|
Thế nào là một “bài báo khoa
học” ?
Bài này đã đăng
trên Tia Sáng số tháng 12/2005, nhưng không đầy đủ nội dung. Đây
là nguyên bản đầy đủ nhất của tác giả gởi cho YKHOANET.
Nguyễn Văn Tuấn
Sau khi đọc qua loạt bài chỉ dẫn cách viết một bài báo khoa
học trên trang web
www.ykhoa.net một số bạn đọc viết thư cho tôi hỏi thế nào là
một bài báo khoa học? Có bạn hỏi cụ thể: “có phải những bài báo
cáo trong các hội nghị khoa học là một bài báo khoa học không?”
Thoạt đầu tôi rất ngạc nhiên về câu hỏi này, nhưng sau khi trao
đổi với nhiều đồng nghiệp trong và ngoài nước tôi, thấy có thể
đây là một vấn đề về nhận thức, bởi vì nhiều nhà nghiên cứu vẫn
chưa phân biệt được những khác biệt và giá trị của những bài báo
trên diễn đàn khoa học quốc tế.
Báo điện tử VietnamNet số ra ngày 11/3/2004 trong bài phỏng
vấn giáo sư Đỗ Trần Cát về tiêu chuẩn mới trong việc phong chức
danh giáo sư có một trao đổi đáng chú ý như sau:
“Phóng viên: “Thực ra, đến
nay vẫn chưa có định nghĩa nào về ‘bài báo khoa học’. Vậy năm
nay, với những sửa đổi như ông nói thì quy định về "bài báo khoa
học" có gì khác?
Trả lời: Bài báo khoa học
phải là công trình khoa học chứa đựng kết quả nghiên cứu mới,
phù hợp với chuyên ngành đăng ký chức danh. Bài báo đó phải được
công bố trên một trong những tạp chí khoa học chuyên ngành quy
định. Cụ thể là:
Các tạp chí uy tín do các Hội đồng chức danh giáo sư ngành, liên
ngành lựa chọn, đề nghị thường trực Hội đồng nhà nước về chức
danh giáo sư quyết định.”
(http://vietnamnet.vn/giaoduc/vande/2004/03/54931/,
truy nhập ngày 22/11/2005)
Ở đây, trong khuôn khổ bài viết này, tôi sẽ nới rộng định
nghĩa trên và cụ thể hóa thế nào là một bài báo khoa học. Tôi
sẽ xoay quanh ba khía cạnh chính: phân loại bài báo khoa học,
tập san khoa học và cơ chế bình duyệt bài báo khoa học.
Trong hoạt động nghiên cứu khoa học, bài báo khoa học đóng một
vai trò hết sức quan trọng. Nó không chỉ là sản phẩm tri thức,
mà còn là một loại tiền tệ của giới làm khoa học, bởi vì qua đó
mà người ta có thể đánh giá khả năng chuyên môn và năng suất
khoa học của nhà nghiên cứu. Giới làm nghiên cứu khoa học nói
chung nhất trí rằng cái chỉ tiêu số 1 để đề bạt một nhà khoa học
là dựa vào số lượng và chất bài báo khoa học đã công bố trên các
tập san chuyên ngành [1]. Trên bình diện quốc gia, số lượng bài
báo khoa học là một thước đo về trình độ khoa học kĩ thuật và
hiệu suất khoa học của một nước. Chính vì thế mà tại các nước
Tây phương, chính phủ có hẳn một cơ quan gồm những chuyên gia
chuyên đo đếm và đánh giá những bài báo khoa học mà các nhà khoa
học của họ đã công bố trong năm.
Nhưng cũng giống như sản phẩm công nghệ có nhiều hình thức và
giá trị khác nhau, các bài báo khoa học cũng xuất hiện dưới
nhiều dạng khác nhau và giá trị cũng không đồng nhất. Đối với
người ngoài khoa học và công chúng nói chung, phân biệt được
những bài báo này không phải là một chuyện dễ dàng chút nào.
Thật ra theo kinh nghiệm của người viết bài này, ngay cả trong
giới khoa bảng và giáo sư đại học, có khá nhiều người vẫn chưa
biết thế nào là một bài báo khoa học nghiêm chỉnh và có lẽ vì
hiểu sai cho nên một số giáo sư đã trình bày trong lí lịch khoa
học của mình một cách thiếu chính xác, có khi khá khôi hài. Bài
viết ngắn này sẽ bàn qua về tiêu chuẩn của một bài báo khoa học.
Phần lớn những phát biểu trong bài viết này được rút ra từ kinh
nghiệm thực tế trong lĩnh vực y sinh học, và có thể không hoàn
toàn đúng cho các lĩnh vực nghiên cứu khác mà bạn đọc có thể bổ
sung thêm.
