|
Vấn
đề đào tạo tiến sĩ: kinh nghiệm từ Australia
Nguyễn
Văn Tuấn
(bản rút
gọn của bài này đă đăng trên Tuổi Trẻ cuối tuần ngày
17/9/06)
Tin
tức được đưa lên báo chí từ
Hội
nghị hiệu trưởng các trường phía Nam
toàn là những tin làm sốc người đọc. Những đề án nghiên cứu cấp
tiến sĩ cười ra nước mắt và tầm thường đến nổi Bộ trưởng Nguyễn
Thiện Nhân phải thốt lên “Bằng
tiến sĩ không phải vật trang sức”
đến những
thiên
vị trong việc thẩm định luận án
làm cho những ai quan tâm đến nền giáo dục đại học ở nước nhà
phải ngao ngán lắc đầu. Thêm vào đó là những lem nhem về nghiên
cứu khoa học, đạo văn, mướn người viết luận án, v.v… liên tục
được nhắc đến trên báo chí cho thấy nền học thuật trong nước gần
như trong t́nh trạng báo động.
Theo
dơi t́nh h́nh và t́m hiểu cách tổ chức đào tạo tiến sĩ ở trong
nước trong thời gian qua, tôi thấy cách làm của Việt Nam có phần
quá khác với nước ngoài, hay nói thẳng như giáo sư Hoàng Tụy là
làm
khoa học chẳng theo chuẩn mực quốc tế.
Trong hai bài viết trước đây, tôi đă bàn qua mục đích của việc
theo học và
đào tạo
tiến sĩ và
giới thiệu các
tiêu
chuẩn cho một học vị tiến sĩ
(Tạp chí hoạt động khoa học, số tháng 8/2006). Ở đây,
tôi muốn nhân cơ hội bàn thêm về điều kiện nhân lực và cơ sở vật
chất để đào tạo tiến sĩ qua kinh nghiệm đào tạo ở Australia mà
người viết đă từng tham gia đào tạo từ 10 năm qua.
Ở
Australia, qui tŕnh đào tạo một tiến sĩ bắt đầu bằng một đề
án. Các nghiên cứu sinh hội đủ điều kiện theo học tiến sĩ (như
phải có bằng cử nhân hạng danh dự, hay có bằng thạc sĩ và có
trải qua nghiên cứu) phải viết một đề cương nghiên cứu trong
ṿng 2 trang, trong đó nói rơ mục tiêu nghiên cứu là ǵ, phương
pháp ra sao, và kết quả ḱ vọng là ǵ. Đề cương sẽ được đệ
tŕnh cho một trung tâm đào tạo (cụm từ “trung tâm” tôi dùng ở
đây là chỉ các viện nghiên cứu và trường đại học), và ở đây hội
đồng khoa học sẽ gửi đề cương cho ba chuyên gia để thẩm định xem
đề án nghiên cứu có thể hiện một đóng góp mới vào khoa học hay
không, và tính khả thi của nghiên cứu ra sao. Dựa vào thẩm định
và đề nghị của ba chuyên gia này, hội đồng khoa học sẽ quyết
định nhận hay từ chối đề án nghiên cứu của thí sinh. Ở viện
Garvan (và vài trung tâm đào tạo nổi tiếng khác) chúng tôi có
chính sách tiếp nhận nghiên cứu sinh vào làm việc một thời gian
từ 3 tháng đến 1 năm để xem triển vọng học hành, trước khi chấp
nhận cho theo học tiến sĩ.
Ở
Australia, đào tạo tiến sĩ chủ yếu là nghiên cứu dưới sự hướng
dẫn của một giáo sư hay nhà khoa học hội đủ điều kiện hướng
dẫn. Thời gian đào tạo tối thiểu là 3 năm, nhưng thường là 4
năm. H́nh thức là nghiên cứu toàn thời (full-time), chứ không
bán thời (part-time) hay “đào tạo từ xa”. Trong thời gian này,
nghiên cứu sinh phải
chứng tỏ ḿnh có những
kiến thức cơ bản về khoa học và những kiến thức chuyên sâu về
lĩnh vực nghiên cứu mà thí sinh theo đuổi, phải am hiểu các tài
liệu nghiên cứu cần thiết về lĩnh vực chuyên môn, phải có khả
năng cập nhật hóa kiến thức cũng như tất cả những phát triển
mới, phải chứng tỏ kĩ năng phát hiện vấn đề hay đặt câu hỏi có ư
nghĩa cho nghiên cứu chuyên ngành của ḿnh, phải làm chủ được kĩ
năng nghiên cứu, phải chứng tỏ đă đạt được những kĩ năng về
truyền đạt thông tin bằng miệng và viết, v.v... Nghiên cứu sinh
cũng được tạo điều kiện để tham dự và tŕnh bày nghiên cứu tại
các hội nghị chuyên ngành cấp quốc gia, và hội nghị quốc tế ít
nhất là 1 lần trong quá tŕnh đào tạo.
