ĐẶC ĐIỂM SUY HÔ HẤP CẤP TRẺ SƠ SINH TẠI KHOA NHI - BVĐKTTTG
NĂM 2002
BS CKI Nguyễn Thành Út
Khoa Nhi – BVĐKTG
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Suy hô hấp cấp sơ sinh là một bệnh cảnh lâm sàng nặng, tỷ lệ di chứng và tử
vong cao, cần được quan tâm ở trẻ em, nhất là tại các nước đang phát triển như
nước ta.
Nguyên nhân suy hô hấp sơ sinh thường do phổi non, sanh ngạt, viêm phổi, bệnh
lư năo,tim … cùng các hậu quả do thiếu oxy như tổn thương năo, phổi, nhiễm trùng
huyết, suy tim …
Do đó, vấn đề khảo sát các trường hợp suy hô hấp sơ sinh về nguyên nhân và
những tổn thương do thiếu oxy sẽ góp phần nâng cao hiệu quả điều trị, hạn chế
các tổn thương cơ quan và cải thiện t́nh h́nh tử vong.
II. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:
Xác định bước đầu t́nh h́nh suy hô hấp sơ sinh tại khoa Nhi. Gồm: Đặc điểm
lâm sàng, nguyên nhân, phương pháp hỗ trợ hô hấp.
III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
A. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Tiêu chuẩn chọn bệnh:
Trẻ sơ sinh dưới một tháng tuổi có 01 trong 05 dấu hiệu sau:
1/. Thở nhanh ³ 60l/phút, hoặc có
cơn ngưng thở dài > 20giây.
2/ Rút lơm ngực trầm trọng.
3/. Phập phồng cánh mũi.
4/. Thở rên (grunting)
5/. Tím tái.
Tiêu chuẩn loại trừ:
Trẻ sơ sinh có dị tật nghiêm trọng như: Thai vô sọ, đa dị tật …
B. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Cắt ngang và mô tả.
C.TÍNH CỞ MẪU:
Công thức tính cở mẫu:
n= Z21 - a /2 xP x ( 1 – P ) / d2
Với độ tin cậy 95%, Z= 1,96
Tỉ lệ chênhlệch d= 7%
Tỉ lệ mắc bệnh năm 2001= 9,5%.
Vậy cở mẫu là: 68. Chúng tôi chọn
nghiên cứu 72 ca.
IV. TỔNG QUAN:
Suy hô hấp sơ sinh thường xảy ra tuần lễ đầu sau sanh, bởi trẻ cần nhanh
chóng thích nghi với môi trường bên ngoài, nhất là sự cung cấp oxy cho phổi. Có
vô số các yếu tố ảnh hưởng đến quá tŕnh này như:
Sanh non: Phổi non, năo chưa
trưởng thành, sức đề kháng yếu…
Sanh ngạt: Thiếu oxy năo và tế
bào, rối loạn chuyển hóa…
Sanh mổ: Ảnh hưởng thuốc mê, phổi
ứ đọng đàm nhớt…
Nhiễm trùng ối, hít phân xu, hạ
thân nhiệt…
- Qua kết quả nghiên cứu tử vong chu sinh 10 năm ( 1981- 1990) của tác giả Lê
Thúc Phát, Viện Bảo vệ sức khoẻ Trẻ em, có 64,14% tử vong chu sinh do suy hô hấp
cấp ( Phổi non, xẹp phổi, bệnh màng trong…), 4,34% do nhiễm trùng huyết…
Nghiên cứu 100 trẻ suy hô hấp cấp Bệnh viện Trung tâm nữ hoàng Elizabeth
Malavi từ tháng 3- 9/1998 cho thấy có 56% trẻ sanh ngạt, 38% bị thiếu oxy năo,
33% tử vong trong 6 ngày đầu tiên.
Nghiên cứu các yếu tố nguy cơ trong suy hô hấp cấp của tác giả Salaman tại
Bệnh viện Châu Đốc trong 6 tháng năm 2000, nhận thấy có 10-15% trẻ có cân nặng
dưới 2500gr bị suy hô hấp cấp, 9% do sanh mổ, 2,2% do hít phân xu.
