Cholesterol: hung thần hay bạn?
Nguyễn Văn Tuấn
Trong
các loại “ma quỉ” có mặt trong thực phẩm chúng ta dùng
hàng ngày, cholesterol là vua, một “kẻ” giết người vấy
mỡ, một thủ phạm của những bệnh liên quan đến tim mạch.
Bệnh tim mạch chiếm khoảng 25 phần trăm trong tổng số
nguyên nhân tử vong (tức một phần tư) ở các nước đă phát
triển thuộc thế giới Tây phương. Trong suốt thế kỉ 20,
“sản phẩm” của cholesterol, bệnh đau tim (c̣n gọi là
heart attack), trồi sụt với thời gian ở vùng Tây bán cầu
như những cơn bệnh dịch. Trong thời gian đó, các chính
phủ Tây phương đă chi ra một số tiền khổng lồ để vạch
trần bộ mặt thật của kẻ sát nhân bằng khoa học. Qua
giáo dục quần chúng, giới chức y tế cũng đă làm việc
không mệt mỏi để chỉ ra những độc hại của cholesterol
trong cuộc sống hàng ngày. Ở Mĩ, Chương tŕnh Giáo dục
Quốc gia về Cholesterol (National Cholesterol Education
Program) đề ra kế hoạch và chỉ tiêu để giảm tiêu thụ
chất béo động vật trong quần chúng vào khoảng 10%.
Đương
nhiên, người ta có lí do khoa học để phát động những
chương tŕnh vận động giáo dục quần chúng như thế, và
người ta cũng thực t́nh v́ lợi ích của quần chúng.
Nhưng cholesterol có phải thực sự là một kẻ tội phạm như
giới khoa học giảng dạy cho chúng ta biết hay không?
Nếu chúng ta giảm lượng cholesterol trong quần chúng,
chúng ta có thực sự làm giảm được số lượng người chết v́
bệnh tim mạch hay không? Bằng chứng hay cơ sở khoa học
đằng sau những cuộc giáo dục vĩ đại về cholesterol và
bệnh tim mạch có thực sự rơ ràng như trắng với đen hay
không? Bài viết này sẽ điểm qua và so sánh những bằng
chứng khoa học đằng sau những bản tin mà giới chức y tế
công bố, và t́m cách trả lời những câu hỏi này.
Nhận diện kẻ
thù
Nói
một cách ngắn gọn: cholesterol là một chất béo. Nói
đúng hơn, nó là một chất hữu cơ trong gia đ́nh kích
thích tố steroid, hơn là một loại chất béo thật sự
(trong nhóm kích thích tố steroid c̣n có một số loại
kích thích tố nữ – như estrogen – và sinh tố –
vitamin). Về mặt cấu trúc hóa học, một phần phân tử của
cholesterol là rượu cồn (alcohol), nhưng là loại rượu mà
chúng ta không muốn có trong cocktail của chúng ta! Một
số cholesterol xâm nhập cơ thể chúng ta qua đường thực
phẩm mà chúng ta dùng hàng ngày, đặc biệt là trứng, bơ,
óc, gan, và các loại thịt chứa ít nhiều chất béo (như
thịt heo, gà, vịt và cá; ngũ cốc, trái cây tươi, và rau
cải không chứa cholesterol). Dựa vào cấu trúc phân tử,
chất béo trong thực phẩm xuất hiện dưới 3 dạng chính:
poly-unsaturated, mono-unsaturated, và saturated (không
băo ḥa ở dạng đa phân, không băo ḥa ở dạng đơn phân,
và băo ḥa). Nói một cách ngắn gọn, chất béo saturated
là những chất béo có nguồn gốc từ động vật, kể cả sữa và
phó-mát, trong nhiệt độ trung b́nh (trên dưới 25 độ C)
chúng là một khối đặc; chất béo không băo ḥa dạng đơn –
mono-unsaturated – thường t́m thấy trong trái olives,
đậu phộng, avocado ... ; c̣n chất béo không băo ḥa ở
dạng đa phân – poly-unsaturated – thường t́m thấy trong
trái bắp (ngô), mè, rau cải .... Trong đó, loại quan
trọng nhất là cholesterol dưới dạng băo ḥa trong động
vật và một số thực vật như dầu dừa.
Đặc
tính số một của cholesterol là chúng không ḥa tan trong
nước. Quá tŕnh tiến hóa của con người dùng đặc tính
này để “dệt” cholesterol thành những bức tường trong tế
bào, trong trường hợp các tế bào này không muốn thấm
nước. Chẳng hạn như các tế bào thần kinh dùng
cholesterol để cô lập hóa phần trong với phần ngoài của
tế bào, và do đó, nơi có nhiều chất cholesterol nhất
trong cơ thể là năo và hệ thống thần kinh.
Nhưng
đặc tính không ḥa tan trong nước – cũng như trong máu –
gây ra vấn đề giao thông trong cơ thể. V́ thế, trong
con người, cholesterol được chuyên chở trong các hạt
phần tử h́nh cầu (spherical particles) gồm có nhiều chất
lipoprotein khác. Cũng giống như một hạm đội tàu ngầm,
những phần tử h́nh cầu này chuyên chở cholesterol đi
khắp cơ thể, mỗi phần tử có thể chuyên chở khoảng 1500
phân tử (molecules), và hành tŕnh của chúng thường kéo
dài khoảng 24 giờ.
Nhưng
có nhiều loại phần tử, và chúng có trách nhiệm vận tải
khác nhau. Hai phần tử quan trọng nhất là loại
lipoprotein có mật độ cao (High density lipoprotein;
HDL), và loại lipoprotein có mật độ thấp (Low density
lipoprotein; LDL), hay nói theo ngôn ngữ hàng ngày là
loại tàu nặng và tàu nhẹ. Trong bất cứ thời điểm nào,
khoảng 60% đến 80% cholesterol trong máu được chuyên chở
bằng tàu nhẹ LDL, và khoảng 15% đến 20% được chuyên chở
bằng tàu nặng HDL. Phần c̣n lại, dưới 25%, được các
phần tử khác vận chuyển.
Phần
lớn cholesterol trong cơ thể con người được chế biến
trong gan. Đây là một cơ quan rất bận rộn, v́ vậy hạm
đội vận chuyển cholesterol không ngừng ra vào. Các tàu
nhẹ nhận cholesterol từ gan và chở đi nơi khác, trong
khi đó, các tàu nặng chở cholesterol vào gan. Khi bất
cứ một tế bào nào trong cơ thể cần cholesterol, nó ra
tín hiệu cho tàu nhẹ (LDL) để đi làm việc, và tàu này
thường đậu phía ngoài của tế bào. Bất cứ cholesterol
nào được vận chuyển đến gan (bằng tàu nặng, hay HDL)
chúng được dùng, hoặc là để sản xuất hormones, hoặc là
thải ra ngoài qua túi mật.
Thường
thường, hệ thống chế biến và vận chuyển cholesterol làm
việc một cách nhịp nhàng, và tuân theo một qui tŕnh làm
việc rất tinh vi. Qui tŕnh làm việc này có lẽ được
định đoạt qua quá tŕnh tiến hóa hàng triệu năm. Như
vậy, các phân tử cholesterol là những hóa chất làm việc
siêng năng và có mặt khắp nơi trong cơ thể con người.
Nhưng chúng cũng có một khía cạnh đen tối. Khi bị đau
tim (heart attack, tức khi các động mạch bị tắc nghẽn v́
oxygen không thể chuyển đến cơ của tim), th́ các phân tử
cholesterol đều có mặt tại “hiện trường”. Lúc này hệ
thống vận tải chạy cuống cuồng và hỗn loạn, các tàu vận
chuyển lipoprotein đổ ầm cholesterol xuống các động mạch
một cách vô tổ chức cho đến khi các động mạch này bị tắc
nghẽn. Thành ra, không có ǵ ngạc nhiên khi các nhà
khoa học và các cơ quan y tế chỉ điểm cholesterol như là
một kẻ tội phạm tày đ́nh.
Tuy
nhiên, không phải cholesterol nào trong cơ thể cũng ác
độc, hay là kẻ tội đồ. Chẳng hạn như cholesterol bị khử
từ các tế bào và được các tàu nặng HDL vận chuyển trở
vào gan để xử lí trước khi thải ra ngoài, và v́ thế
chúng được xem là “good cholesterol” – cholesterol tốt.
Ngược lại, cholesterol được các tàu nhẹ LDL vận chuyển
từ gan vào các tế bào khác của cơ thể được xem là “bad
cholesterol” – cholesterol xấu.
Nhưng
vấn đề là trong cơ thể chúng ta, hàm lượng cholesterol
tốt ít hơn hàm lượng cholesterol xấu. Cứ mỗi phân tử
cholesterol tốt, có đến 3 tới 5 phân tử cholesterol
xấu. Chính cholesterol xấu này là đối tượng vận động
trong quần chúng, là loại cholesterol và giới y tế muốn
kiểm tra trong mỗi người chúng ta.
Cholesterol có
tội
Bằng
chứng để buộc tội cholesterol là một kẻ sát nhân nhiều
không thể kể hết. Không những chúng luôn luôn có mặt
trong các động mạch bị tắc nghẽn, mà những người có hàm
lượng cholesterol trong máu cao thường có nguy cơ bị đau
tim cao hơn những người có độ cholesterol b́nh thường
hay thấp. Cái sự thật đơn giản này được rút ra từ nhiều
nghiên cứu lớn trên khắp thế giới. Và, khi được thẩm
định từng bước một, từ lúc cơ thể tiếp nhận thực phẩm
đến lúc bị đau tim, bằng chứng để buộc tội cholesterol
coi như khép kín một cách chặt chẽ.