Bài báo khoa
học
Nói
một cách ngắn gọn, bài báo khoa học (tiếng Anh: “scientific
paper” hay có khi viết ngắn là paper) là một bài báo có
nội dung khoa học được công bố trên một tập san khoa học
(scientific journal) đã qua hệ thống bình duyệt (peer-review)
của tập san. Ở đây có ba vế của định nghĩa mà bài này sẽ lần
lược bàn đến: nội dung bài báo, tập san, và cơ
chế bình duyệt. Trước hết xin bàn về nội dung khoa học của
một bài báo.
Như nói trên, giá trị khoa học của một bài báo tùy thuộc một
phần lớn vào nội dung của bài báo. Bởi vì báo cáo khoa hoc xuất
hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, giá trị của chúng cũng
không nhất thiết đồng nhất. Sau đây là một số bài báo khoa học
thông thường và tôi xếp loại theo thang giá trị (cao nhất đến
thấp nhất).
Thứ nhất là những bài báo mang tính cống hiến nguyên thủy
(original contributions). Đây là những bài báo khoa học nhằm
báo cáo kết quả một công trình nghiên cứu, hay đề ra một phương
pháp mới, một ý tưởng mới, hay một cách diễn dịch mới. Có khi
một công trình nghiên cứu có thể có nhiều phát hiện mới, và cần
phải có nhiều bài báo nguyên thủy để truyền đạt những phát hiện
này. Một công trình nghiên cứu lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên
(randomized clinical trials) hay một công trình dịch tễ học lớn
có thể có đến hàng trăm bài báo nguyên thủy.
Cống hiến mới cho khoa học không chỉ giới
hạn trong phát hiện mới, mà có thể bao gồm cả những phương pháp
mới để tiếp cận một vấn đề cũ, hay một cách diễn dịch mới cho
một phát hiện xa xưa. Do đó các bài báo khoa học ở dạng này
cũng có thể xem là những cống hiến nguyên thủy. Tất cả những
bài báo này đều phải qua hệ thống bình duyệt một cách nghiêm
chỉnh.
Tất
cả các bài báo thể hiện những cống hiến nguyên thủy, trên nguyên
tắc, đều phải thông qua hệ thống bình duyệt trước khi được công
bố. Một bài báo không hay chưa qua hệ thống bình duyệt chưa thể
xem là một “bài báo khoa học”.
Thứ hai là những bài báo nghiên cứu ngắn, mà tiếng Anh
thường gọi là “short communications”, hay “research letters”,
hay “short papers”, v.v... Đây là những bài báo rất ngắn (chỉ
khoảng 600 đến 1000 chữ, tùy theo qui định của tập san) mà nội
dung chủ yếu tập trung giải quyết một vấn đề rất hẹp hay báo cáo
một phát hiện nhỏ nhưng quan trọng. Những bài báo này vẫn phải
qua hệ thống bình duyệt nghiêm chỉnh, nhưng mức độ rà soát không
cao như các bài báo cống hiến nguyên thủy. Cần phải nói thêm ở
đây là phần lớn những bài báo công bố trên tập san Nature
(một tập san uy tín vào hàng số 1 trong khoa học) là “Letters”,
nhưng thực chất đó là những bài báo nguyên thủy có giá trị khoa
học rất cao, chứ không phải những lá thư thông thường.
Thứ ba là những báo cáo trường hợp (case reports). Trong
y học có một loại bài báo khoa học xuất hiện dưới dạng báo cáo
trường hợp, mà trong đó nội dung xoay quanh chỉ một (hay một số
rất ít) bệnh nhân đặc biệt. Đây là những bệnh nhân có những
bệnh rất hiếm (có thể 1 trên hàng triệu người) và những thông
tin như thế cũng thể hiện một sự cống hiến tri thức cho y học.
Những báo cáo trường hợp này cũng qua bình duyệt, nhưng nói
chung không khó khăn như những bài báo nguyên thủy.
Thứ tư là những bài điểm báo (reviews). Có khi các tác giả
có uy tín trong chuyên môn được mời viết điểm báo cho một tập
san. Những bài điểm báo không phải là những cống hiến nguyên
thủy. Như tên gọi (cũng có khi gọi là perspective papers) bài
điểm báo thường tập trung vào một chủ đề hẹp nào đó mà tác giả
phải đọc tất cả những bài báo liên quan, tóm lược lại, và bàn
qua về những điểm chính cũng như đề ra một số đường hướng nghiên
cứu cho chuyên ngành. Những bài điểm báo thường không qua hệ
thống bình duyệt, hay có qua bình duyệt nhưng không nghiêm chỉnh
như những bài báo khoa học nguyên bản.
Thứ năm là những bài xã luận (editorials). Có khi tập san
công bố một bài báo nguyên thủy quan trọng với một phát hiện có
ý nghĩa lớn, ban biên tập có thể mời một chuyên gia viết bình
luận về phát hiện đó. Xã luận cũng không phải là một cống hiến
nguyên thủy, do đó giá trị của nó không thể tương đương
với những bài báo nguyên thủy. Thông thường, các bài xã
luận không qua hệ thống bình duyệt, mà chỉ được ban biên tập đọc
qua và góp vài ý nhỏ trước khi công bố.
