|
Nhân câu chuyện chức danh giáo sư đại học:
Bàn về vấn đề dịch thuật và đánh giá năng suất khoa học
Nguyễn Văn Tuấn
Câu chuyện bắt đầu từ bài báo do kí giả Hoàng
Lê viết trên tờ báo điện tử VietNamNet ca ngợi thành tích vượt
bực của Phan Thị Hà Dương: “Ở tuổi 26, ngay khi vừa bảo vệ
xuất sắc luận án tiến sỹ, chị đứng đầu trong kỳ thi tuyển vào vị
trí Phó Giáo sư của ĐH Paris 7. Đến nay, chị vẫn là người phụ nữ
Việt trẻ nhất đạt thành tích này.” Thật ra cũng chẳng ai
dám chắc chắn đây là phụ nữ Việt trẻ nhất có chức danh giáo sư,
nhưng bài báo đă được nhiều báo giấy khác in lại với những cái
tít ấn tượng. Chẳng hạn như Tiền Phong chạy cái tít “Người
phụ nữ Việt trẻ nhất đoạt học hàm Phó giáo sư” (Tiền
Phong, 21/11/2005) và nhiều lời ca ngợi nồng thắm ...
Mới 26 tuổi mà được phong làm phó giáo sư tại
một đại học có tầm cỡ, vượt qua hàng trăm ứng viên khác, th́ quả
là quá tài giỏi. Nhưng bản chất của người trí thức là hoài
nghi. Có quả thật thông tin mà bài báo cung cấp là đúng với
thực tế, hay lại là một ca ngợi vẽ chim thành phượng như bao
nhiêu bài báo khác? Tiến sĩ Nguyễn Đ́nh Đăng, hiện đang công
tác ở Nhật, ṭ ṃ kiểm tra th́ thấy bài báo của Hoàng Lê có
nhiều thông tin không đúng với sự thật, như chức danh thật của
Hà Dương là Maitre de Conferences, tương đương với chức
danh Assistant Professor (theo hệ thống khoa bảng bên Mĩ)
như trên trang nhà của bộ môn mà Hà Dương đang công tác ghi rơ
ràng. Nguyễn Đ́nh Đăng viết: “Là một người Việt Nam, tôi rất
mừng v́ ḍng giống con rồng cháu tiên của chúng ta có nhiều
người học cao và tài giỏi như TS Phan Thị Hà Dương, Ngô Bảo
Châu, v.v. Nhưng chụp cho “maître de conférences” cái mũ “phó
giáo sư” là một sự tùy tiện có lẽ chỉ nước Nam ta mới có. Việc
đánh tráo khái niệm này có thể làm độc giả hiểu sai thực chất
của một nhà khoa học trẻ, bảo vệ tiến sỹ tháng 1 năm 1999, và
sau đó 8 tháng nhận biên chế maître de conférences (giảng viên).
Cần lưu ư rằng khi nhận vị trí này cô chưa có một công tŕnh nào
được công bố trên tạp chí chuyên ngành v́ bài báo đầu tiên của
cô đăng tại tạp chí chuyên ngành là vào năm 2001 [..]. Sau khi
bảo vệ tiến sỹ, cô đă đăng 8 công tŕnh nghiên cứu trên tạp chí
quốc tế trong ṿng 4 năm (từ năm 2001 đến 2004). Đó là một thành
tích đáng khen. Tuy nhiên, không biết ở Việt Nam ta thế nào, chứ
ở châu Âu, Mỹ, Nhật Bản ngày nay không thể có chuyện một người
mới 26 tuổi và chỉ với số lượng (chưa nói đến chất lượng) 8 bài
báo được đăng (hoặc đang chờ được đăng) lại có thể trở thành phó
giáo sư tại một đại học danh tiếng.”
Với giọng văn tương đối gay gắt, bài viết của
Nguyễn Đ́nh Đăng đă gây ra một cuộc tranh luận khá căng thẳng
trên internet chung quanh những vấn đề được nêu lên. Một số
người bày tỏ ư kiến ngầm ủng hộ nội dung bài báo của Hoàng Lê và
quay sang tố cáo Nguyễn Đ́nh Đăng đă từ chuyện bé xé thành
chuyện to; một số th́ xoay quanh những khó khăn trong việc
chuyển ngữ các chức danh khoa bảng từ tiếng Pháp sang tiếng Anh
và về lại tiếng Việt; một số khác th́ chỉ ra đây cũng chỉ là một
trong số hàng loạt những bài đánh đồng cá nhân quá trớn.
Những tranh luận này xảy ra ngay sau khi Nhà
nước vừa ra quyết định công nhận chức danh giáo sư và phó giáo
sư cho 339 nhà khoa học (VietNamNet 10/11/2004); và cũng như các
lần trước, việc xét phong chức danh lần này cũng gây ra vài
tranh luận, nghi ngờ. Có ư kiến cho rằng một số vị được tiến
phong chức danh này chưa xứng đáng với khả năng thật trong hoạt
động khoa học, và cũng có người đặt vấn đề tiêu chuẩn được được
công nhận chức danh giáo sư. Bàn về vấn đề tiêu chuẩn, Giáo sư
Đỗ Trần Cát, Tổng thư kí Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước cho
biết Việt Nam phải hạ tiêu chuẩn thấp xuống mới có giáo sư!
Thành ra, người viết bài này cảm thấy câu chuyện chung quanh bài
báo của Hoàng Lê và Nguyễn Đ́nh Đăng c̣n đặt ra một số vấn đề
khá thời sự ở nước ta liên quan đến chức danh khoa bảng và các
tiêu chuẩn đánh giá công tŕnh nghiên cứu khoa học cũng như đề
bạt nhà khoa học.