Ở khoa nhi năm 2001, số trường hợp trẻ sơ sinh vào điều trị nội trú có 438
ca, trong đó suy hô hấp sơ sinh là 42 ca, tỉ lệ mắc bệnh là 9,5%,tử vong và
nặng xin về là 51 cas, trong đó suy hô hấp sơ sinh là 26 ca chiếm tỷ lệ 50,9%.
V. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:
Qua nghiên cứu 72 trường hợp suy hô hấp cấp trẻ sơ sinh tại Khoa Nhi, chúng
tôi thu nhận được kết quả như sau:
Giới:
Test c 2 = 121.00, p< 0,00001. Nam nhiều hơn nữ, sự khác
biệt này có ư nghĩa thống kê.
Tuổi:
- Từ 0 đến 7 ngày tuổi: 69 ca ( 95,8%)
- Trên 7 ngày đến 30 ngày: 3 ca ( 4,2%)
Test c 2 = 136, P<0,00001. Trẻ <7 ngày tuổi bị suy hô hấp
nhiều hơn trẻ > 7 ngày tuổi, sự khác biệt này có ư nghĩa thống kê.
Cân nặng:
-
Trên 3000gr : 16 ca (22,2%)
-
Dưới 2500gr : 56 ca (77,78%)
Test c 2 =44.4, p<0.00000, Trẻ dưới 2500gr suy hô hấp nhiều hơn trẻ trên
3000gr, sự khác biệt này có ư nghĩa thống kê.
- Lâm sàng:
| Lâm sàng |
Số ca |
Tỉ lệ % |
| 1.Tím tái |
70 |
97,2 |
| 2.Nhịp thở>60 lần/p |
52 |
72,2 |
| 3.Cơn ngưng thở |
40 |
55,6 |
| 4.Thở lơm ngực |
37 |
51,4 |
| 5.Thở rên |
13 |
18 |
| 6.Phập phồng cánh mũi |
11 |
15,3 |
Dấu hiệu 1,2,3,4 trong suy hô hấp sơ sinh thường gặp với độ tin cậy >95% (p<
0.0000) so với các dấu hiệu 5,6. #9;
Nguyên nhân:
1. Phổi non : 27 ca (37,5%)
2. Ngạt : 18 ca (25%)
Trong đó có:
+ Thiếu oxy năo : 11ca
+ Xuất huyết năo : 01 ca
+ Toan máu : 06 ca
3. Nhiễm trùng huyết : 14 ca
(19,4%)
4. Viêm phổi : 11 ca (15,3%)
5. Suy tim, tim bẩm sinh : 02 ca
(2,8%)
Điều trị hỗ trợ hô hấp:
Bóp bóng : 05 ca (7%)
N-CPAP : 49 ca (68%)
Oxy canunla : 18 ca (25%).
VI. BÀN LUẬN:
Qua nghiên cứu 72 trường hợp Suy hô hấp sơ sinh năm 2002 chúng tôi nhận thấy
như sau:
Trẻ suy hô hấp sơ sinh phần lớn gặp ở lứa tuổi < 7 ngày tuổi, cho thấy sự
thính nghi của trẻ trong những ngày đầu tiên có rất nhiều yếu tố nguy cơ gây
suy hô hấp. Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu khác.
Trẻ có cân nặng < 2500 gr chiếm 51,4% các trường hợp suy hô hấp, chứng tỏ
trẻ sơ sinh sanh non nhẹ kư khả năng thích nghi với môi trường tự lập kém, do
phổi chưa trưởng thành và năo chưa phát triển tốt.
Về lâm sàng: Tím tái, nhịp thở > 60 lần/phút có giá trị chẩn đoán trên 2/3
trường hợp suy hô hấp sơ sinh. Các dấu hiệu khác góp phần chẩn đoán là cơn
ngừng thở > 20 giây, rút lơm ngực. Nhận xét này phù hợp với hướng dẫn của OMS
trong chương tŕnh ARI.