Thứ sáu là những thư cho tòa soạn (letters to the editor).
Nhiều tập san khoa học dành hẳn một mục cho bạn đọc phản hồi
những bài báo đã đăng trên tập san. Đây là những bài viết rất
ngắn (chỉ 300 đến 500 chữ, hay một trang -- tùy theo qui định
của tập san) của bạn đọc về một điểm nhỏ nào đó của bài báo đã
đăng. Những thư này thường phê bình hay chỉ ra một sai lầm nào
đó trong bài báo khoa học đã đăng. Những thư bạn đọc không phải
qua hệ thống bình duyệt, nhưng thường được gửi cho tác giả bài
báo nguyên thủy để họ đáp lời hay bàn thêm. Tuy nói là thư bạn
đọc, nhưng không phải thư nào cũng được đăng, nếu không nêu được
vấn để một cách súc tích và có ý nghĩa.
Và sau cùng là những bài báo trong các kỉ yếu hội nghị.
Trong các hội nghị chuyên ngành, các nhà nghiên cứu tham dự hội
nghị và muốn trình bày kết quả nghiên cứu của mình thường gửi
bài báo để đăng vào kỉ yếu của hội nghị. Có hai loại bài báo
trong nhóm này: nhóm 1 gồm những bài báo ngắn (proceedings
papers), và nhóm 2 gồm những bản tóm lược (abstracts).
Những bài báo xuất hiện dưới dạng “proceeding papers” thường
ngắn (khoảng 5 đến 10 trang), mà nội dung chủ yếu là báo cáo sơ
bộ những phát hiện hay phương pháp nghiên cứu mới. Tùy theo hội
nghị, đại đa số những bài báo dạng này không phải qua hệ thống
bình duyệt, hay có qua nhưng cũng không nghiêm chỉnh như hệ
thống bình duyệt của những bài báo nguyên thủy. Cần nhấn mạnh
rằng đây không phải là những bài báo khoa học bởi vì chúng chưa
xuất hiện trên các tập san khoa học và qua bình duyệt nghiêm
chỉnh.
Các bản tóm lược, như tên gọi, thực chất là những bản tin khoa
học ngắn (chỉ dài từ 250 chữ đến 500 chữ) mà nội dung là tóm tắt
một công trình nghiên cứu. Những bản tin này cũng không qua hệ
thống bình duyệt. (Thực ra, không ai có thể thẩm định một công
trình nghiên cứu với 250 hay 500 chữ!) Vả lại, một hội nghị
chuyên môn có khi nhận đến 5000 bài tóm lược, cho nên ban tổ
chức không thể có đủ người để làm công việc bình duyệt bài vở
một cách kĩ lưỡng và có hệ thống. Phần lớn, nếu không muốn nói
là 100%, các bài tóm lược đều được chấp nhận cho in trong các kĩ
yếu của hội nghị. Một lí do để chấp nhận tất cả các bài tóm
lược là ban tổ chức muốn có nhiều người dự hội nghị (nhiều người
tham dự cũng có nghĩa là tăng thu nhập cho ban tổ chức) cho nên
họ không muốn từ chối một bài báo nào.
Tập san khoa
học và hệ số ảnh hưởng
Trong hoạt động khoa bảng, các tập san khoa học là những tờ báo
xuất bản định kì, có thể là mỗi tuần một lần, mỗi tháng, hay mỗi
3 tháng, thậm chí hàng 6 tháng một lần. Mục tiêu chính của các
tập san khoa học là chuyên chở thông tin đến giới nghiên cứu
khoa học nhằm từng bước phát triển khoa học. Các tập san khoa
học còn là những diễn đàn khoa học để giới khoa học có cùng
chuyên môn trao đổi và học hỏi với nhau. Phần lớn các tập san
khoa học rất chuyên sâu về một bộ môn khoa học như American
Heart Journal (chuyên về tim), American Journal of
Epidemiology (dịch tễ học), Bone (xương), Blood
(máu), Neurology (thần kinh học) … nhưng một số tập
san như Science, Nature, Proceedings of the
National Academy of Science USA … công bố tất cả nghiên cứu
từ bất cứ bộ môn khoa học nào.
Trên thế giới ngày nay, có khoảng 3000 tập san y sinh học được
công nhận, và con số vẫn tăng mỗi năm. (Được công nhận ở đây có
nghĩa là được nằm trong danh sách của tổ chức Index Medicus).