Nhiều
nghiên cứu về cholesterol xa xưa nhất cho thấy chất béo
là một kẻ ṭng phạm trong những cuộc tấn công vào tim.
Người ta đổ tội cho chất béo động vật trong thức ăn.
Nhưng không phải đơn giản chỉ chất béo, mà là dựa trên
là tỉ số giữa acid béo băo ḥa (saturated fatty acid,
SFA) với acid béo không băo ḥa dạng đa phân
(polyunsaturated fatty acid, PUFA). Người Hà Lan ăn rất
nhiều chất béo từ động vật, và có hàm lượng cholesterol
cao nhất thế giới (khoảng 270 mg/dl). Người ăn chay,
tức ăn rất ít chất béo động vật, có hàm lượng
cholesterol thấp nhất. Nông dân Trung Quốc, theo một
nghiên cứu vào thập niên 1980s, những người thường ăn
rau cải và rất ít thịt (chỉ 15% năng lượng thực phẩm là
từ động vật), có hàm lượng cholesterol trung b́nh là 150
mg/dl. Ở người Anh, cũng vào thập niên 1980s, khoảng 40
đến 45% năng lượng thực phẩm là từ chất béo động vật,
lượng cholesterol trung b́nh là 250 mg/dl.
Khi
chế độ ăn uống thay đổi, hàm lượng cholesterol cũng thay
đổi theo. Một số nghiên cứu trong loài gặm nhấm (như
chuột) cho thấy khi lượng PUFA tăng, lượng cholesterol
giảm. Một phân tích tổng hợp kết quả từ 16 nghiên cứu
trên con người cho thấy khi thay thế chất béo động vật
bằng rau cải cũng làm cho lượng cholesterol trong người
thuyên giảm đáng kể. Trong một thử nghiệm quái gở vào
thập niên 1990s, mà trong đó, một nhóm 8 người (4 nam và
4 nữ) tự “niêm phong” trong một môi trường phi kĩ nghệ
trong ṿng 2 năm. Họ sống trong một khoảnh đất sa mạc
rộng khoảng 1.2 hectares, với một con sông nhỏ, ở phía
Bắc Thành phố Tucson (Arizona, Mĩ). Họ chỉ sống bằng
nghề nông, nhưng không có thú vật. V́ thế, họ chỉ có
thể sinh sống bằng thực vật, chủ yếu là ngũ cốc, rau cải
(tự trồng) và trái cây. Trong năm đầu, họ mất khoảng 10
kg trọng lượng, và độ cholesterol cũng giảm từ 195 mg/dl
xuống c̣n 123 mg/dl.
Cholesterol
không chỉ giảm trong người lớn khi dùng thức ăn với ít
chất béo, mà trong trẻ em người ta cũng ghi nhận một
khuynh hướng tương tự. Theo kết quả của một nghiên cứu
ở Phần Lan (c̣n gọi là dự án STRIP), 1000 trẻ em khoảng
7 tháng tuổi được chia thành 2 nhóm: nhóm 1 dùng ăn các
thực phẩm được chế biến sao cho dưới 35% tổng năng lượng
là từ chất béo và trong đó chất béo loại băo ḥa
(saturated) chỉ chiếm 1/3 tổng số chất béo; trong nhóm 2
các nhà nghiên cứu không giới hạn lượng thực phẩm, và
40% năng lượng thực phẩm từ chất béo động vật. Đến độ
tuổi 13 tháng, trẻ em nhóm 1 có hàm lượng cholesterol
không khác mấy so với hàm lượng lúc 7 tháng; nhưng trong
nhóm 2, hàm lượng cholesterol tăng khoảng 8% so với lúc
7 tháng.
Cholesterol
làm nghẽn tim. Càng nhiều cholesterol trong máu, mức độ
nghẽn tim càng cao. T́nh trạng tắc nghẽn tim c̣n được
gọi là chứng xơ cứng động mạch (arteriosclerosis). Nói
theo ngôn ngữ thông thường, xơ cứng động mạch là t́nh
trạng các mạch tim bị giảm khả năng đàn hồi. Khi động
mạch không c̣n mềm dẻo nữa, máu và oxygen không thể đi
qua cơ tim, tim không vận hành như b́nh thường, và con
người bị ngạt thở.
Chứng
xơ cứng động mạch xuất hiện dưới nhiều h́nh thức khác
nhau, nhưng thông thường nhất là vữa xơ động mạch
(atherosclerosis), ảnh hưởng đến các động mạch trung
b́nh và động mạch lớn, nhất là các động mạch chuyển máu
vào tim, óc, cật, và chân. Triệu chứng dễ thấy nhất của
vữa xơ động mạch là khi cholesterol bắt đầu lắng đọng
thành những vệt béo trên lớp ngoài của động mạch. Cho
đến nay, chưa ai biết quá tŕnh h́nh thành của những vệt
béo này ra sao, nhưng có lẽ các tàu vận chuyển LDL
cholesterol có vấn đề. Nói theo ngôn ngữ y khoa, những
vệt béo là những tiểu thực bào (microphages).
Tiểu thực bào là một tế bào máu trắng, mà chức năng b́nh
thường của chúng là quét dọn những tế bào đă chết hay bị
hư hại. “Quét dọn” ở đây có nghĩa là “ăn” những tế
bào. Theo thời gian, các tiểu thực bào này dính vào
vách của động mạch, và làm cho sự luân chuyển của động
mạch trở nên bất b́nh thường. Vôi (calcium) cũng tích
tụ, với khoảng 96% những người bị đau tim đều có các
động mạch bị vôi-hóa. Tiểu cầu (Platelet), những tế bào
máu có nhiệm vụ làm những vón cục máu (clot), cũng tích
tụ phía trên mảng thành một khối cứng bao quanh vành
động mạch, và gây ra chứng huyết khối (thrombus).
Khi
quá tŕnh này bắt đầu, những vệt béo chỉ dày khoảng 1 mm
trở lại. Song, cục huyết khối có thể dày hơn 3 mm và
làm cho đường kính của động mạch nhỏ lại, và sau cùng là
làm tắc nghẽn hoàn toàn động mạch. Động mạch có thể bị
vỡ, hay một huyết khối có thể bị ĺa ra và làm bít các
động mạch nhỏ. Những dấu hiệu hay triệu chứng mà bệnh
nhân trải qua khá đa dạng, v́ c̣n tùy thuộc vào thành
phần cấu trúc của huyết khối.
Cũng
giống như bộ năo, tim rất nhạy và dễ bị tổn thương nếu
nguồn cung cấp máu và oxygen bị gián đoạn. Chỉ một phần
của tim bị ngưng cung cấp máu, khả năng làm “máy bơm”
của tim bị giảm thiểu ngay trong ṿng vài giây, và hoàn
toàn hỏng trong ṿng vài phút. Đây là nguyên nhân chính
trong phần lớn các trường hợp đau tim, và kẻ thủ phạm
chính là huyết khối.
Khi
thành phần của huyết khối là những chất sợi (fibre),
chúng ít bị vỡ, nhưng có thể làm cho tim “chết đói” dần
dần v́ chúng làm cho đường kính của động mạch nhỏ dần
lại. Quá tŕnh này gây nên một chứng có tên là chứng
đau thắt ngực (angina), một sự đau xé ngực mà nạn nhân
thường mô tả như bị một cái búa đánh vào ngực. Bệnh
nhân bị chứng đau thắt ngực thường xảy ra trong trường
hợp tập thể dục, hay làm những công việc đ̣i hỏi vận
động thể lực cao. Hiện tượng này xảy ra v́ động mạch bị
thắt lại, làm cho máu không lưu thông vào tim theo một
tốc độ cần thiết cho thể lực làm việc nặng.
Khi
thành phần của huyết khối là chất béo, chúng dễ bị vỡ,
và làm cho tim đột ngột mất nguồn cung cấp máu. Sự kiện
này xảy ra khi máu [chảy qua những động mạch] vỡ thành
từng mảnh nhỏ; thải những chất béo ra ngoài; những chất
béo này kích thích h́nh thành những cục máu; và những
cục máu này lớn dần đến khi chúng làm nghẽn hoàn toàn
động mạch. Nguyên quá tŕnh vừa mô tả chỉ xảy ra trong
ṿng vài phút, và hậu quả cuối cùng là chứng huyết khối
động mạch vành (coronary thrombosis), bệnh nhân cảm thấy
đau không kiềm chế được. Nếu động mạch bị nghẽn không
được thông, các cơ của tim sẽ bị chết, và nạn nhân có
thể bị chết v́ bệnh nhồi máu cơ tim (myocardial
infarction).
Khi
bệnh nhân bị xơ cứng động mạch (hay đau tim, heart
attack), cholesterol luôn luôn có mặt tại “hiện
trường”. Đây là bằng chứng cho thấy cholesterol có thể
là một can phạm chính của căn bệnh. Trong một giảo
nghiệm lớn trên hơn 21,000 tử thi trong 14 nước, các nhà
khoa học phát hiện một mối tương quan rất cao giữa tỉ lệ
xơ cứng động mạch vành và lượng chất béo tiêu thụ giữa
các nước. Một bằng chứng khác trực tiếp hơn là công
tŕnh nghiên cứu nổi tiếng Framingham Study
(Massachusetts) thử nghiệm cholesterol trong hàng ngàn
người t́nh nguyện trong nhiều năm. Sau khi chết, các
nhà nghiên cứu khảo sát các động mạch của nạn nhân.