Việc
chọn người hướng dẫn luận án cũng rất quan trọng. Không phải ai
có bằng tiến sĩ cũng có thể hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sĩ.
Ở Australia, những người có quyền hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến
sĩ là những giáo sư hay nhà nghiên cứu có một chương tŕnh
nghiên cứu, có kinh nghiệm trong nghiên cứu khoa học, được đồng
nghiệp trong và ngoài nước công nhận. Có sẵn hay đang điều hành
một chương tŕnh nghiên cứu là tiêu chuẩn chứng tỏ người hướng
dẫn đă ở vị trí độc lập và có định hướng rơ ràng trong khoa
học. Cụm từ “có kinh nghiệm nghiên cứu” ở đây có nghĩa là người
hướng dẫn phải là người từng có hoạt động nghiên cứu khoa học ở
b́nh diện quốc tế, và hoạt động này được “đo lường” bằng số bài
báo khoa học đă công bố trong các tập san khoa học quốc tế (ít
nhất là 10 bài). Ngoài ra, người hướng dẫn lí tưởng phải là
người “có tên tuổi” trên trường quốc tế, tức là đă từng được mời
giảng, hay từng có giải thưởng quốc tế, hay được mời làm chủ tọa
trong các hội nghị quốc tế, hay điều hành, hay từng hướng dẫn
các nhà nghiên cứu hậu tiến sĩ.
Có
khi cần phải mời người hướng dẫn từ một trung tâm khác, kể cả
ngoại quốc, để làm người hướng dẫn nếu vài khía cạnh của đề tài
nghiên cứu nằm ngoài phạm vi chuyên môn của người hướng dẫn
chính.
Không
phải bất cứ trường đại học nào hay viện nghiên cứu nào cũng có
quyền đào tạo tiến sĩ. Những trung tâm được phép đào tạo tiến
sĩ phải có những chương tŕnh nghiên cứu khoa học rơ ràng, có
đầy đủ cơ sở vật chất, có hệ thống kiểm tra việc học hành nghiêm
chỉnh, và có nhân sự có khả năng hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến
sĩ.
Ở
Australia, cũng như ở các trường đại học Tây phương khác, luận
án tiến sĩ chỉ là một trong nhiều tiêu chuẩn để tốt nghiệp.
Khác với các đại học Âu châu, các đại học Australia không quá
đặt nặng vào luận án, mà đặt nặng vào các bài báo khoa học mà
nghiên cứu sinh đă công bố trên các tập san quốc tế. Ở Viện
Garvan, chúng tôi khuyến khích nghiên cứu sinh công bố ít nhất
là 3 bài báo trước khi viết luận án tiến sĩ. (Có nghiên cứu
sinh phải tiêu ra 6 năm trời nghiên cứu trước khi viết luận án
tiến sĩ.) Sở dĩ có điều lệ bất thành văn này là v́ chúng tôi
nghĩ rằng một luận án dù có giá trị khoa học cách mấy cũng chỉ
lưu lại trên các kệ sách của trường đại học hay được lưu hành
trong một số rất ít người liên quan, và cho dù luận án đă được
duyệt th́ vẫn chưa thể nói là luận án tốt được. V́ không lưu
hành rộng răi, cho nên ít ai biết luận án đó có giá trị ra sao
hay chỉ là những sao chép ư tưởng của người khác (như t́nh trạng
hiện nay ở nước ta). V́ thế, chúng tôi xem việc công bố nghiên
cứu trên các tập san quốc tế, nơi được mọi người thẩm định và
soi mói cẩn thận, là một cách “thử lửa” tốt nhất về chất lượng
nghiên cứu của thí sinh.
Luận
án được soạn thảo dựa vào những bài báo đă công bố. Ở các đại
học Âu châu, người ta tổ chức các buổi “bảo vệ luận án”, nơi mà
nghiên cứu sinh tŕnh bày luận án và có người phản biện hay chất
vấn. Ở Australia, h́nh thức bảo vệ luận án được xem là thiếu
hiệu quả, v́ không thể nào đánh giá một luận án tiến sĩ trong
ṿng một hay hai giờ đồng hồ. Do đó, các đại học Australia
không tổ chức những buổi bảo vệ luận án, nhưng trước khi đệ
tŕnh luận án và trong quá tŕnh theo học thí sinh phải qua ít
nhất là ba lần “khảo thí” trong các buổi seminar chuyên ngành.
