LẠI BÀN VỀ SPORT
Huỳnh Tấn Tài
Báo JAMA, bộ 296,
số 20, ra ngày 22/29 tháng 11 năm 2006 có đăng hai bài báo về
SPORT, 1,2 chữ viết tắt của Spine Patient Outcomes
Research Trial, cùng với hai bài b́nh luận 3,4 và một
bài cho bệnh nhân về thoát vị đĩa đệm thắt lưng (herniated
lumbar disks). Hai bài báo về SPORT, một là nghiên cứu đối
chứng lâm sàng (randomized controlled clinical trial) (tr.
2441-2450), một là nghiên cứu quan sát tiền cứu (prospective
observational cohort study) (tr. 2451-2466). Sở dĩ có hai loại
h́nh nghiên cứu cho một đề tài là v́ các tác giả tiên lượng
trước khó khăn của nghiên cứu đối chứng lâm sàng trong ngoại
khoa, về việc một số bệnh nhân từ chối được phân nhóm ngẫu
nhiên. Đây là một nghiên cứu thực hiện tại 13 trung tâm cột
sống ở 11 tiểu bang Hoa Kỳ trong hai năm, từ tháng 3 năm 2000
đến tháng 11 năm 2004. Mục đích của SPORT là đánh giá hiệu quả
(efficacy) của phẩu thuật, cụ thể là cắt bỏ đĩa đệm thắt lưng
theo phương pháp thông thường (open lumbar diskectomy) so với
phương cách săn sóc thông thường (usual care) ở bệnh nhân bị
thoát vị đĩa đệm thắt lưng có triệu chứng đau thần kinh tọa
(sciatica). Đánh giá hiệu quả dựa trên kết quả điều trị ở hai
nhóm triệu chứng. Nhóm triệu chứng chính bao gồm đau thể xác
(bodily pain), chức năng cơ thể (physical function) và chỉ số
mất khả năng (disability index). Nhóm triệu chứng phụ bao gồm
các mức độ về đau thần kinh tọa, hài ḷng với các triệu chứng,
t́nh trạng khả quan và t́nh trạng việc làm.
Có thể có một vài
nhận xét về công tŕnh nghiên cứu SPORT:
-
Bằng phân tích
có ư định điều trị (intent-to-treat analysis), các tác giả
kết luận rằng không có khác biệt có ư nghĩa thống kê giữa
hai phương pháp phẩu thuật và không phẩu thuật trong nhóm
triệu chứng chính. Trong nhóm triệu chứng phụ (độ đau thần
kinh tọa và diền tiến tự báo cáo), can thiệp phẩu thuật mang
lại nhiều lợi ích hơn và sự khác biệt này có ư nghĩa thống
kê. Phân tích có ư định điều trị này bao gồm 501 bệnh nhân
tại thời điểm phân nhóm ngẫu nhiên, 245 bệnh nhân cho nhóm
phẩu thuật và 256 bệnh nhân cho nhóm không phẩu thuật.
Trong hai năm theo dơi, chỉ có 140 bệnh nhân trong nhóm phẩu
thuật (60%) là được mỗ. Ngược lại, trong nhóm không phẩu
thuật, có tới 107 bệnh nhân chuyển sang mỗ (45%). Thiết kế
nghiên cứu ban đầu có dự định cở mẫu (250 bệnh nhân) đủ để
đối phó với 20% không theo dơi được, nhưng không có tính đến
sự chuyển nhóm. Chính v́ có sự chuyển nhóm so với thiết kế
ban đầu lúc phân chia ngẫu nhiên mà các tác giả rất dè dặt
trong phần kết luận “Because of the high numbers of patients
who crossed over in both directions, conclusions about the
superiority or equivalence of the treatments are not
warranted based on the intent-to-treat analysis alone.”
Nhân đây, cũng cần nói thêm là trong phân tích điều trị như
đă xảy ra (as treated analysis), phẩu thuật có phần trội hơn
không phẩu thuật tại tất cả các thời điểm theo dơi và trong
cả hai nhóm triệu chứng. Sự khác biệt này có ư nghĩa thống
kê. Tuy nhiên, phân tích điều trị như đă xảy ra có nhiều
yếu tố nhiễu (confounding factors) khiến cho kết luận khó
đáng tin cậy.