Trong những yếu tố đưa ra phân tích, các nhà nghiên cứu
ghi nhận một mối tương quan giữa hàm lượng cholesterol
và độ vữa xơ động mạch.
Song,
đối với phần lớn các nhà khoa học, bằng chứng có tính
thuyết phục cao nhất được rút ra từ một nghiên cứu về
căn bệnh di truyền thừa chất cholesterol (familial
hypercholesterol, hay FH). Đây là một hội chứng tương
đối nhiều trong dân số, với tỉ lệ 1 trên 350 người.
Nguyên nhân chính của hội chứng này là thụ thể
(receptor) của LDL bị hư hỏng. Các thụ thể là những
“bến cảng” để tàu bè “lên hàng” và “xuống hàng”. Khi
những “bến cảng” tiếp nhận LDL bị hư hỏng, các tàu chở
LDL phân tử không thể chuyển giao cholesterol cho các tế
bào. Kết quả là lượng cholesterol xấu (LDL) tồn tại
trong máu rất cao trong những người với hội chứng FH.
Mỗi
con người nhận hai biến thể gen (alleles): một từ cha và
một từ mẹ. Những người nhận một gen có khuyết điểm từ
cha hay mẹ thường có lượng cholesterol cao gấp 2 đến 3
lần so với b́nh thường. Họ cũng thường hay bị bệnh tim
nhưng có thể chữa trị bằng những thuốc làm giảm lượng
cholesterol. Khi những người có cả hai biến thể gen bị
khuyết tật, độ cholesterol thường cao gấp 5 đến 10 lần
so với mức độ b́nh thường, và họ thường bị đau tim trước
tuổi 20, và trong những trường hợp này thuốc giảm
cholesterol chẳng giúp đỡ ǵ nhiều.
Từ
đó, cái kết luận đă khá hiển nhiên. Như Hội đồng Nghiên
cứu Quốc gia (National Research Council) ở Washington
viết trong quyển sách “Chế độ ăn uống và sức khỏe”
(“Diet and Health”): cholesterol xấu (tức LDL) là thủ
phạm số một dẫn đến chứng xơ cứng động mạch.
Nạn nhân
Tại
các nuớc đă phát triển, số lượng người bị bệnh tim nhiều
hơn bất cứ số bệnh nhân nào. Đàn ông có nguy cơ bị bệnh
tim cao hơn đàn bà. Ở Mĩ, hàng năm có khoảng 6 triệu
người bị bệnh tim, và trong số này, khoảng 1.5 triệu bị
đau tim, và trong số này khoảng 1/3 chết. Khoảng 1 phần
5 trong số các trường hợp đau tim không hề có triệu
chứng hay cảnh cáo trước. Tỉ suất đàn ông người Mĩ chết
v́ bệnh tim là khoảng 200 trên 100,000 dân số. Trong
người Tô Cách Lan (Scotland), tỉ suất này là 320 trên
100,000 dân số. Ở Anh, tỉ suất này là khoảng 250 trên
100,000 dân số, cao gấp hai lần so với các nước như Ḥa
Lan, Pháp. Ở Nhật, tỉ suất đàn ông chết v́ bệnh tim chỉ
20 trên 100,000 dân số.
Cholesterol
và thành phần thực phẩm trong chế độ ăn uống bị t́nh
nghi là một thủ phạm chính, một giải thích cho sự khác
biệt về tỉ suất tử vong giữa các nước. Năm 1953, một
nghiên cứu cho thấy mối tương quan giữa tỉ suất tử vong
v́ bệnh tim và mức độ tiêu thụ chất béo, và mối quan hệ
này không theo một đường thẳng mà là phi tuyến tính, có
nghĩa là tỉ suất chết thường rất cao trong những nước có
tiêu thụ chất béo rất cao hay rất thấp. Sau này, đến
năm 1970, nghiên cứu này mở rộng ra 7 nước, và kết quả
cho thấy tỉ suất tử vong v́ bệnh tim liên hệ mật thiết
với lượng tiêu thụ chất béo động vật. Trong các nước Âu
châu, dân Bắc Âu (Na Uy, Thụy điển, Đan Mạch, v.v…) có
độ tiêu thụ chất béo động vật cao, trong khi dân Nam Âu
dùng nhiều thực vật và rau cải. Ngay cả ở Trung Quốc,
nơi mà tỉ lệ bệnh tim rất thấp, nguy cơ bị bệnh tim cũng
tương quan cao với độ tiêu thụ chất béo động vật.
Một
bằng chứng trực tiếp hơn được ghi nhận ở Mĩ. Hai thử
nghiệm lâm sàng lớn, với hơn 360,000 người tham dự, kết
luận rằng những người ăn nhiều chất béo động vật có nguy
cơ bị bệnh tim rất cao so với những người không ăn hay
ăn ít chất béo động vật. Ở Nhật, thực phẩm của người
Nhật thường có ít chất béo, và tỉ lệ người bị bệnh tim
cũng rất thấp. Nhưng khi người Nhật di cư sang sống ở
Mĩ, nguy cơ bị bệnh tim của họ tương đương với nguy cơ
bị bệnh tim của người Mĩ địa phương.
Mức
độ nguy hiểm của cholesterol xấu này càng rơ ràng hơn
khi một nghiên cứu khác cho thấy khả năng bảo vệ sức
khỏe của loại cholesterol tốt, HDL. Trong một nghiên
cứu, với hơn 7000 đàn ông trung niên được theo dơi trong
một thời gian dài, các nhà nghiên cứu ghi nhận những
người có nguy cơ chết thường có độ HDL thấp hơn những
người cùng tuổi c̣n sống. Mức độ khác biệt về HDL giữa
người chết và sống khoảng 2.5 mg/dl, tức khoảng 6%,
nhưng là một độ khác biệt có ư nghĩa thống kê.
Những
bằng chứng và nghiên cứu tŕnh bày trên đây cho thấy
chất béo động vật là nguyên nhân làm tăng độ
cholesterol, và cholesterol là một thủ phạm chính trong
việc gây ra bệnh đau tim. Như vậy, lời cáo buộc chấm
dứt với đầy đủ bằng chứng. Không có ǵ để bàn thêm
nữa?
Không
hẳn vậy!
Bào chữa
Thật
vậy, trong trường hợp này có thể bào chữa được, bởi v́
bên truy tố dựa vào những bằng chứng mà phương pháp khoa
học đằng sau chúng vừa mơ hồ vừa nhập nhằng. Cho rằng
cholesterol là một “bad guy”, một thủ phạm ác ôn trong
bệnh tim là một cách diễn dịch dữ kiện, nhưng đó không
phải là cách diễn dịch duy nhất. (Trước một sự thật
khoa học, chúng ta có thể có nhiều cách diễn dịch và
hiểu).
Vấn
đề chế độ ăn uống: mối liên hệ yếu ớt. Những thí
nghiệm trên thú vật và thử nghiệm lâm sàng ở con người
cho thấy chế độ ăn uống có ảnh hưởng đến mức độ
cholesterol. Một số tiền khổng lồ, công sức và tâm
huyết vĩ đại, cùng với các thuật toán thống kê tinh vi
nhất, phức tạp nhất đă được vận dụng để đưa ra bằng
chứng buộc tội cholesterol. Nhưng, những chứng cớ như
thế không phải là một lí giải cuối cùng. Chứng cớ về
mối liên hệ giữa hai yếu tố chỉ có thể rút ra từ các
cuộc thử nghiệm đối chứng (controlled experiments). Mối
liên hệ giữa chế độ ăn uống và cholesterol nói chung là
yếu ớt: chế độ ăn uống chỉ giải thích khoảng 4% khác
biệt về mức độ cholesterol giữa các cá nhân trong một
quần thể. Nói cách khác, hơn 95% khác biệt về
cholesterol trong một dân số không thể giải thích bằng
chế độ ăn uống.
Nếu
cholesterol quả thật là một thủ phạm giết người, và với
mối liên hệ được báo cáo trong các nghiên cứu khoa học,
th́ lượng cholesterol chỉ kéo dài tuổi thọ trung b́nh
của người dân khoảng 3 tháng. Bởi v́ mức độ ảnh hưởng
của cholesterol rất khiêm tốn, nhiều nghiên cứu trên thế
giới không “chứng minh” được mối liên hệ giữa cholestrol
trong máu và chế độ ăn uống. Chẳng hạn như trong công
tŕnh nghiên cứu Framingham, một nghiên cứu có ảnh hưởng
lớn đến việc chẩn đoán và chữa trị bệnh tim trong thập
niên 1950s, chế độ ăn uống của gần 1000 người được theo
dơi cẩn thận, nhưng các nhà nghiên cứu không phát hiện
một mối liên hệ nào giữa chế độ ăn uống và độ
cholesterol trong máu.
