DẦU MÈ VÀ NƯỚC MUỐI TRONG ĐIỀU
TRỊ KHÔ NIÊM MẠC MŨI.
Bs.Nguyễn Bá Thiện
Khoa
TMH,BVĐK Khánh Ḥa
I.ĐẶT VẤN ĐỀ
Khô niêm
mạc mũi đôi khi hay gặp trong cuộc sống hàng ngày.Nhiều khi bệnh nhân rất khó
chịu nhất là cảm giác khô rát mũi.Bệnh thường do môi trường sống xung quanh gây
nên,hay gặp khi độ ẩm không khí giảm (thường dưới 5g nước/m3) như vào mùa đông
giá rét ,ở lâu trong pḥng máy lạnh ,đi máy bay đường dài,hoặc làm việc ở môi
trường khô nóng…Triệu chứng thường gặp là cảm giác khô mũi,đau mũi,ngứa
mũi,nghẹt mũi và vảy mũi.Trước đây khô mũi được điều trị với nước muối sinh lư
dùng tại chổ.Gần đây,người ta phát hiện tinh dầu mè cũng trị chứng khô mũi.Mục
đích nghiên cứu là so sánh hiệu quả điều trị của tinh dầu mè và nước muối sinh
lư trong việc điều trị khô niêm mạc mũi.
II.TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU.
1.Đối
tượng nghiên cứu.
-Tất cả
bệnh nhân đến khám tại khoa TMH ,BVĐK Khánh Ḥa và Pḥng Khám 47 Nguyễn Trăi,Nha
Trang.Bệnh nhân tự nguyện tham gia nghiên cứu sau khi đăgiải thích .Thời gian
nghiên cứu từ 10/2002 đến 8/2002.
-Chọn tất
cả bệnh nhân có dấu hiệu khô niêm mạc mũi : khô mũi,ngứa rát mũi ,nghẹt mũi ,có
vảy mũi.
-Tiêu
chí loại trừ gồm những bệnh nhân đang viêm đường hô hấp trên cấp (như cảm
lạnh,viêm xoang),viêm mũi dị ứng,vẹo vách ngăn nhiều,dị vật mũi và những bệnh
nhân đang dùng Corticoids,thuốc chống nghẹt mũi,thuốc chống dị ứng.
-Trong
quá tŕnh điều trị nếu bệnh nhân mắc phải các bệnh trên th́ được điều trị thích
hợp và không tính vào mẫu nghiên cứu.
2.Phương
pháp nghiên cứu.
-Phương
pháp nghiên cứu thử nghiệm phân nhóm ngẫu nhiên .
-Tất cả
có 81 bệnh nhân tham gia nghiên cứu ,gồm 39 nam ,42 nữ,lứa tuổi từ 7 –
67tuổi.
-Thuốc
được dùng là tinh dầu mè và nước muối sinh lư,đựng đầy trong lọ nhỏ mũi 10ml. 41
lọ chứa dầu mè ,c̣n lại 40 lọ chứa nước muối sinh lư,các lọ được trộn đều và
đánh số thứ tự từ 1 đến 81.Các lọ thuốc bề ngoài hoàn toàn giống nhau,chỉ khác
nhau số thứ tự.
-Bệnh
nhân được nhận ngẫu nhiên các lọ nhỏ mũi với tỉ lệ 1:1 theo số thứ tự trên.
3.Phương
pháp quan sát và đánh giá.
-Cách
điều trị gồm nhỏ mũi vào phía đầu vách ngăn mũi và bóp nhẹ 2 cánh mũi lại 10
giây ,với 3 giọt /lần ,4 lần / ngày. Tất cả bệnh nhân trước khi điều trị được
đánh giá mức độ bệnh qua thang điểm VAS (Visual Analogue Scale),từ 0 điểm đến
100 điểm tương ứng với từ không triệu chứng đến triệu chứng nặng nhất.Các triệu
chứng được đánh giá dựa trên sự khó chịu của bệnh nhân gồm khô mũi ,đau rát
mũi,nghẹt mũi.vảy mũi.Sau mỗi 3 ngày ,6 ngày,9 ngày, hẹn tái khám hoặc gọi qua
điện thoại để đánh giá lại số điểm .Ghi chép lại toàn bộ số điểm bệnh nhân tự
đánh giá trước và sau điều trị mỗi 3, 6, 9 ngày.
-So sánh
sự khác nhau giữa 2 nhóm bằng các phép tính Mann-Whitney U
test, Independent-Samples T test và cỡ mẫu dựa vào chương tŕnh SPSS 11.05 for
Win và Gpower 2.0.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.
-Tất
cả có 81 bệnh nhân tham gia nghiên cứu.Trong quá tŕnh tham gia không có người
nào dị ứng hoặc khó chịu với dầu mè,Có 3 người ( 2 trong nhóm dầu mè, 1 trong
nhóm nước muối) bị loại ra ,trong đó 1 đi công tác xa và 2 bị viêm mũi xoang dị
ứng.C̣n lại 78 người ( nhóm dầu mè 39 người,nhóm nước muối 39 người) đủ điều
kiện tham gia nghiên cứu. Post hoc analysis chỉ ra cỡ mẫu 78 người c̣n lại vẫn
đủ hiệu lực để quan sát sự khác nhau với Power = 0,94 tại p <0,05 (effect size
d=0,8 ; two-tailed).