Tiêu chuẩn mà các tập san này dựa vào để công bố hay không công
bố một bài báo khoa học cũng rất khác nhau. Một số tập san như
Science, Nature, Cell, hay Physical Reviews
chỉ công bố những bài báo khoa học mà ban biên tập cho rằng thể
hiện những cống hiến cơ bản, những phát hiện quan trọng, hay
những phương pháp mới có tiềm năng ứng dụng rộng rãi trong cộng
đồng khoa học. Do đó, các tập san này từ chối công bố hầu hết
các bài báo khoa học gửi đến cho họ. Theo một báo cáo gần đây
các tập san này chỉ công bố khoảng 1% những bài báo họ nhận được
hàng năm. Nói cách khác, họ từ chối khoảng 99% bài báo. Trong
y học, các tập san hàng đầu như New England Journal of
Medicine, Lancet, và JAMA từ chối khoảng 95%
các bài báo gửi đến, và chỉ công bố những bài báo quan trọng
trong y khoa.
Giá trị khoa học của một bài báo do đó không chỉ tùy thuộc vào
nội dung, mà tập san công bố cũng đóng một vai trò quan trọng.
Chẳng hạn như trong y học một bài báo trên các tập san lớn như
New England Journal of Medicine (NEJM) hay Lancet
có giá trị hơn hẳn một bài báo trên các tập san y học của Pháp
hay Singapore Medical Journal. Điều này đúng bởi vì
những công trình nghiên cứu quan trọng thường được công bố trên
các tập san lớn và có nhiều người đọc, nhưng quan trọng hơn hết
là những tập san này có một hệ thống bình duyệt nghiêm túc.
Uy
tín và giá trị của một tập san thường được đánh giá qua hệ số
ảnh hưởng (Impact Factor hay IF). IF được tính toán
dựa vào số lượng bài báo công bố và tổng số lần những bài báo đó
được tham khảo hay trích dẫn (citations). Theo định nghĩa hiện
hành, IF của một tập san trong năm là số lần tham khảo
trung bình các bài báo được công bố trên tập san trong vòng 2
năm trước [2]. Chẳng hạn như trong 2 năm 1981 và 1982, Tập san
Lancet công bố 470 bài báo khoa học nguyên thủy; trong
năm 1983 có 10.011 bài báo khác trên các tất cả các tập san (kể
cả Lancet) có tham khảo hay trích dẫn đến 470 bài báo đó;
và hệ số IF là 10.011 / 470 = 21,3. Nói cách khác, tính trung
bình mỗi bài báo nguyên thủy trên tờ Lancet có khoảng 21 lần
được tham khảo đến hay trích dẫn.
Vì
yếu tố thời gian của việc tính toán, cho nên hệ số IF cũng thay
đổi theo thời gian và cách xếp hạng tập san cũng thay đổi theo.
Chẳng hạn như vào thập niên 1990s British Medical Journal
từng nằm trong nhóm các tập san hàng đầu trong y học, nhưng đến
đầu thế kỉ 21 tập san này bị xuống cấp nghiêm trọng. Trong y
sinh học, có một số tập san y học thuộc vào hàng “top 10” như
sau (theo số liệu năm 2003): Annual review of immunology.
(52,28), Annual review of biochemistry (37,65), Physiological
reviews (36,83), Nature reviews Molecular cell biology (35,04),
New England Journal of Medicine (34,83), Nature reviews Cancer
(33,95), Nature (30,98), Nature medicine (30,55), Annual review
of neuroscience (30,17), Science (29,16), Cell (26,63), Nature
genetics (26,49), Lancet (18,32), Journal of clinical
investigation (14,30), v.v… (Chi tiết có thể tham khảo trong
bản thống kê phía dưới bài viết).
Do
đó, tập san nào có hệ số IF cao cũng được hiểu ngầm là có uy tín
cao và ảnh hưởng cao. Công bố một bài báo trên tập san có hệ số
IF cao có thể đồng nghĩa với mức độ quan trọng và tầm ảnh hưởng
của bài báo cũng cao. Xin nhấn mạnh là “có thể” mà thôi, bởi vì
qua cách tính vừa trình bày trên, IF là chỉ số phản ánh ảnh
hưởng của một tập san, chứ không đo lường hệ số ảnh hưởng phải
một bài báo cụ thể nào. Một bài báo trên một tập san có hệ số
IF thấp nhưng có thể được trích dẫn nhiều lần. Chẳng hạn như
một bài báo viết về một phương pháp phân tích thống kế trong di
truyền học công bố trên tập san Behavior Genetics (với
IF thấp hơn 2), nhưng được trích dẫn và tham khảo hơn 10.000 lần
trong 20 năm sau đó!