Tuy
nhiên, công bằng mà nói, trong thực tế, rất khó mà đo
lường chính xác hàm lượng chất béo, hay bất cứ một thói
quen ăn uống nào của từng người dân. Hầu như tất cả các
nghiên cứu chỉ đơn giản yêu cầu t́nh nguyện viên ghi
chép vào một bảng thống kê những ǵ họ ăn uống trong
ṿng 24 giờ qua, hoặc cao hơn là ghi chép 4 ngày ăn uống
liên tiếp trong đó có một ngày cuối tuần. Với một khoản
thời gian ngắn ngủi như thế, những ǵ các nhà nghiên cứu
ghi nhận được không phản ánh chế độ ăn uống lâu dài của
một cá nhân. Và cả hai cách ghi chép chế độ ăn uống này
đều không phải là “tiêu chuẩn vàng” để ước đoán hay đánh
giá sự chính xác của một chế độ ăn uống. Thế nhưng,
thời gian cũng không phải là một yếu tố quyết định, ngay
cả trong một số nghiên cứu, mà trong đó các nhà nghiên
cứu theo dơi chế độ ăn uống hàng ngày và trong một thời
gian cả 3 tháng, thậm chí 6 tháng liền, người ta cũng
không phát hiện được một mối liên hệ giữa cholesterol và
chế độ ăn uống, dù mức độ chất béo mà các t́nh nguyện
viên dùng có khi rất thấp (10 g/ngày) hay rất cao (300
g/ngày). Trong những nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu
ghi nhận rằng, nhiều người có lượng cholesterol rất thấp
dù họ dùng chất béo động vật rất nhiều, và cũng có người
có lượng cholesterol khá cao nhưng lại ít dùng chất béo
động vật!
Với
những bằng chứng như thế, thật khó mà phát động một
phong trào kêu gọi thay đổi chế độ ăn uống của người dân
trong một xă hội. Nhưng v́ lí do chính trị và xă hội,
giới y tế vẫn khuyên dân chúng nên giảm lượng chất béo
động vật, ít nhất là 10%. Song, trong nhiều nghiên cứu
thực tế cho thấy nhiều người giảm lượng chất béo trong
chế độ ăn uống hàng ngày, nhưng mức độ cholesterol trong
người vẫn cao hơn mức độ cholesterol trong những người
không giảm chất béo trong chế độ ăn uống. Điều này có
thể giải thích tại sao các cuộc vận động cải tiến chế độ
ăn uống và nhất là giảm chất béo động vật trong quần
chúng không đem lại một kết quả nào đáng kể cả. Ở Anh
chẳng hạn, sau hơn 20 năm vận động và giáo dục quần
chúng, mức độ cholesterol trong người dân vẫn y nguyên
như thời thập niên 1970s, dù mức độ tiêu thụ chất béo
động vật giảm một cách rơ rệt.
Ngoài
những bằng chứng thí nghiệm cho thấy chế độ ăn uống có
thể ảnh hưởng đến cholesterol theo chiều hướng mà chúng
ta ḱ vọng, và c̣n có nhiều nghiên cứu thực tế trong con
người cho thấy khác với mối liên hệ lí thuyết giữa
cholesterol và bệnh đau tim. Yếu tố văn hóa có lẽ cũng
cần giải thích thêm. Trong vài nền văn hóa mà người dân
dùng một lượng chất béo động vật rất cao nhưng độ
cholesterol lại rất thấp; ngược lại, có văn hóa mà lượng
cholesterol rất cao nhưng họ lại không ăn uống nhiều
chất béo động vật. Người Samburu (một bộ lạc ở Phi
châu) một ngày ăn trung b́nh khoảng 0.45 kg thịt động
vật, và uống khoảng 9 lít sữa động vật. Nói một cách
khác, những người Phi châu này ăn uống một lượng chất
béo gấp 2 lần những người Mĩ. Nhưng hàm lượng
cholesterol trung b́nh của người Samburu chỉ 170 mg/dl
so với 220 mg/dl trong người Mĩ. Tương tự, dân Masai
(một bộ lạc ở Kenya) cũng uống nhiều sữa (khoảng 3 lít
sữa) và ăn thịt như thay gạo hàng ngày, nhưng hàm lượng
cholesterol trung b́nh chỉ 135 mg/dl, tức thuộc vào hàng
thấp nhất trên thế giới.
Một
cách giải thích hiển nhiên cho những “hiện tượng” như
thế (mức độ cholesterol thấp ở những người ăn chất béo
nhiều) là do di truyền, do gen. Cơ thể của người Masai
có lẽ cơ chế điều chỉnh quá tŕnh sản xuất và tiêu hủy
cholesterol khác với cơ chế trong người Âu châu hay Mĩ
châu. Điều này không có nghĩa là mức độ cholesterol
trong người Masai không thay đổi với môi trường sống.
Thực vậy, một công tŕnh nghiên cứu mà trong đó gồm
những người Masai di dân từ vùng đồng quê lên sống trong
thành thị cho thấy mức độ cholesterol trong những người
này tăng khoảng 25% so với lúc họ c̣n ở trong thôn quê,
mặc dù chế độ ăn uống của họ không có ǵ khác với lúc
c̣n ở trong quê! Như vậy, một yếu tố nào đó làm cho hàm
lượng cholesterol trong người Masai thay đổi, và yếu tố
đó chắc không phải là chế độ ăn uống.
Thực
ra, giải thích những bằng chứng hay sự thật mâu thuẫn
trên đây cũng không phải là một cái ǵ quá khó khăn,
nhưng lời giải thích mới này sẽ giải oan cho cholesterol
và đưa vai tṛ của cholesterol vào một viễn ảnh mới. Cơ
thể con người có lẽ “ư thức” được hàm lượng cần thiết
cholesterol [luân chuyển trong máu]. Xét cho cùng,
cholesterol là một hóa chất có nhiều nhiệm vụ, từ việc
bảo vệ tế bào không bị thấm nước, đến sản xuất hormones
và mật, v́ thế cholesterol cần phải luôn luôn hiện diện
trong cơ thể. Nhưng bao nhiêu cholesterol là cần thiết,
hay mức độ tối ưu, có lẽ được định đoạt bằng quá tŕnh
tiến hóa của con người từ lúc tổ tiên chúng ta trải qua
nhiều môi trường sống và cách thức sống. Cũng giống như
phần lớn những đặc tính do quá tŕnh tiến hóa tạo nên,
mức độ tối ưu của cholesterol khác nhau giữa cá nhân,
tùy thuộc vào cấu trúc của cơ thể và công việc hàng
ngày. Thành ra, trong bất cứ một cá nhân nào, trong một
môi trường, có một mức độ cholesterol tối ưu cần thiết
để cơ thể duy tŕ, và làm “mức độ đệm” từ những biến đổi
từ ngày này sang ngày nọ. Cơ thể có thể làm được việc
này, bởi v́ chính cơ thể sản xuất ra phần lớn
cholesterol, và một cơ chế đền bù được phát triển để duy
tŕ mức độ ổn định cholesterol trong cơ thể. Nếu lượng
cholesterol từ thức ăn giảm (hay thiếu), cơ thể sẽ tăng
cường sản xuất cholesterol; ngược lại, nếu cholesterol
từ thức ăn tăng, cơ thể sẽ giảm sản xuất cholesterol.
Có khoảng 20 gen dính dáng vào quá tŕnh điều ḥa này.
Ví dụ như một gen, có tên là Neuropeptipe Y (NPY), đóng
vai tṛ điều chỉnh mức độ cholesterol, và những người
với một bản của gien có mức độ cholesterol cao hơn những
người không có bản gien đó.
Thành
ra, theo quan điểm này, chúng ta không ngạc nhiên khi
thấy kết quả các công tŕnh nghiên cứu, ngay cả nghiên
cứu đối chứng, cho thấy mức độ ảnh hưởng của chế độ ăn
uống đến cholesterol rất ư là khiêm tốn, thậm chí trong
nhiều trường hợp, không chứng minh được mối liên hệ giữa
cholesterol và chế độ ăn uống. Cũng không ngạc nhiên
khi thay đổi môi trường sống từ thôn quê đến thành thị
của người Masai, một sự thay đổi lớn trong cholesterol
xảy ra, trái ngược lại với ḱ vọng [không thay đổi] từ
chế độ ăn uống không đổi thay. Ngụ ư của cách giải
thích mới này là ngay cả khi lượng cholesterol giảm cùng
với lượng chất béo động vật giảm, điều đó không có nghĩa
là cơ thể đang bị thiếu cholesterol, hay không có phương
tiện sản xuất cholesterol. Sự thay đổi quá tinh vi và
chỉ mang tính phảng phất. Điều có khả năng nhất là
những thay đổi như thế liên quan đến những thay đổi khác
trong cơ thể, như thay đổi lối sống cũng như sinh lí,
cần thiết cho cơ thể giảm mức độ cholesterol đến một mức
độ tối ưu.
Có
lẽ chế độ ăn uống vô tội trong vấn đề cholesterol. Khi
các nhà nghiên cứu quan sát được một sự thay đổi về
cholesterol theo chiều hướng mà họ ḱ vọng, có lẽ họ chỉ
thấy một phản ứng gián tiếp. Khi trong thực tế, họ kinh
qua những khó khăn để quan sát một sự thay đổi không
theo chiều hướng mà họ ḱ vọng, có lẽ họ đang thấy một
sự thay đổi lớn do các yếu tố mà họ nghiên cứu.
Nhưng
điều đó có quan trọng không? Nếu một thay đổi trong chế
độ ăn uống hay giảm lượng cholesterol trong máu vẫn có
thể giảm số lượng tim bị nghẽn, và giảm tử vong. Nếu,
ngay cả, bằng chứng về mối liên hệ giữa cholesterol và
chế độ ăn uống không mấy thuyết phục, hay không được rơ
ràng, th́ một cuộc vận động quần chúng giảm tiêu thụ
chất béo động vật vẫn có lí.
Nhưng
có thật là cholesterol làm nghẽn trái tim ? Có thể nói
rằng bằng chứng về mối liên hệ giữa hàm lượng
cholesterol cao và atherosclerosis cũng rất yếu ớt.
