolution)
Khi bệnh nhân trở lại, bác sĩ thường trú
giải thích rằng hiện tại chưa có vắc-xin pḥng chống gia cầm
H5N1 được phép lưu hành tại Mỹ. Nhưng theo cô, tiến triển trong
thực nghiệm lâm sàng của vắc-xin này rất là triển vọng và hứa sẽ
thông báo đến bệnh nhân khi trung tâm có loại vắc-xin này.
Huỳnh Tấn Tài
Đại Học Illinois tại Chicago (UIC)
Chicago, Illinois
và
Ủy Ban Liên Hợp Kiểm Định Các Cơ Sở Y Tế (JCAHO)
Oakbrook Terrace, Illinois
Tài liệu
1.
Treanor JJ, Campbell JD, Zangwill KM, et al. Safety and
Immunogenicity of an Inactivated Virion Influenza A (H5N1)
Vaccine. N Engl J Med 2006;354:1343-51.
2.
Sackett DL, Straus SE, Richardson WS, Rosenberg W, Haynes
RB: Evidence-Based Medicine. How to Practice and Teach EBM. 2nd
ed. Churchill Livingstone; London, UK (2000).
3.
Guyatt G, Rennie D: User's Guide to the Medical
Literaturẹ A Manual for Evidence-Based Clinical Practice. AMA;
Chicao, IL (2002).
|