Khiếm khuyết của hệ số IF đã được nêu lên khá nhiều lần trong
quá khứ [3,4]. Ngay cả người sáng lập ra hệ số IF cũng thú nhận
những thiếu sót của hệ số này. Một số bộ môn khoa học có xu
hướng (hay truyền thống) công bố ra nhiều bài báo ngắn, hay đơn
thuần là họ có truyền thống trích dẫn lẫn nhau, thậm chí tự mình
trích dẫn mình! Có nhiều nhà khoa học trích dẫn hay liệt kê
những bài báo mà họ hoặc là không hay chưa đọc (nhưng chỉ trích
dẫn theo sự trích dẫn của người khác, đây là một vi phạm khoa
học). Ngoài ra, những bộ môn nghiên cứu lớn (như y khoa chẳng
hạn) có nhiều nhà nghiên cứu và con số bài báo cũng như chỉ số
trích dẫn cũng tăng theo. Nói một cách ngắn gọn, con số thống
kê bài báo và chỉ số trích dẫn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố
ngoại vi hơn là chất lượng khoa học. Cũng không loại trừ khả
năng những công trình nghiên cứu tồi, sai lầm vẫn được nhiều
người nhắc đến và trích dẫn (để làm gương cho người khác). Phần
lớn những bài báo được trích dẫn nhiều lần là những bài báo liên
quan đến phương pháp, hay thuộc loại điểm báo. Nhiều nghiên cứu
“tốt”, có chất lượng thường đi trước thời gian, và người ta chỉ
hiểu rõ giá trị của chúng sau nhiều năm sau khi công bố.
Dù bíết rằng hệ số IF có nhiều khiếm khuyết như thế, nhưng hiện
nay chúng ta chưa có một hệ thống nào công bằng và tốt hơn để
thẩm định chất lượng một tập san. Cho nên, hệ số IF vẫn được sử
dụng như là một thước đo chất lượng, với một sự dè dặt và cẩn
thận cần thiết.
Cơ chế bình
duyệt
Để hiểu cơ chế bình duyệt, tôi xin nói sơ qua về qui trình công
bố một bài báo khoa học như sau. Sau khi tác giả gửi bản thảo
của bài báo đến một tập san chuyên môn, tổng biên tập
(Editor-in-Chief) hay phó tổng biên tập (Associate Editors) của
tập san sẽ xem lướt qua bài báo và quyết định bài báo có xứng
đáng được gửi ra ngoài để bình duyệt hay không. Nếu không xứng
đáng, tổng biên tập sẽ báo ngay (trong vòng 1 tháng) cho tác giả
biết là bài báo không được bình duyệt. Nếu thấy bài báo có giá
trị và cần được bình duyệt, tổng biên tập sẽ gửi bản thảo cho 3
(hoặc có khi 4) người bình duyệt.
Những người bình duyệt là những chuyên gia, giáo sư có cùng
chuyên môn với tác giả và am hiểu về vấn đề mà bài báo quan tâm.
Tác giả sẽ không biết những người này là ai, nhưng những người
bình duyệt thì biết tác giả là ai vì họ có toàn bộ bản thảo!
Những người bình duyệt sẽ đọc và đánh giá bài báo dựa theo những
tiêu chí thông thường như mục tiêu nghiên cứu có đem lại cái gì
mới không, phương pháp nghiên cứu có thỏa đáng hay không, kết
quả đã được phân tích bằng các phương pháp thích hợp hay không,
trình bày dữ kiện có gọn gàng và dễ hiểu hay không, phần thảo
luận có diễn dịch “quá đà” hay không, phần tham khảo có đầy đủ
hay không, ngôn ngữ bài báo và văn chương có chuẩn hay không,
v.v. và v.v. Nói tóm lại là họ xem xét toàn bộ bài báo, và viết
báo cáo cho tổng biên tập. Họ có thể đề nghị tổng biên tập nên
chấp nhận hay từ chối đăng bài báo. Tuy quyết định cuối cùng là
của tổng biên tập, nhưng thông thường chỉ một người bình duyệt
đề nghị từ chối bài báo thì số phận bài báo coi như “đã rồi”.
Giai đoạn này tốn khoảng 1 đến 4 tháng.
Sau khi đã nhận được báo cáo của người bình duyệt, tổng biên tập
sẽ chuyển ngay cho tác giả. Tùy theo đề nghị của những người
bình duyệt, tổng biên tập có thể cho tác giả một cơ hội để phản
hồi những phê bình của người bình duyệt, hay từ chối đăng bài.
Nếu có cơ hội phản hồi, tác giả phải trả lời từng phê bình
một của từng người bình duyệt. Bài phản hồi phải được viết
như một báo cáo, và tất cả những thay đổi trong bài báo tác giả
phải báo cho tập san biết. Giai đoạn này tốn từ 1 đến 3 tháng.
Sau khi nhận được phản hồi của tác giả, tổng biên tập và ban
biên tập có thể quyết định chấp nhận hay từ chối bài báo. Nếu
bài phản hồi không trả lời tất cả phê bình, hay trả lời không
thỏa đáng, tổng biên tập có thể từ chối đăng bài ngay mà không
cần gửi cho người bình duyệt xem lại. Nếu bài phản hồi cần xem
xét lại tổng biên tập sẽ gửi cho những người bình duyệt xem lại
một lần nữa và tác giả có khi phải phản hồi một lần sau cùng.
Giai đoạn này cũng tốn từ 1 đến 3 tháng.