Ngoài ra, thí sinh c̣n phải tŕnh bày và bảo vệ nghiên cứu của
ḿnh trong các hội nghị quốc gia và quốc tế. Tuy nhiên, ở
Australia có điều lệ thẩm định luận án (cho dù luận án dựa vào
những bài báo đă công bố), và việc thẩm định này do ba chuyên
gia ngoài trường đại học (và ít nhất một trong 3 người này phải
từ một đại học ngoại quốc). Thời gian b́nh duyệt luận án kéo
dài từ 3 tháng đến 6 tháng, và thí sinh phải trả lời tất cả các
câu hỏi của các chuyên gia trước khi hội đồng khoa bảng quyết
định trao học vị tiến sĩ hay không.
Điểm
qua phương cách đào tạo trên và đối chiếu với t́nh trạng trong
nước, phải nói rằng chương tŕnh đào tạo tiến sĩ của các trường
đại học Việt Nam chưa theo các chuẩn mực quốc tế, nếu không muốn
nói là c̣n quá nhiều bất cập. Có nghiên cứu sinh tiến sĩ từ
Việt Nam sang Australia tự hào tuyên bố rằng anh ta chỉ mướn các
công ti tư vấn phân tích và viết luận án cho anh ta, v́ anh ta
bận bịu với công việc quá! Nếu ai c̣n nghi ngờ th́ chỉ cần đọc
qua các bài báo nghiên cứu y học ở trong nước sẽ thấy
rất
nhiều thiếu sót và sai sót.
Rất nhiều nghiên cứu mà ư tưởng th́ không mới, phương pháp
nghiên cứu quá nhiều sai sót, báo cáo quá sơ sài, và giá trị
khoa học chỉ có thể nói là dưới trung b́nh. Ấy thế mà cũng có
nhiều người tốt nghiệp với học vị tiến sĩ từ những bài báo khoa
học như thế! Điều đáng ngại hơn là những “tiến sĩ” này sẽ là
những người thầy cô tương lai hướng dẫn các nghiên cứu sinh
khác.
Có
lẽ v́ những bất cập mang tính dây chuyền trong thời gian qua mà
ngày nay chúng ta có một nhóm [không ít] nhà nghiên cứu chưa có
kiến thức chuyên
sâu về lĩnh vực
nghiên cứu ḿnh theo đuổi, chưa am hiểu các tài liệu nghiên cứu
cần thiết về lĩnh vực chuyên môn, thiếu kĩ năng phát hiện vấn đề
hay đặt câu hỏi có ư nghĩa cho nghiên cứu. Chính v́ thế mà biết
bao nhiêu tiến sĩ ở nước ta không thảo nổi một đề án nghiên cứu
(chứ chưa nói đến nghiên cứu).
Để
khắc phục t́nh trạng này, tôi đề nghị các cơ quan chức năng (như
Bộ Giáo dục, Bộ Khoa học, công nghệ và môi trường, Bộ Y tế,
v.v…) nên tiến hành một số việc như sau:
Thứ
nhất là rà soát lại xem trường đại học hay trung tâm nào hội đủ
điều kiện đào tạo tiến sĩ. Hiện nay, rất nhiều trường đại học
và viện ở trong nước đều có chương tŕnh đào tạo tiến sĩ, nhưng
có nhiều nơi cơ sở vật chất c̣n quá nghèo nàn, và thậm chí chưa
có kinh nghiệm nghiên cứu khoa học tầm quốc tế. Cho nên, có lẽ
chính phủ nên đề ra những tiêu chuẩn cụ thể và dựa vào những
tiêu chuẩn đó để trao chức năng đào tạo tiến sĩ. Tôi đoán nếu
làm theo các chuẩn mực quốc tế, th́ con số trung tâm đào tạo
tiến sĩ không quá 20. Tuy nhiên, chúng ta cần chất hơn là cần
lượng. Cần phải mạnh dạn ngưng ngay các chương tŕnh đào tạo tại
các trung tâm nào không đủ tiêu chuẩn. Cũng có thể
hợp tác với các trung tâm
nước ngoài, đặc biệt là ở các nước Âu Mĩ, để đào tạo và nghiên
cứu.