-Sau 3
ngày, p =0,07 ( với Mann-Whitney U) hoặc p = 0,108 ( với Independent-samples t
test).Không có sự khác nhau có ư nghĩa giữa 2 nhóm ở mức α
=0,05.
-Sau 6
ngày ,p = 0,01 ( với Mann-Whitney U và Independent-samples t test).Có sự khác
nhau có ư nghĩa giữa 2 nhóm với mức α
=0,05 .
-Sau 9
ngày ,p = 0,00 ( với Mann-Whitney U và Independent –samples t test ) .Có sự khác
nhau có ư nghĩa giữa 2 nhóm với mức α
=0,05 .
–Mean của
nhóm dầu mè giảm hơn nhóm nước muối sinh lư với giá trị của từng cặp dầu mè-nước
muối sau mỗi 3 ngày lần lượt là 40-45 ;24-32 ;11-19.
![]()
![]()
IV.BÀN LUẬN.
-Dầu
mè lâu nay đă được dùng an toàn trong y học như dùng làm dung môi cho thuốc tiêm
bắp (Testosterone),dùng trong chụp phế quản.Dầu mè là chất trung tính,không kích
thích,gần như không mùi ,có tính ổn định và tính trơ.Nó không bị ly giăi ở phổi
như dầu mỏ,nên không bị viêm phổi lipoid. Ngoài ra, nó không có protein nên hiếm
khi dị ứng.V́ các đặc tính trên nên dầu mè được dùng an toàn cho bệnh nhân.
–Trong
quá tŕnh nghiên cứu có 1 người khô niêm mạc mũi do xạ trị điều trị K ṿm
hầu.Sau 3 ngày đầu giảm ít.đến ngày thứ 8 trở đi bệnh nhân cho biết mũi dễ chịu
hơn nhiều.Đă có công tŕnh nghiên cứu điều trị có hiệu quả với nhỏ mũi dầu mè ở
những bệnh nhân khô niêm mạc mũi do xạ trị vùng mũi .
– Tuy có
3 người bị loại nhưng cỡ mẫu 78 người c̣n lại vẫn đủ hiệu lực nghiên cứu.
–Qua kết
quả trên nhận thấy,sau 3 ngày điều trị không có sự khác nhau có ư nghĩa giữa 2
nhóm mặc dù Mean có giảm hơn so với nhóm nước muối.Giá trị trung b́nh của số
điểm VAS càng giảm th́ triệu chứng càng giảm. Sau 6 ngày có sự khác nhau có ư
nghĩa (p= 0,01) giữa 2 nhóm. Mean của nhóm dầu mè là 24 và nhóm nước muối là
32,nên nhóm dầu mè có hiệu quả hơn nhóm nước muối. Sau 9 ngày có sự khác nhau có
ư nghĩa (p= 0,00) giữa 2 nhóm.Hiệu quả của nhóm dầu mè cao hơn nhóm nước muối
với Mean lần lượt là 11 và 19.
V.TÓM
TẮT.
-Mục
đích nghiên cứu là so sánh tác dụng của nhỏ mũi dầu mè và nước muối trong điều
trị khô niêm mạc mũi.
–Một
nghiên cứu thử nghiệm phân nhóm ngẫu nhiên được thực hiện từ 10/2002 đến 8/2002,
gồm 78 người (sau khi 3 người bị loại) ,được phân thành 2 nhóm ngẫu nhiên với tỉ
lệ 1:1. Nhóm 1 được nhỏ mũi dầu mè,nhóm 2 được nhỏ nước muối sinh lư.Thuốc nhỏ
được cho vào lọ nhỏ mũi 10ml,được đánh số thứ tự từ 1 đến
81. Tất cả lọ nhỏ mũi
đều giống nhau bên ngoài, chỉ khác nhau số thứ tự.Nhỏ mũi 3giọt /lần,4 lần
/ngày.Các đặc điểm lâm sàng và tiêu chí loại trừ đều giống nhau cả 2 nhóm.Trước
khi nhỏ mũi,tất cả bệnh nhân được đánh giá mức độ bệnh qua thang điểm VAS.Sau
mỗi 3,6,9 ngày bệnh nhân hẹn tái khám hoặc gọi qua điện thoại để đánh giá lại số
điểm.
-Kết quả
nhóm dầu mè có hiệu quả hơn nhóm nước muối sinh lư sau 6 ngày (p=0,01) và 9 ngày
(p=0,00).Sau 3 ngày không có sự khác biệt có ư nghĩa giữa 2 nhóm (p=0.07).
-Kết
luận ,sau điều trị 6 ngày trở đi,hiệu quả của nhóm dầu mè hơn nhóm nước muối 1
cách có ư nghĩa.
VI. THAM KHẢO.
1.Proetz
AW.Humidity,a problem in air –conditioning.ann OtoRhinoLaryngol.1956;65:376-384.
2.Cody
DTR ,Kern EB ,Pearson BW.Disease of ear,nose and throat.Chicago ,III:Year Book
Medical Publishers Inc; 1981:220,251-253.
3.Browe
WE,Wider VM,Schwartz P.A study of oils used for intramuscular injection.J Lab
Clin Med.1944; 29:259-264.
4.Bjork-Eriksson T,gunnarson M,Holmstrom M,Nordkvist A ,Petruson B.Fewer
problems with dry nasal mucous membranes following local use of sesame
oil.Rhinology.2000;38:200-203.
30/8/2003 |