Nói chung một bài báo từ lúc nộp bài cho đến lúc xuất hiện trên
mặt giấy – nếu mọi bình duyệt và phản hồi đều trôi chảy – tốn
khoảng 9 tháng đến 12 tháng. Bởi vì thời gian quá lâu như thế,
cho nên một số tác giả có khi quyết định tự công bố trước dưới
dạng sơ bộ (còn gọi là “pre-print”) để chia sẻ với đồng nghiệp.
Ngày nay, với sự tiến bộ phi thường của công nghệ thông tin và
internet, nhiều tập san đã có thể công bố ngay bài báo trên hệ
thống internet (trước khi in) nếu bài báo đã qua bình duyệt và
được chấp nhận cho công bố. Một số tập san còn hoạt động hoàn
toàn trên hệ thống internet mà không phải qua hình thức in ấn gì
cả.
Cơ chế bình duyệt là một cơ chế có mục đích chính là thẩm định
và kiểm tra các bài báo khoa học trước khi chấp nhận cho công bố
trên một tập san khoa học. Cơ chế này còn được ứng dụng trong
việc duyệt những đơn xin tài trợ cho nghiên cứu tại các nước Tây
phương. Tuy một cơ chế bình duyệt như thế không phải hoàn toàn
vô tư và hoàn hảo, nhưng nó là một cơ chế tốt nhất hiện nay mà
giới khoa học đều công nhận.
Như trình bày trên, cơ chế bình duyệt có mục đích chính là đánh
giá và kiểm tra các bài báo khoa học trước khi chấp nhận cho
công bố trên một tập chí khoa học. Cơ chế này còn được ứng dụng
trong việc duyệt những đơn xin tài trợ cho nghiên cứu. Qua cơ
chế này mà tập san có thể ngăn chận những cặn bã, rác rưởi khoa
học, và giúp cho tập san hay các cơ quan cung cấp tài trợ đi đến
một quyết định công bằng. Trên nguyên tắc, đây là một cơ chế
hay và công bằng, bởi vì những người duyệt bài hay công trình
nghiên cứu là những người có cùng chuyên môn, họ chính là những
người có thẩm quyền và khả năng đánh giá chất lượng của công
trình nghiên cứu. Nhưng nhà khoa học cũng chỉ là những người có
tình cảm và thiên kiến, cũng là những người chịu sự chi phối của
các nhu cầu tất yếu, cũng cạnh tranh, cho nên kết quả duyệt bài
khoa học không phải lúc nào cũng hoàn toàn khách quan. Rất
nhiều người từng trải qua cái cơ chế này cho rằng đó là một hệ
thống không hoàn chỉnh và có khi thiếu công bằng. Tuy nhằm mục
đích ngăn chận rác rưởi khoa học, nhưngcơ chế kiểm duyệt bài vở
không thể (hay ít khi nào) phát hiện những lỗi lầm mang tính cố
ý lường gạt (như giả tạo số liệu chẳng hạn), bởi vì chức năng
của cơ chế này không làm việc đó. Do đó, đối với một số nhà
khoa học, cơ chế bình duyệt là một cách làm việc vô bổ và vô giá
trị [5,6]. Nhưng vấn đề thực tế là ngoài cơ chế bình duyệt đó,
chưa có cơ chế nào tốt hơn! Và vì thế, chúng ta vẫn phải dựa
vào cơ chế này để đánh giá một bài báo khoa học.
Ý nghĩa xã
hội của bài báo khoa học
Đọc đến đây, tôi hi vọng bạn đọc
đã hiểu được thế nào là một bài báo khoa học. Xin nhắc lại để
nhấn mạnh: một bài báo chỉ khi nào được xem là “bài báo khoa học”
nếu nó đã qua cơ chế bình duyệt và được công bố trên một tập san
chuyên môn. Những bài báo xuất hiện dưới dạng
“abstracts” hay thậm chí “proceedings” không thể xem là những
bài báo khoa học bởi vì nó không đáp ứng được hai yêu cầu trên.
Thế nhưng trong thực tế đã có rất nhiều nhà khoa học, kể cả ở
trong nước, có lẽ do hiểu lầm đã liệt kê những “abstracts” và
“proceedings” như là những bài báo khoa học trong lí lịch khoa
học của họ! Đối với nhiều người không am hiểu hoạt động khoa
học thì những ngộ nhận này chẳng ảnh hưởng gì to lớn, nhưng đối
với giới làm nghiên cứu khoa học nghiêm chỉnh, một lí lịch khoa
học với toàn những “bài báo khoa học” như thế cho biết nhiều về
tác giả hơn là khả năng nghiên cứu khoa học của tác giả.