Trong nghiên cứu với 21,000 tử thi trong 14 quốc gia,
mối tương quan “đẹp” nhất là giữa tổng số lượng chất béo
(không phải cholesterol) và atherosclerosis. Nhưng dù
tổng số lượng chất béo là một yếu tố ảnh hưởng, lượng
chất béo động vật không phải là một yếu tố có ảnh hưởng,
đến vữa xơ động mạch. Điều này có nghĩa là chất béo
trong thực vật, nếu không là thủ phạm, th́ cũng ít ra
nguy hiểm như chất béo động vật! Điều này đi ngược lại
với trường hợp qui tội cho cholesterol!
Tuy
nhiên, có lẽ mức độ tương quan giữa cholesterol và vữa
xơ động mạch đă không cao ngay từ lúc đầu. V́ một lí do
nào đó, trong công tŕnh nghiên cứu 14 quốc gia trên,
các nhà nghiên cứu loại bỏ các dữ kiện từ Nhật. Nếu
phân tích các dữ kiện từ Nhật, các nhà nghiên cứu không
t́m thấy một mối tương quan nào. Nước Nhật lúc đó
(1968) có mức độ tiêu thụ chất béo rất thấp, chỉ bằng
1/3 lượng chất béo trong người Mĩ. Người Nhật lúc đó
cũng có độ cholesterol thấp hơn người Mĩ (170 mg/dl so
với 220 mg/dl). Thế nhưng tỉ suất atherosclerosis giữa
hai nước tương đương nhau. Thực ra, một công tŕnh
nghiên cứu sau này về động mạch trong năo của 1408 người
Nhật và 5000 người Mĩ cho thấy trong tất cả các độ tuổi,
mức độ xơ cứng động mạch trong người Nhật cao hơn chút
ít so với trong người Mĩ!
Ngay
cả kết quả của công tŕnh nghiên cứu Framingham cũng
không đem lại một kết luận cuối cùng. Số liệu của công
tŕnh Framingham cho thấy ảnh hưởng của cholesterol đến
vữa xơ động mạch cao hơn so với ảnh hưởng của các yếu tố
như độ tuổi, trọng lượng của cơ thể, và huyết áp. Dù
mối tương quan rất thấp, nhưng về mặt thống kê nó có ư
nghĩa. Có người nghi ngờ rằng mối tương quan [giữa
cholesterol và vữa xơ động mạch hay atherosclerosis] có
thể là giả tạo, bởi v́ số tính phi ngẫu nhiên của các tử
thi được giảo nghiệm, và số người bị FH không thể nhận
dạng được cũng như không thể loại trừ ra mẫu nghiên
cứu. Tuy nhiên, trong tất cả các nghiên cứu được tiến
hành một cách nghiêm túc và theo những phương pháp, qui
tŕnh nghiêm ngặt đều không phát hiện một mối tương quan
nào giữa cholesterol và vữa xơ động mạch. Một nghiên
cứu trong khoảng 800 cựu chiến binh thời Thế chiến thứ
II, những người chết vào độ tuổi 60 và 70, cũng không
t́m thấy ảnh hưởng của cholesterol đến nguy cơ vữa xơ
động mạch. Một kết luận tương tự cũng được ghi nhận từ
các nghiên cứu lớn ở Ấn Độ, Ba Lan, Guatemala, và Mĩ.
Nói
tóm lại, các nghiên cứu này cho thấy mối liên hệ giữa
cholesterol và nguy cơ vữa xơ động mạch không hiển
nhiên.
Vấn
đề then chốt. Vấn đề được đặt lại là có phải các thực
phẩm giàu chất béo động vật làm tăng cholesterol, hay
ngay cả, mức độ cholesterol cao làm nghẽn động mạch?
Vấn đề then chốt là có phải chế độ ăn uống hay
cholesterol liên quan (ảnh hưởng) đến nguy cơ bị chết vị
bệnh xơ cứng động mạch.
Trong
một phân tích dữ liệu từ 7 nước, kết quả cho thấy một
tương quan giữa tỉ lệ tử vong v́ bệnh tim và mức độ tiêu
thụ chất béo không có ảnh hưởng ǵ cả. Nhưng đó chỉ là
những mối tương quan (association), chứ không phải chứng
cớ của nguyên nhân và hậu quả (cause-and-effect
relationship). Phương pháp phân tích thống kê và cách
sử dụng dữ liệu trong phân tích này có nhiều vấn đề
nghiêm trọng và giới khoa học cảm thấy không mấy tin vào
kết quả phân tích. Ở Phần Lan và Hi Lạp, tỉ suất tử
vong v́ bệnh tim rất khác biệt giữa các vùng, mặc dù chế
độ ăn uống trong dân số các vùng này rất giống nhau.
Một nghiên cứu lớn khác, “Monica”, do Tổ chức Y tế Thế
giới tài trợ, phân tích dữ liệu từ 21 nước trong ṿng 10
năm trời không phát hiện được mối liên hệ giữa tỉ lệ tử
vong v́ bệnh tim và một số yếu tố khác, kể cả mức độ
cholesterol. Các nhà nghiên cứu kết luận rằng kết quả
của Monica cho thấy sự khó khăn của một nghiên cứu y học
quốc tế, hơn là làm sáng tỏ vai tṛ của cholesterol
trong bệnh tim.
Rất
nhiều yếu tố ảnh hưởng đến bệnh tim, và những yếu tố này
khác nhau giữa các quốc gia. Do đó, suy luận về nguyên
nhân – hậu quả từ những mối tương quan thống kê giữa các
quốc gia là một việc làm nguy hiểm. Chẳng hạn như, nếu
chất béo trong thức ăn là thủ phạm gây ra bệnh tim như
được giới y tế mô tả, chúng ta ít ra phải thấy mối quan
hệ này trong những người bị đau tim. Song, cho tới bây
giờ, bằng chứng vẫn chưa được thuyết phục. Trong số 13
nghiên cứu trong những bệnh nhân bị đau tim, có đến 12
nghiên cứu cho thấy mức độ tiêu thụ chất béo trong những
bệnh nhân này không khác với những người không bị bệnh
đau tim.
Ở
một vài nước, tỉ lệ bệnh đau tim tăng giảm một cách nhịp
nhàng với mức độ tiêu thụ chất béo động vật. Ở các nước
khác, trong khi mức độ tiêu thụ chất béo động vật thay
đổi, nhưng tỉ suất tử vong do bệnh tim không thay đổi.
Ở Thụy Sĩ chẳng hạn, tính từ Thế chiến thứ II, mức độ
tiêu thụ chất béo động vật giảm 20%, nhưng tỉ lệ tử vong
v́ bệnh tim tăng gấp 10 lần! Ở Mĩ một khuynh hướng
tương tự cũng được ghi nhận giữa 1960 và 1930.
Trong
những người Nhật di cư đến Mĩ sinh sống, bằng chứng cũng
không thuyết phục như người ta tuyên bố. Quả đúng là tỉ
lệ tử vong v́ bệnh tim trong những di dân gốc Nhật ở Mĩ
tương đương với tỉ lệ trong người Mĩ địa phương. Cũng
như trường hợp của người Masai ở Nairobi, thay đổi lối
sống có vẻ quan trọng hơn thay đổi chế độ ăn uống,
Những người di dân Nhật sống trong cộng đồng Nhật (ở
Mĩ), ngay cả khi họ dùng thức ăn Mĩ, có tỉ lệ đau tim
thấp hơn những người Nhật không sống trong các cộng đồng
người Nhật nhưng vẫn dùng thức ăn Nhật.
Bằng
chứng về ảnh hưởng xấu của chế độ ăn uống “thiếu lành
mạnh” đến bệnh tim có vẻ bay lượn từ mức độ yếu ớt, thậm
chí ở mức độ không hiện hữu. Công tŕnh nghiên cứu
“cholesterol tốt” ở Anh và nghiên cứu Framingham về
“cholesterol xấu” không phải là những nghiên cứu tiêu
biểu; mà chỉ là những nghiên cứu có kết quả phù hợp với
những lời khuyên của giới y tế công cộng quốc gia.
Nhưng phần lớn các nghiên cứu cho thấy không có mối liên
hệ giữa cholesterol và bệnh tim mạch. Đă có vô số
nghiên cứu về mối liên hệ giữa “cholesterol tốt” (tức là
HDL) và khả năng “bảo vệ” quả tim, nhưng kết luận mạnh
nhất mà các nhà nghiên cứu có thể phát biểu là không thể
kết luận được. Cuộc truy t́m một bằng chứng quyết định
vẫn c̣n tiếp tục. Nếu cholesterol tốt có vai tṛ bảo vệ
tim, th́ mức độ ảnh hưởng của nó chắc rất khiêm tốn: có
nhiều người hầu như không có cholesterol tốt trong máu,
nhưng cũng chẳng mắc bệnh tim. Ngay cả mối liên hệ đă
từng được phát hiện cũng không hoàn toàn nhất quán: có
lúc cholesterol tốt xuất hiện như là một yếu tố tốt, có
khi lại là một yếu tố xấu. Có khi kết quả nghiên cứu
không thể nào giải thích được theo như “giáo điều” hiện
nay, như trường hợp tổng số lượng cholesterol (tức bao
gồm cả cholesterol tốt và cholesterol xấu) lại tỏ ra là
một yếu tố quan trọng. Nếu quả thật tổng số lượng
cholesterol là một yếu tố tốt th́ cả hai cholesterol tốt
và cholesterol xấu đều có ảnh hưởng tích cực đến tim!