Các nguyên nhân gây suy hô hấp sơ sinh nhiều nhất là trẻ sinh non nhẹ kư
(37%), kế đến là sanh ngạt (25%), Nhiễm trùng huyết sơ sinh (19,4%), Viêm phổi
(15,3%). Trong đó đáng chú ư là sanh ngạt gây rất nhiều biến chứng do thiếu
oxy năo và mô tế bào, nếu nặng sẽ tổn thương, không hồi phục góp phần gia tăng
tỷ lệ tử vong. Điều này đặt ra vấn đề quản lư thai ở các tuyến y tế và sự phối
hợp giữa Khoa Sản và Khoa Nhi trong hồi sức sơ sinh rất quan trọng, nhất là
những thai kỳ có nguy cơ cao.
Hỗ trợ hô hấp chủ yếu là N - CPAP (68%) là phương pháp điều trị hồi sức hô
hấp chủ lực trong hầu hết các trường hợp suy hô hấp trẻ sơ sinh (Trừ xuất
huyết năo, sốc giảm thể tích và tràn khí màng phổi có van).
VII. KẾT LUẬN:
Trong giai đoạn mới chào đời trẻ sơ sinh trải qua một giai đoạn thích nghi
quan trọng trong cuộc sống đầu tiên, đặt biệt là sự thích nghi hô hấp.
Qua nghiên cứu 72 trường hợp suy hô hấp sơ sinh chúng tôi nhận thấy bệnh
thường xảy ra ơ trẻ sinh non nhẹ kư, sanh ngạt. Việc phát hiện sớm dựa vào dấu
hiệu tím tái, đếm nhịp thở tăng > 60 lần/phút, kết hợp quan sát thấy trẻ thở
rút lơm ngực trầm trọmg, có cơn ngưng thở. N-CPAP là phương tiện chủ yếu trong
điều trị suy hô hấp sơ sinh.
Tuy nhiên việc nghiên cứu c̣n hạn chế như số lượng ít, chưa làm các xét
nghiệm quan trọng cho tất các trường hợp suy hô hấp như khí máu động mạch, X
quang phổi tại giường, giải phẫu bệnh … nên chưa đánh giá đầy đủ và chính xác
các nguyên nhân cũng như các tổn thương do suy hô hấp gây ra.
Trong tương lai, suy hô hấp cấp trẻ sơ sinh cần được nghiên cứu có hệ thống
và đầy đủ hơn, cũng như trang bị nhiều phương tiện hồi sức sơ sinh hiện đại
hơn, có sự kết hợp chặt chẽ giữa khoa nhi và khoa sản ngay từ những phút đầu
tiên của cuộc đời sẽ góp phần chăm sóc tốt nhất cho thế hệ mầm non của đất
nước.
VIII. TÀI LIỆU THAM KHẢO:
-
Lê Thúc Phát, Tử vong chu sinh 10
năm (1981 – 1990) qua nghiên cứu giải phẫu bệnh tại Viện Sức Khỏe Trẻ Em.
-
Kỹ năng lâm sàng điều trị sơ sinh
– Bộ Y Tế 1998
-
Y học chứng cớ điều trị nhi khoa
2000 – BV Nhi Đồng I.
-
Huỳnh Thi Duy Hương (1996), Hội
chứng suy hô hấp cấp ở trẻ sơ sinh - Bài giảng Nhi Khoa tập I - trang 225 -
295.
-
Tạ Văn Trầm(2000), Đánh giá hiệu
quả điều trị suy hô hấp bằng N – CPAP ở trẻ em.
-
Gonzalez de Dios - Factor
predictive of neurological sequenlae in term newborn infants with perinatal
asphyxia - Rev. Neuro, 2001 Feb, 1 - 15.
-
Malavi K.Witte - Acute
respiratory failure – Pediatric intensive care 1998- p95 - 97.

|