Trên bình diện quốc gia, công bố báo cáo khoa học trên các diễn
đàn khoa học quốc tế là một cách không chỉ nâng cao sự hiện diện,
mà còn nâng cao năng suất khoa học, của nước nhà. Ở phương Tây
người ta thường đếm số lượng bài báo khoa học mà các nhà khoa
học công bố trên các tập chí khoa học để đo lường và so sánh
hiệu suất khoa học giữa các quốc gia. Hiện nay, trong bất cứ
lĩnh vực nào, phải nhìn nhận một thực tế là hiệu suất khoa của
nước ta chưa cao. Phần lớn các công trình nghiên cứu tại nước
ta chỉ được kết thúc bằng những buổi nghiệm thu hay luận án.
Đối với hoạt động khoa học, cho dù công trình đã được nghiệm thu
hay đưa vào luận án tiến sĩ hay thạc sĩ , nếu chưa được công bố
trên các diễn đàn khoa học quốc tế thì công trình đó coi như
chưa hoàn tất, bởi vì nó chưa qua “thử lửa” với môi trường rộng
lớn hơn.
Theo tác giả Phạm Duy Hiển (Tạp chí Tia Sáng số Tháng 6
năm 2005) trong năm 2003, các nhà khoa học Việt Nam đã công bố
trên 7000 bài báo trên các tạp chí hay tập san khoa học trong
nước. Con số này rất ư là ấn tượng, song đó chỉ là những bài
báo “ta viết cho ta đọc” chứ trên trường quốc tế thì sự hiện
diện của các nhà khoa học Việt Nam còn rất khiêm tốn. Vẫn theo
tác giả Phạm Duy Hiển, trong năm 2001 các nhà khoa học Việt Nam
chỉ công bố được 354 bài báo khoa học trên các tập san quốc tế,
mà 71% con số này là do cộng tác với các nhà khoa học ngoài Việt
Nam. Trong ngành y khoa, trong suốt 40 năm qua (tính từ 1965)
các nhà khoa học tại Việt Nam chỉ có khoảng 300 bài báo trên các
tập san y sinh học quốc tế. Đó là những con số cực kì khiêm tốn,
khi so sánh với Thái Lan (5000 bài) hay Singapore (20.000 bài).
Như
đã có lần phát biểu, một công trình nghiên cứu thường được tài
trợ từ tiền bạc của người dân. Khi tiến hành nghiên cứu, nhà
nghiên cứu có khi phải nhờ đến sự tham gia của tình nguyện viên
hay của bệnh nhân. Nếu một công trình nghiên cứu đã hoàn tất mà
kết quả không được công bố, thì công trình nghiên cứu đó có thể
xem là có vấn đề về y đức và đạo đức khoa học, và nhà nghiên cứu
có thể xem như chưa hoàn thành nghĩa vụ của mình với sự đóng góp
của người dân. Do đó, báo cáo khoa học trên các diễn đàn khoa
học quốc tế là một nghĩa vụ của nhà nghiên cứu, là một
cách gián tiếp cám ơn sự đóng góp của bệnh nhân và giúp đỡ của
dân chúng qua sự quản lí của nhà nước.
Trong quá trình hội nhập thế giới, xã hội có quyền đòi hỏi nhà
khoa học nước ta phải có tầm vóc và đứng vững trên trường khoa
học quốc tế. Đã đến lúc chúng ta phải đặt ra những tiêu chuẩn
nghiêm túc mà quốc tế đã và đang sử dụng để thẩm định thành tích
nghiên cứu khoa học của các giáo sư và nhà nghiên cứu ở nước ta.
Chú thích và tài liệu tham khảo:
[1] Để xét đề bạt giáo sư trong các đại học
Tây phương, ngoài các tiêu chuẩn về giảng dạy, tài trợ nghiên
cứu và phục vụ xã hội, một tiêu chuẩn quan trọng số 1 là số
lượng và chất lượng bài báo khoa học của ứng viên. Theo một qui
định gần như “bất thành văn”, muốn được đề bạt lên “assistant
professor” (giáo sư dự khuyết) ứng viên phải có từ 3-5 bài báo
khoa học; một associate professor (phó giáo sư) phải có từ 30
bài báo khoa học trở lên; và một professor (giáo sư) phải có từ
50 bài báo trở lên. Đây chỉ là những tiêu chuẩn rất chung chung
và có thể nói là tối thiểu. Cố nhiên, các tiêu chuẩn này còn
tùy thuộc vào trường đại học và chuyên môn, cho nên không ai có
thể đưa ra một qui định chính xác được.
[2] Garfield E. The impact factor
[internet] Current Contents 1994 20;3-7 (cited 16 August 2002):
http://sunweb.isinet.com/isi/hot/essays/journalcitationreports/7.html.
[3] Seglen PO. Why the impact factor of
journals should not be used for evaluating research. BMJ 1997;
314:497-9.
[4]
Phelan TJ. A compendium of issues for citation analysis.
Scientometrics 1999; 45:117-36.
[3]
Garfield E. Random thoughts on citationology: its theory and
practice. Scientometrics 1998; 43:69-76.