Trong
một nghiên cứu, với hơn 7000 đàn ông từ 24 thành phố
khác nhau ở Anh, các nhà nghiên cứu cố chứng minh ảnh
hưởng tích cực của cholesterol tốt. Khi các nhà nghiên
cứu phân tích số liệu của 193 người chết v́ bệnh tim, họ
phát hiện rằng HDL (cholesterol tốt) trong những người
này thấp hơn HDL trong những người c̣n sống khoảng 6%.
Nói một cách khác, HDL có ảnh hưởng tích cực. Nhưng khi
họ điều chỉnh cùng các yếu tố quan trọng khác (như độ
tuổi, trọng lượng, chiều cao, v.v…) th́ sự khác biệt
không c̣n có ư nghĩa nữa. Vài năm sau đó, khi con số
người bị chết v́ bệnh tim tăng lên 443, ảnh hưởng của
cholesterol tốt lại xuất hiện, nhưng trong chiều hướng
không thể nào giải thích được, v́ tổng số lượng
cholesterol cũng có ảnh hưởng tốt! Nói tóm lại, ngay cả
trong một nghiên cứu được tiến hành một cách nghiêm túc,
theo dơi cẩn thận, mà kết quả nghiên cứu cũng biến đổi
theo con số và thời gian. Chưa ai biết nếu các nhà
nghiên cứu phân tích ảnh hưởng của cholesterol tốt cùng
các yếu tố khác th́ họ sẽ phát hiện những ǵ ?!
Có tội, nhưng
có cơ sở để kháng án
Vào
thập niên 1970s, sau khi kiểm tra tất cả các bằng chứng
khoa học, các bồi thẩm đoàn khoa học đồng ư rằng chất
béo trong thức ăn và cholesterol xấu có tội. Từ đó,
chính phủ các nước Tây phương dồn mọi nỗ lực vào việc
bảo vệ sức khỏe người dân từ kẻ giết người nhầy nhụa
này. Các nước giàu có, nơi mà bệnh tim là căn bệnh số
một làm chết người, tiêu ra nhiều tiền để giáo dục quần
chúng về những độc hại của cholesterol xấu và chất béo
động vật. Giới chức y tế khuyến cáo dân chúng nên
thường xuyên xem xét độ cholesterol xấu sao cho không
quá 160 mg/dl, và cholesterol tốt ít nhất là 35 mg/dl.
Phần
lớn các nước Tây phương đă đạt được một vài thành quả
trong việc thay đổi chế độ ăn uống của người dân, Ở
Anh, tổng số lượng tiêu thụ chất béo được ngăn chận c̣n
lại khoảng 40%, và dân chúng càng ngày càng gia tăng
lượng chất béo từ thực vật, với tỉ số P/S tăng từ 0.22
vào năm 1977 lên 0.37 vào năm 1987. Ở Mĩ, lượng calorie
từ chất béo băo ḥa vẫn c̣n 13%, và lượng cholesterol từ
thực phẩm tuy có giảm nhưng vẫn c̣n khá cao (435
mg/ngày). Tuy thay đổi tương đối chậm, nhưng các nước
như Mĩ, Anh, Canada, Úc tuyên bố rằng họ đă thành công
trong việc giảm tỉ suất tử vong từ bệnh tim mạch. Tính
từ thập niên 1960s, tỉ lệ tử vong đă tụt xuống khoảng
60% ở Bắc Mĩ, và 40% ở Tây Âu. Tuy nhiên tỉ lệ tử vong
từ bệnh tim mạch vẫn c̣n cao và chưa giảm ở các nước
trong khối Đông Âu.
Mới
nh́n vào t́nh h́nh, chúng ta có thể nói rằng bồi thẩm
đoàn khoa học đă có quyết định đúng, và giới y tế có lí
khi tập trung vào việc cải thiện chế độ ăn uống của
người dân nhằm làm giảm lượng cholesterol. Tuy nhiên,
chúng ta không thể chấp nhận một cách dễ dàng như thế mà
không nghi ngờ sự giảm thiểu tỉ lệ tử vong là do kết quả
của giáo dục quần chúng. Có nhiều yếu tố xảy ra và thay
đổi trong thời gian mà tỉ lệ tử vong tụt xuống một cách
ngoạn mục. Trong những yếu tố này, phải kể đến việc
chẩn đoán kịp thời và tiến bộ trong việc điều trị bệnh
tim. Và, có vài sự kiện không mấy b́nh thường xảy ra
trong thời gian này. Ở Nhật, tỉ lệ tử vong từ bệnh tim
cũng giảm một cách ngoạn mục. Song, với tỉ lệ bệnh tim
thấp ở Nhật và mức độ cholesterol thấp, chính phủ Nhật
không cần đến một cuộc giáo dục quần chúng về tác hại
của cholesterol. Thực ra, mức độ tiêu thụ thịt heo, ḅ,
trừu, v.v… tăng một cách đáng kể trong khoản thời gian
1970s và 1980s. Cũng trong cùng thời gian, mức độ
cholesterol trong người Nhật cũng tăng theo. Nhưng tỉ
lệ người bị bệnh tim ở Nhật vẫn c̣n thấp, và ở Anh, dù
có cải tiến chế độ ăn uống, tỉ lệ người bị bệnh tim vẫn
cao.
Thành
phần xă hội (giai cấp) là một yếu tố quan trọng, và cho
chúng ta một vài suy nghĩ. Công chức cao cấp (c̣n gọi
là “mèo mập”, hay “fat cats”), với chế độ ăn uống phong
phú và đa dạng, là thành phần ít bị bệnh tim, so với
những công chức cấp thấp. Kể từ thập niêm 1960s, công
tŕnh nghiên cứu “Whitehall study” theo dơi sức khỏe của
hơn 17000 công chức Anh. Các nhà nghiên cứu phát hiện
rằng những công chức cấp thấp có tỉ lệ bị bệnh tim cao
hơn những công chức cao cấp. Không những thế, tỉ lệ tử
vong trong công chức cấp thấp lại tăng theo thời gian,
trong khi tỉ lệ tử vong trong thành phần cao cấp lại
giảm!
Những
hiện tượng “mâu thuẫn” như thế làm cho chúng ta cảm thấy
khó mà hiểu được những con số thống kê của giới y tế
công cộng trong ṿng 30 năm qua. Chúng ta cần thêm
nhiều bằng chứng trực tiếp nếu các chương tŕnh giáo dục
quần chúng về chế độ ăn uống quả có ảnh hưởng tích cực
đến bệnh tim. Và, trong thời gian qua, đă có nhiều
nghiên cứu t́m cách chứng minh mối liên hệ này. Hơn 40
thử nghiệm lâm sàng, với hơn
100000 người t́nh nguyện, t́m cách
chứng minh rằng giảm độ cholesterol trong máu ngăn ngừa
nguy cơ bệnh tim. Kết quả cho thấy trong một số nghiên
cứu, số người bị bệnh tim quả có giảm nhưng chỉ chút ít,
trong khi đó trong nhiều nghiên cứu, số người bị bệnh
tim lại tăng. Một phân tích tổng hợp kết quả của tất cả
các thử nghiệm này kết luận rằng giảm độ cholesterol chỉ
làm giảm số người bị bệnh tim khoảng 2.8%, nhưng tổng số
tử vong lại tăng từ 5.8% lên 6.1%! Nếu đọc một cách máy
móc, kết quả này cho chúng ta biết rằng độ cholesterol
cao có thể có ảnh hưởng tích cực đến sức khỏe!
Trong
vài năm trở lại đây, có một vài phát triển đáng kể.
Thay v́ thay đổi chế độ ăn uống, một số thử nghiệm lâm
sàng dùng thuốc để giảm lượng cholesterol, và xem những
thuốc này có thể làm giảm số tử vong v́ bệnh tim hay
không. Trong số những thử nghiệm này, có thuốc Zocord
và Pravachol [thuộc nhóm thuốc statins] cho ra những kết
quả mang tính thuyết phục cao. Statins làm giảm độ
cholesterol và giảm tỉ lệ tử vong v́ bệnh tim. Như vậy,
có phải cholesterol xấu quả có tội, ngay cả chế độ ăn
uống với nhiều chất béo là vô tội? Không hẳn vậy. Bởi
v́ sự thành công của statins có thể chẳng dính dáng ǵ
đến việc giảm độ cholesterol xấu trong máu.
Statins
giảm độ cholesterol v́ chúng kiềm chế khả năng của cơ
thể sản xuất ra mevalonate, một tiền thân của
cholesterol. Nhưng vấn đề ở đây là mevalonate cũng là
tiền thân của các chất khác. Một trong những chất đó là
sản xuất ra những tiểu huyết cầu (platelets) làm cho cho
máu không đông đặc được (thông thường tiểu huyết cầu làm
cho máu đông đặc), và làm cho các tế bào của cơ ít tích
cực hơn. Statins, do đó, có thể ngăn ngừa bệnh tim,
nhưng qua hai cơ chế chẳng dính dáng ǵ đến
cholesterol.
Cũng
có thể statins làm giảm giảm độ cholesterol và đồng thời
làm giảm tỉ lệ tử vong v́ bệnh tim. Và, các dữ kiện
nghiên cứu lâm sàng có vẻ phù hợp với giả thuyết này.
Statins làm giảm tỉ lệ tử vong từ bệnh tim trong hầu hết
mọi ngừơi, ngay cả trong những người mà độ cholesterol
được xem là an toàn, hay trong những người có độ
cholesterol rất thấp.
Thành
ra, giàu chất béo trong chế độ ăn uống và cholesterol
xấu có thể vô tội, chứ không phải có tội như được tô vẽ
như hiện nay. Nói cách khác, có nhiều lí do và bằng
chứng để kháng án.