-
Phương pháp
không phẩu thuật, trong bài báo, được biết dưới tên “usual
care” bao gồm tối thiểu: vật lư trị liệu, giáo dục/cố vấn
với thực hành thể dục tại nhà và thuốc chống viêm không
steroid (NSAID). Ngoài ra, c̣n nhiều phương pháp không phẩu
thuật khác được ghi nhận. Các phương pháp không phẩu thuật
này không được chuẩn hóa trong phác đồ nghiên cứu. Nếu
trong tương lai có một phương pháp không phẩu thuật nào đặc
trị cho thoát vị đĩa đệm có đau thần kinh tọa th́ kết quả
của nghiên cứu SPORT không thể suy diễn để áp dụng một cách
máy móc được.
-
SPORT đánh giá
hiệu quả của các phương pháp điều trị dựa trên sự thay đổi
của các nhóm triệu chứng, trước và sau can thiệp. Các nhóm
triệu chứng này mang tính chủ quan. Như mọi người đều biết,
kỳ vọng của bệnh nhân đối với một phương pháp trị liệu ảnh
hưởng lên kết quả điều trị của phương pháp đó. Đó là hiện
tượng placebo. Trong phần bàn luận, các tác giả cũng đă đề
cập đến vấn đề này (Due to practical and ethical
constraints, this study was not masked through the use of
sham procedures. Therefore, any improvements seen with
surgery may include some degree of “placebo effect.”). Flum
3 đề cập tới một khuôn khổ y đức cho các phẩu
thuật giả (sham procedures) trong ngoại khoa của Hong và
Miller. Khuôn khổ này biện minh cho các phẩu thuật giả khi
nguy cơ của placebo không vượt quá ngưỡng của nguy cơ chấp
nhận được của nghiên cứu (acceptable research risk) và khi
kiến thức thu thập được từ sự nghiên cứu này rất đáng kể.
Trong thực hành
hàng ngày thực khó cho bác sĩ điều trị cố vấn cho bệnh nhân chọn
lựa giữa hai phương pháp, phẩu thuật và không phẩu thuật, cho
thoát vị đĩa đệm có đau thần kinh tọa, khi mà kết quả điều trị
của mồi phương pháp dựa trên các triệu chứng chủ quan không khác
biệt nhau lắm và mỗi phương pháp có được sự ủng hộ với trọng
lượng tương đưong (equipoise) của hai nhóm bác sĩ lâm sàng. Có
nhiều yếu tố khiến bệnh nhân chọn phương pháp này hay phương
pháp nọ, như Carragee 4 đă nêu trong bài b́nh luận,
thí dụ như tiền bạc, gia cảnh, việc làm. Có lẽ một phưong cách
tốt nhất để giúp bệnh nhân chọn phương pháp điều trị là kết hợp
các ư thích của bệnh nhân (patient’s preferences) dựa trên các
giá trị của bệnh nhân đối với mỗi kết quả (patient’s value
attributed to each outcome), kết hợp với xác suất xảy ra của mỗi
kết quả (probability of occurrence of each outcome) trong một mô
h́nh quyết định h́nh cây (tree decision analysis). Nếu phương
pháp nào có giá trị mong đợi (expected value) lớn hơn th́ chọn
phương pháp đó. Trong thực hành, kinh nghiệm của phẩu thuật
viên và các yếu tố tại chỗ của bệnh viện có trọng lượng nặng hơn
là các số liệu trong y văn. Mặt khác, phân tích độ nhạy
(sensitivity analysis), bằng cách thay đổi trị số cuả một hay
của hai biến số đồng thời, sẽ giúp cho bác sĩ và bệnh nhân thấy
được ngưỡng, tại đó một phương pháp đang thuận lợi ở dưới ngưỡng
biến thành một phương pháp nguy hiểm ở trên ngưỡng.
Huỳnh Tấn Tài
Đại Học Illinois
tại Chicago (UIC)
Chicago, Illinois
và
Ủy Ban Liên Hợp
Kiểm Định Các Cơ Sở Y Tế (JCAHO)
Oakbrook Terrace,
Illinois
-
Weinstein JN,
Tosteson TD, Lurie JD, et al.
Surgical vs
nonoperative treatment for lumbar disk herniation: the Spine
Patient Outcomes Research Trial (SPORT): a randomized trial.
JAMA. 2006;296: 2441-2450.
-
Weinstein JN,
Tosteson TD, Lurie JD, et al.
Surgical vs
nonoperative treatment for lumbar disk herniation: the Spine
Patient Outcomes Research Trial (SPORT) observational
cohort. JAMA. 2006; 296:2451-2459.
-
Flum DR.
Interpreting surgical trials with subjective outcomes.
Avoiding unSPORTsmanlike conduct. JAMA. 2006; 296:2483-2485.
-
Carragee E.
Surgical treatment of lumbar disk disorders. JAMA. 2006;296:
2485-2487.
|