Thứ
hai là nên phát triển hay xem xét các tiêu chuẩn mà các trung
tâm đào tạo nước ngoài đă áp dụng để trao quyền cho các giáo sư
hay nhà nghiên cứu nào có thể làm hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến
sĩ. Cần nhấn mạnh đến tiêu chuẩn quốc tế, bởi v́ nói cho cùng,
học vị tiến sĩ là một “giấy thông hành” làm nghiên cứu khoa học
chuyên nghiệp. Nói đến nghiên cứu khoa học là nói đến tính quốc
tế của nó, do giá trị của nghiên cứu khoa học không giới hạn
trong một quốc gia nào. Nói đến “giấy thông hành” cũng là nói
đến gia trị pháp lí quốc tế của học vị tiến sĩ. Người hướng dẫn
phải được công nhận trên trường quốc tế, để cho nghiên cứu sinh
của họ có thể t́m cơ hội thực tập hậu tiến sĩ ở bất cứ nước nào,
chứ không chỉ tại Việt Nam.
Thứ
ba là nên xem xét và đề ra những tiêu chuẩn chung cho một học vị
tiến sĩ. Hiện nay, h́nh như chưa có đại học nào đề ra những
tiêu chuẩn cho một học vị tiến sĩ, và do đó, chất lượng nghiên
cứu sinh rất khác nhau giữa các trung tâm đào tạo. Thật ra,
cũng rất khó mà đề ra những tiêu chuẩn cụ thể, v́ tùy thuộc vào
ngành nghề chuyên môn, nhưng có thể dựa vào một số
tiêu
chuẩn ở nước ngoài
mà tôi đă tŕnh bày trong một tạp chí khác mới đây để phát triển
cho trường hợp ở Việt Nam.
Thứ
tư là nên xem xét lại qui tŕnh phản biện. Như phản ảnh của vài
đại biểu về t́nh trạng
thiên
vị trong việc thẩm định luận án,
vấn đề thiên vị ở đâu cũng có, nhưng khác nhau là ở chỗ minh
bạch. Ở Australia và Mĩ, người hướng dẫn có trách nhiệm phải đề
cử ít nhất là 4 chuyên gia thẩm định luận cho Hội đồng khoa bảng
của trường đại học. Nhưng bốn người này phải được sự chấp nhận
của nghiên cứu sinh, tức trước khi đề cử người hướng dẫn phải
bàn thảo với nghiên cứu sinh. Tuy nhiên, Hội đồng khoa bảng
chọn ai cụ thể th́ cả người hướng dẫn và nghiên cứu sinh đều
không có quyền biết. Việc làm này đảm bảo tính công bằng cho
nghiên cứu sinh. Tôi đề nghị ngoài các giáo sư trong nước, cần
mời một hay hai giáo sư hay nhà khoa học nước ngoài tham gia vào
hội đồng thẩm định luận án. Sự có mặt của đồng nghiệp nước
ngoài c̣n là một cách phát biểu về sự khách quan của quá tŕnh
chấm luận án.
Học
vị tiến sĩ là một học vị cao nhất trong hệ thống giáo dục đại
học. Ở các nước phương Tây, xă hội kính trọng những người có
học vị tiến sĩ và gọi họ bằng danh xưng “Doctor”. Chương tŕnh
huấn luyện tiến sĩ là nhằm mục đích đào tạo một đội ngũ nhà khoa
học có tŕnh độ chuyên môn cao cần thiết cho việc phát triển
khoa học và công nghệ của một nước. Những người này đóng vai
tṛ then chốt trong nền khoa học, và là nguồn cung cấp nhân lực
khoa bảng cho các trường đại học của nước nhà. Do đó, có một
chương tŕnh đào tạo và huấn luyện có chất lượng cao là một bước
đầu cực ḱ quan trọng trong việc chấn chỉnh và phát triển giáo
dục đại học ở trong nước. Hi vọng những chia sẻ kinh nghiệm và
đề nghị trên đây sẽ góp một phần vào định hướng nâng cao chất
lượng đào tạo tiến sĩ ở Việt Nam.
Nước
ta đang trên đà hội nhập và gia tăng giao dịch, kể cả quan hệ
hợp tác khoa học, với thế giới bên ngoài, nhất là thế giới Tây
phương. Các nhà khoa học tương lai của ta cần phải được đào tạo
và huấn luyện qua một chương tŕnh có qui củ quốc tế, mà trong
đó họ được trang bị bằng những tri thức và kĩ năng chuyên môn
không những mới nhất, mà c̣n phải sâu nhất, để sao cho họ không
cảm thấy mặc cảm, mà c̣n tự hào cầm trong tay một học vị tiến sĩ
từ Việt Nam. |