Nhưng nếu
cholesterol vô tội, yếu tố nào có tội?
Hơn
20 năm qua, sau khi giới khoa học tuyên bố rằng
cholesterol có tội, ngày nay chúng ta cần suy nghĩ lại
v́ đó có thể là một vụ án khoa học oan ức. Nhưng nếu
cholesterol vô tội trong việc gây ra bệnh tim, ai là kẻ
có tội? Chắc chắn phải có thủ phạm trong một sự kiện.
Trong
số những tranh luận và phản biện, có một sự thật quan
trọng vào bậc trung tâm mà không ai tranh căi và đ̣i hỏi
một lời giải thích. Những người với độ cholesterol cao
có tỉ lệ bị bệnh tim cao hơn những người với độ
cholesterol b́nh thường hay thấp. Làm sao ḥa giải sự
thật này với quan điểm rằng cholesterol vô tội? Công
tŕnh thử nghiệm lâm sàng statins cho chúng ta một vài
manh mối. Có lẽ có một số yếu tố không những chỉ làm
tăng độ cholesterol nhưng cũng làm tăng nguy cơ bệnh tim
mạch. Nếu những yếu tố này quả hiện hữu, chúng có thể
là những kẻ có tội thật sự, chịu trách nhiệm cho những
cái chết liên quan đến bệnh tim, và vô t́nh làm cho
cholesterol thành kẻ có tội. Trong các t́nh huống tội
phạm h́nh sự, đây là một trường hợp khá thông thường; và
trong hệ thống sinh học, trường hợp lừa dối này cũng
hoàn toàn có thể xảy ra.
Cho
đến nay, chúng ta đă có một danh sách dài về những yếu
tố này, và chúng là những yếu tố dính dáng đến “lối
sống”: bệnh béo ph́, bệnh đái đường, hút thuốc, thiếu
vận động, nghèo khó, thất nghiệp, căng thẳng tâm thần
(stress), huyết áp cao, khó ngủ, v.v… đều có khả năng
làm tăng nguy cơ bị bệnh tim mạch. Tất cả những ǵ ảnh
hưởng đến tổng số lượng cholesterol, và một vài yếu tố
(như bệnh béo ph́, hút thuốc, huyết áp cao và thiếu vận
động) c̣n ảnh hưởng đến tỉ số cholesterol tốt và
cholesterol xấu. Lượng cholesterol tốt trong những
người thiếu vận động thấp hơn đến 27% so với những người
có vận động trung b́nh, và thấp hơn 41% so với những
người hay chạy bộ. Đối với bệnh tim, ảnh hưởng của
những yếu tố trên đây mang tính tuyết phục cao hơn so
với ảnh hưởng của cholesterol hay chất béo trong thực
phẩm.
Chẳng
hạn như hút thuốc lá là nguyên nhân của 1 trong 5 trường
hợp tử vong v́ bệnh tim mạch. Đối với những người dưới
50 tuổi, tỉ lệ bị bệnh tim trong những người hút thuốc
lá cao gấp 10 lần so với những người không hút thuốc.
Trong những người ở độ tuổi 30 và 40, khoảng 80% các
trường bệnh đau tim xảy ra trong những người hút thuốc
lá. Những người hút 20 điếu mỗi ngày có nguy cơ bị bệnh
tim cao hơn 75% đến 80% so với những người không hút
thuốc lá. Những người ngưng hút thuốc, nguy cơ bị bệnh
tim giảm xuống khoảng 50% trong ṿng một năm sau khi
ngưng hút. Ngay cả những người không hút thuốc, nhưng ở
gần những người hút thuốc, cũng có nguy cơ bị bệnh tim
cao hơn trung b́nh đến 20%.
Trọng
lượng cơ thể liên quan đến bệnh tim (qua đái đường).
Chẳng hạn như đối với những người ở độ tuổi trung niên,
nếu trọng lượng tăng 10 kg so với lúc họ c̣n ở độ tuổi
18, có tỉ lệ tử vong v́ bệnh tim cao gấp 2 hay 3 lần so
với những người mà trọng lượng không thay đổi. Nếu
trọng lượng tăng 20 kg, tỉ lệ tử vong có thể cao gấp 7
lần và có khả năng chết sớm. Ngoài ra, béo ph́ c̣n gây
ra bệnh đái đường, và đái đường có thể làm tăng nguy cơ
bị bệnh tim.
Cái
nghèo cũng làm tăng nguy cơ bị bệnh tim qua nhiều cơ chế
có liên hệ với nhau. Thất nghiệp, tâm thần căng thẳng,
áp huyết cao, thiếu ngủ hay khó ngủ đều có thể dính dáng
với bệnh tim. Thiếu dinh dưỡng trong thời ḱ c̣n mang
thai cũng có thể là một yếu tố nguy hiểm cho bệnh tim
sau này. Những trẻ em này khi lớn lên thường có áp
huyết cao, trọng lượng thấp, và do đó có nguy cơ bị bệnh
tim cao hơn trung b́nh. Rất có thể, thời ḱ thiếu dinh
dưỡng trong lúc c̣n là bào thai làm cho bào thai cố gắng
điều chỉnh hệ sinh lí để tối đa hóa cơ hội sống c̣n của
bào thai và do đó làm giảm khả năng sống sót về lâu về
dài.
Danh
sách những yếu tố nguy hiểm cho bệnh tim chắc chắn là
chưa đầy đủ. C̣n nhiều yếu tố chưa được biết đến, hay
chưa được phát hiện. Người Ấn Độ có tỉ lệ bị bệnh tim
mạch rất cao, và lượng cholesterol trong người Ấn Độ
cũng khá cao. Một sự thật thú vị là đường kính động
mạch của người Ấn Độ thường nhỏ hơn trong người Tây
phương đến 10%.
Không
phải bất cứ yếu tố nào bị “t́nh nghi” làm tăng nguy cơ
bệnh tim mạch đều hoàn toàn phù hợp với lí thuyết về mối
liên hệ giữa cholesterol và bệnh tim mạch, v́ chúng cũng
thường được t́m thấy trong những người có độ cholesterol
thấp. Chẳng hạn như những người với chứng trầm cảm
(depression) có tỉ lệ bị bệnh tim mạch cao gấp 4 lần so
với những người không bị chứng trầm cảm, nhưng cũng
trong những người trầm cảm, độ cholesterol thường rất
thấp!
Ngoài
chứng trầm cảm, các yếu tố khác thường thấy trong những
người có độ cholesterol cao. Đây là những thủ phạm, hay
ṭng phạm, trong bệnh tim, nhưng chúng ta chưa biết một
cách rơ ràng. Chúng ta cần thêm bằng chứng. Nói cho
cùng, làm sao chúng ta biết được yếu tố nào gây ra hậu
quả ǵ, và mối liên hệ giữa chúng ra sao. Có phải những
yếu tố trong danh sách trên gây ra bệnh tim, bởi v́
chúng làm tăng sản lượng cholesterol, và dùng
cholesterol để làm việc tội lỗi? Hay chúng là nguyên
nhân gây ra bệnh tim, nhưng hoàn toàn không dính dáng ǵ
đến cholesterol? Một cách nghiên cứu để mổ xẻ sự phức
tạp này là bằng cách thu thập càng nhiều dữ kiện càng
tốt, và dùng các phương pháp phân tích thống kê để ước
đoán mức độ quan trọng của từng yếu tố đối với bệnh
tim. Nhưng nếu các yếu tố này liên hệ với nhau v́ lí do
sinh học th́ một phân tích như thế cũng không cho chúng
ta thêm thông tin, v́ một mô h́nh toán học không thể nào
cho chúng ta biết yếu tố nào là trực tiếp và yếu tố nào
là gián tiếp. Nh́n chung, những đàn ông bị đau tim
thường có độ tuổi cao, béo ph́, áp huyết cao, hút thuốc
lá, nhưng không phải v́ độ cholesterol cao.
Viêm: một yếu
tố mới.
Không
một nhà khoa học nào biết được ḿnh đă phát hiện toàn bộ
các yếu tố nguy hiểm gây nên bệnh tim; yếu tố quan trọng
nhất có thể vẫn c̣n trong bóng tối. Một cách khả quan
nhất là ước tính xem tất cả các yếu tố đă biết “giải
thích” bao nhiêu phần trăm số trường hợp bệnh tim, và
phần c̣n lại (chưa giải thích được) chính là phần để các
nhà khoa học phát hiện thêm. Chẳng hạn như tỉ lệ người
bị bệnh tim càng ngày càng giảm, nhưng những thay đổi
trong các yếu tố [liên quan đến bệnh tim] mà chúng ta
biết ngày nay không thể giải thích hết xu hướng này.
Đúng là số người hút thuốc lá giảm (từ 50% xuống c̣n
khoảng 30%) trong ṿng trên dưới 40 năm qua, huyết áp
máu trung b́nh trong dân số cũng giảm, t́nh trạng thiếu
dinh dưỡng trong thời ḱ mang thai cũng giảm và rất hiếm
gặp ngày nay ở các nước đă phát triển. Tuy nhiên, số
người béo ph́ và tiểu đường càng ngày càng gia tăng.
Các nhà khoa học ước đoán rằng tất cả các yếu tố liên
quan đến bệnh tim mà chúng ta biết đến chỉ giải thích
khoảng 50% trở lại con số bệnh tim và tử vong v́ bệnh
tim trong thời gian 50 năm qua. Thế th́ làm sao chúng
ta giải thích phần 50% c̣n lại?