[4]
Campanario J. Peer review for journals as it stands today, Part
2. Science Communication 1998; 19:277-306
[5] Cole
S, et al. Chance and consensus in peer review. Science
214:881-6, 1981.
Hệ số
ảnh hưởng (impact factor) năm 2003
của
100 tập san khoa học hàng đầu
(nguồn:
http://vasehin.hotmail.ru/03_01.html)
|
Tên tập san viết tắt |
Tên đầy đủ của tập san |
Impact Factor |
|
ANNU REV IMMUNOL |
Annual review of immunology. |
52,280 |
|
ANNU REV BIOCHEM |
Annual review of biochemistry. |
37,647 |
|
PHYSIOL REV |
Physiological reviews. |
36,831 |
|
NAT
REV MOL CELL BIO |
Nature reviews. Molecular cell biology. |
35,041 |
|
NEW
ENGL J MED |
The
New England journal of medicine. |
34,833 |
|
NAT
REV CANCER |
Nature reviews. Cancer. |
33,954 |
|
CA-CANCER J CLIN |
CA:
a cancer journal for clinicians. |
33,056 |
|
NATURE |
Nature. |
30,979 |
|
NAT
MED |
Nature medicine. |
30,550 |
|
ANNU REV NEUROSCI |
Annual review of neuroscience. |
30,167 |
|
SCIENCE |
Science. |
29,162 |
|
NAT
IMMUNOL |
Nature immunology. |
28,180 |
|
PHARMACOL REV |
Pharmacological reviews. |
27,067 |
|
NAT
REV NEUROSCI |
Nature reviews. Neuroscience. |
27,007 |
|
NAT
REV IMMUNOL |
Nature reviews. Immunology. |
26,957 |
|
CELL |
Cell. |
26,626 |
|
NAT
GENET |
Nature genetics. |
26,494 |
|
NAT
REV GENET |
Nature reviews. Genetics. |
25,664 |
|
ANNU REV CELL
DEV BI |
Annual review of cell and developmental biology. |
22,638 |
|
ANNU REV PHARMACOL |
Annual review of pharmacology and toxicology. |
21,786 |
|
JAMA-J AM MED ASSOC |
JAMA : the journal of the American Medical Association. |
21,455 |
|
CHEM REV |
Chemical reviews. |
21,036 |
|
NAT
CELL BIOL |
Nature cell biology. |
20,268 |
|
TRENDS CELL BIOL |
Trends in cell biology. |
19,612 |
|
CANCER CELL |
Cancer cell. |
18,913 |
|
ANNU REV PHYSIOL |
Annual review of physiology. |
18,591 |
|
LANCET |
Lancet. |
18,316 |
|
CURR OPIN CELL BIOL |
Current opinion in cell biology. |
18,176 |
|
TRENDS IMMUNOL |
Trends in immunology. |
18,153 |
|
NAT
REV DRUG DISCOV |
Nature reviews. Drug discovery. |
17,732 |
|
NAT
BIOTECHNOL |
Nature biotechnology. |
17,721 |
|
ENDOCR REV |
Endocrine reviews. |
17,324 |
|
GENE DEV |
Genes & development. |
17,013 |
|
MOL
CELL |
Molecular cell. |
16,835 |
|
IMMUNITY |
Immunity. |
16,016 |
|
ANNU REV PLANT BIOL |
Annual review of plant physiology and plant molecular
biology. |
15,615 |
|
J
EXP MED |
The
Journal of experimental medicine. |
15,302 |
|
NAT
NEUROSCI |
Nature neuroscience. |
15,141 |
|
ACCOUNTS CHEM RES |
Accounts of chemical research. |
15,000 |
|
DEV
CELL |
Developmental cell. |
14,807 |
|
MICROBIOL MOL BIOL R |
Microbiology and molecular biology reviews : MMBR. |
14,340 |
|
J
CLIN INVEST |
The
Journal of clinical investigation. |
14,307 |
|
TRENDS BIOCHEM SCI |
Trends in biochemical sciences. |
14,273 |
|
NEURON |
Neuron. |
14,109 |
|
TRENDS PHARMACOL SCI |
Trends in pharmacological sciences. |
13,965 |
|
J
NATL CANCER I |
Journal of the National Cancer Institute. |
13,844 |
|
TRENDS PLANT SCI |
Trends in plant science. |
13,405 |
|
ANNU REV BIOPH BIOM |
Annual review of biophysics and biomolecular structure. |
13,351 |
|
CURR OPIN GENET DEV |
Current opinion in genetics & development. |
13,143 |
|
GASTROENTEROLOGY |
Gastroenterology. |
12,718 |
|
TRENDS NEUROSCI |
Trends in neurosciences. |
12,631 |
|
TRENDS ECOL EVOL |
Trends in ecology & evolution (Personal edition) |
12,449 |
|
ANN
INTERN MED |
Annals of internal medicine. |
12,427 |
|
PROG NEUROBIOL |
Progress in neurobiology. |
| |