Một
yếu tố có triển vọng giải thích một số trường hợp bệnh
tim, nhưng không có bao nhiêu người tin vào, nếu không
muốn nói là có nhiều người phản đối: điểm khởi đầu của
quá tŕnh phát bệnh tim là viêm động mạch do nhiễm
trùng. Đă từ lâu, giới khoa học ghi nhận rằng viêm động
mạch là bước đầu tiên trong quá tŕnh phát bệnh vữa xơ
động mạch, nhưng họ tin rằng sự tổn hại này là do
cholesterol gây nên. Nhưng có thể viêm động mạch xảy ra
trước, rồi mới đến cholesterol tích tụ sau. Có vài bằng
chứng có vẻ nhất quán với quan điểm này. Trong thỏ,
người ta phát hiện là một khi vành động mạch bị vỡ,
không có mảng (plaque), dù chúng có độ cholesterol rất
cao.
Dĩ
nhiên, viêm động mạch có thể phát sinh bằng nhiều cách,
chẳng hạn như qua hóa chất từ thuốc lá (khói thuốc là
một chất kích thích trong máu). Các nhà khoa học Pháp
từng chứng minh rằng trong chuột, khi được đặt vào môi
trường không khí ô nhiễm, hệ thống tuần hoàn bị hư hại.
Sự “hư hại” này xuất hiện dưới h́nh thức những mảng rất
giống với vữa xơ động mạch. Ngoài ra, c̣n có yếu tố di
truyền: các mảng thường xảy ra trong chuột không có
protein IL-10. Chuột không có khả năng sản xuất IL-10
có động mạch bị nghẽn cao gấp 30 lần (và nguy cơ vành
động mạch bị vỡ cao gấp 4 lần) so với chuột có IL-10.
Khoảng 10% con người thiếu IL-10 và có thể những người
này rất dễ bị nhiễm vi khuẩn.
Một
vi khuẩn được chú ư nhiều nhất là Chlamydia
pneumoniae, thường được gọi là TWAR. Vi khuẩn này
tấn công và lưu truyền trong con người qua ho, và hắt
hơi. Trong những người ở độ tuổi 20, xác suất mang vi
khuẩn này khoảng 50%. Từ phổi, vi khuẩn này có thể “quá
giang” tiểu thực bào để vào động mạch. Trong thập niên
1990s, giới khoa học ghi nhận rằng những người bị bệnh
tim mạch thường có độ kháng thể TWAR rất cao, tức là họ
đă từng bị nhiễm vi khuẩn nhiều lần trước khi bị bệnh.
Ngoài ra, DNA và protein của vi khuẩn này thường xuất
hiện trong các mảng đóng phía ngoài của vành động mạch,
thậm chí có trường hợp vi khuẩn sống cũng được t́m thấy
trong đó. Trong một nghiên cứu ở Ḥa Lan, dấu hiệu vi
khuẩn được t́m thấy trong khoảng 60% đến 79% trường hợp
động mạch bị nghẽn, và ít khi nào t́m thấy trong các
động mạch b́nh thường. Nhưng, một vài nghiên cứu khác
không t́m thấy dấu hiệu của vi khuẩn này trong những
động mạch bị nghẽn!
Sự
gia tăng bệnh tim trong đầu thế kỉ 20 và suy giảm trong
thời gian gần đây được ví von như là một bệnh dịch, bởi
v́ quá tŕnh phát triển bệnh này có vẻ đi theo một quá
tŕnh thường t́m thấy trong bệnh dịch, nhưng với một
thời gian lâu dài hơn bệnh dịch. Có thể bệnh tim thực
sự là một bệnh dịch theo cách hiểu thông thường, hơn là
một cách nói ví von. Nhiễm vi khuẩn có thể giải thích
tại sao tỉ suất tử vong v́ bệnh tim giảm một cách nhanh
chóng, và sự suy giảm đó không nằm trong ḱ vọng của
chúng ta. Những loại thuốc trụ sinh loại kiềm khuẩn như
tetracyline được đưa vào y tế công cộng cùng thời với tỉ
suất tử vong bắt đầu suy giảm.
Dĩ
nhiên, chúng ta phải cẩn thận, không nên nhầm lẫn như
trường hợp của cholesterol, không vội vàng chụp mũ “giết
người” cho vi khuẩn Chlamydia pneumoniae nếu nó chỉ là
một yếu tố bàng quang vô tội, chỉ có mặt khi sự việc xảy
ra mà không có vai tṛ ǵ quan trọng. Trong khi
cholesterol là một hóa chất có mặt một cách tự nhiên
trong động mạch của con người, c̣n Chlamydia pneumoniae
th́ không. Chlamydia pneumoniae và “thân nhân” của nó
đă từng được nhận dạng là một thủ phạm làm cho con người
hiếm muộn bằng cách làm tắc nghẽn ống dẫn trứng/tinh
trùng trong đàn bà/đàn ông. Rất có thể Chlamydia
pneumoniae cũng là thủ phạm có thể giải thích 50% trường
hợp bệnh tim mà chúng ta chưa giải thích được hiện nay.
Cholesterol
không có tội?
Một
khía cạnh mới và có lẽ là sau cùng trong câu chuyện
cholesterol: Chúng ta phải hỏi tại sao cholesterol luôn
luôn có mặt trong khi tim bị nghẽn? Và, tại sao những
yếu tố nguy hiểm liên quan đến bệnh tim đều, phần lớn,
làm tăng độ cholesterol trong máu? Có một cách giải
thích, nhưng đ̣i hỏi người đọc phải can đảm mới tiếp
nhận được cách giải thích này. Có thể cholesterol luôn
luôn có mặt khi động mạch bị hư hại là để hàn gắn động
mạch, chứ không phải làm hư hại động mạch. Cholesterol
có thể coi như là một “chiến b́nh” tiền trạm, cần mẫn,
có mặt tại các “chiến trường” như là một sự tiến hoá của
cơ thể con người.
Cholesterol,
như chúng ta biết, là một hóa chất quan trọng cho cơ
thể. Chúng đóng vai tṛ quan trọng trong việc bảo vệ
cấu trúc của tế bào, giúp cho phụ nữ có thể sinh sản,
giúp bào thai phát triển b́nh thường. Trong chuột, khi
cholesterol bị làm cho “cạn”, chúng thường sinh chuột
con với nhiều dị tật. Cholesterol c̣n dính dáng vào
việc sản xuất ra hormones và mật, và có thể nhiều hóa
chất khác mà chúng ta chưa biết hết. Cơ thể con người
điều chế độ cholesterol một cách tinh vi, điều chỉnh sự
di chuyển của cholesterol theo nhu cầu của tế bào. Mặc
cho thay đổi chế độ ăn uống, sự biến chuyển về
cholesterol ngày này sang ngày nọ thường bất biến (hay
thay đổi chẳng bao nhiều). Khi con người hút thuốc, trở
nên béo ph́, buồn bă, và nhiễm vi khuẩn, v.v…
cholesterol trong cơ thể con người phải thay đổi. Có lẽ
lượng cholesterol tăng lên khi một cá nhân bị bệnh tim
[do các yếu tố trên gây ra] là một cơ chế ḥa giải của
cholesterol. Cơ thể cần phải tăng, chứ không giảm,
lượng cholesterol để đáp ứng nhu cầu chữa trị. Tại sao?
Hút
thuốc làm nhiễm vành động mạch. Chlamydia pneumoniae
cũng làm nhiễm vành động mạch. T́nh trạng căng thẳng,
cao huyết áp, béo ph́, và tiểu đường có lẽ hoặc là trực
tiếp làm nhiễm động mạch, hoặc qua một yếu tố khác như
vi khuẩn. Hăy cứ giả thiết rằng hiện tượng tích tụ
cholesterol trên vành động mạch là một cơ chế để hàn gắn
động mạch, chống lại nhiễm trùng và viêm. Trong trường
hợp này, hàm lượng và lưu thông cholesterol cần phải gia
tăng, nhất là trong trường hợp những vệt acid béo không
chỉ h́nh thành và quên lăng, nhưng được duy tŕ;
cholesterol cũ bị thải và thay thế vào đó là cholesterol
mới. Một số vệt béo này có thể chỉ có mặt tạm thời, sau
đó sẽ được các tàu HDL di chuyển đi chỗ khác một khi
chúng đă làm xong bổn phận và động mạch được hàn gắn
lành mạnh. Do đó, những vật béo này không hẳn là nguy
hiểm như chúng ta tưởng. Người Nhật có độ vữa xơ động
mạch có khi c̣n cao hơn cả người Mĩ, nhưng họ ít bị bệnh
tim hơn người Mĩ. Trong quá tŕnh tiến hóa trong quá
khứ, cơ chế này có vẻ có công hiệu: bệnh tim là một cơn
dịch trong thế giới phương Tây vào thế kỉ 20. Có lẽ
hiện tượng này xảy ra khi nhiễm động mạch là một vấn đề
lâu dài do lối sống giả tạo của người Tây phương không
thể đối phó với t́nh h́nh; nhu cầu cho microphages và
platelets càng ngày càng cao để cuối cùng dẫn đến bệnh
tim.
Cholesterol
là một hóa chất quan trọng, có khi quan trọng hơn chúng
ta nh́n nhận. Có thể chúng ta đă tắc trách làm lộn xộn
hoạt động của chúng trong cơ thể chúng ta. Trường hợp
hội chứng FH cho chúng ta một bài học quí giá về hậu quả
tai hại của việc can thiệp vào hệ thống vận hành của
cholesterol. Có lẽ cái đặc tính căn bản của căn bệnh
không phải là thừa cholesterol như chúng ta từng được
giảng dạy, nhưng nó có thể cho