Thứ nhất là sự khác biệt của hệ thống chức
danh khoa bảng giữa Mĩ, Pháp và Việt Nam.
Ở Mĩ, thông thường, sau khi sinh viên tốt nghiệp tiến sĩ và sau
ít nhất là 2 năm nghiên cứu hậu tiến sĩ, họ có thể xin được đề
bạt vào ngạch giáo sư. Có ba bậc giáo sư xếp theo thứ tự thấp
nhất đến cao nhất: Assistant Professor, Associate
Professor, và Professor. C̣n ở Pháp, cán bộ giảng
dạy hay nghiên cứu trong các trường đại học chỉ có 2 bậc:
Maître de Conférences và Professeur de Université. Ở
Việt Nam, hệ thống tuy phức tạp hơn hệ thống của Mĩ và Pháp,
nhưng nói chung cũng có thể chia thành 3 bậc: giảng viên,
phó giáo sư và giáo sư. Nếu cần nói thêm, tôi
muốn nói rằng hệ thống ở Anh và Úc có đến 4 chức vụ chính:
Lecturer, Senior Lecturer, Associate Professor,
và Professor.
Đến đây th́ có vấn đề tương đương giữa các
chức vụ trên đây. (Ở đây, tôi chỉ nói “tương đương” trên
danh xưng mà thôi, chứ chưa nói đến tương đương về chức vụ
và trách nhiệm). Nếu so sánh giữa Việt Nam và Mĩ th́ chúng ta
có thể phân cấp khá dễ dàng: Giảng viên = Assistant Professor,
Phó giáo sư = Associate Professor, và Giáo sư =
Professor.
Nhưng nếu so giữa hệ thống của Pháp với Việt
Nam (hay Mĩ) th́ sao? V́ Pháp chỉ có 2 bậc mà Việt Nam và Mĩ có
đến 3 bậc, thành ra có thể lí giải rằng Maître de Conférences
của Pháp có thể tương đương với Assistant Professor
hay Associate Professor. Và, cũng dùng theo cách phân
cấp đó, người ta vẫn có thể nói một Professeur của Pháp
có thể tương đương với Associate Professor hay
Professor của Mĩ!
Ở Anh và Úc, các trường đại học vẫn khẳng
định rằng chức Lecturer của họ tương đương với
Assistant Professor của Mĩ và Maître de Conférences
của Pháp; c̣n Senior Lecturer của Úc th́ tương đương với
Associate Professor của Mĩ. Thế th́ sự tương đương giữa
hai chức danh Associate Professor / Professor của
Anh và Associate Professor / Professor của Mĩ th́
sao? Không có câu trả lời chính thức, bởi v́ c̣n tùy thuộc vào
… lí lịch khoa học.
Thứ hai là những khó khăn về dịch thuật.
Ngày nay, chúng ta đều nhất trí dịch
chữ Professor (hay tiếng Pháp, Professeur) là
Giáo sư. Chúng ta cũng nhất trí rằng Associate Professor
dịch là Phó giáo sư. Thực ra, đây cũng chỉ là một
cách dịch tương đối mà thôi, chứ -- như tôi đă từng phát biểu
trước đây -- tuy mang danh là “phó” nhưng trong thực tế những
người mang chức danh Associate Professor chẳng làm phó
cho giáo sư nào cả.
Nhưng khó khăn nhất vẫn là chức danh
Assistant Professor (Mĩ) nên dịch sang tiếng Việt là ǵ ?
Có người đề nghị Assistant Professor nên dịch là trợ
lí giáo sư, nhưng tôi e rằng cách dịch này không mấy chính
xác, bởi hai lẽ: (i) trợ lí giáo sư là một chức vụ ngoài
khoa bảng tương đương với tiếng Anh Professorial Assistant;
và (ii) tuy mang danh là Assistant (phụ tá), nhưng
trong thực tế những người mang chức danh Assistant Professor
chẳng phụ tá cho giáo sư nào cả, mà là những nhà nghiên cứu
độc lập, hoàn toàn có tư cách chủ tŕ các công tŕnh nghiên
cứu. Như nói trên, Assistant Professor là một chức vụ
khoa bảng thấp nhất trong ba bậc giáo sư, và những người mang
chức danh này là những nhà khoa bảng đang trong giai đoạn củng
cố địa vị chuyên môn để chuyển tiếp lên một cấp bậc cao hơn. Do
đó, có lẽ Assistant Professor nên dịch là “Giáo sư dự
khuyết”. Thú thật, ngay cả tôi cũng không cảm thấy hài ḷng
với cụm từ này (cũng như chưa hài ḷng với chức danh Phó giáo
sư, nhưng thiết nghĩ tất cả chuyển ngữ về chức danh chỉ là …
tương đối.
Càng khó hơn nữa là chức danh Maitre de
Conferences (Pháp). Nếu xét trên danh xưng th́ chức danh
này không có chữ Professeur và do đó không thể dịch là
giáo sư được. Nhưng xét trên thứ bậc đẳng cấp th́ chức vụ
này chỉ thấp hơn Professeur một bậc (bởi v́ đại học Pháp
chỉ có 2 bậc "giáo sư"), vậy có nên dịch Maitre de
Conferences là Phó giáo sư không ? Như đă đề cập
trên, chức danh Maitre de Conferences tương đương với
Assistant Professor, mà cũng có thể tương đương với
Associate Professor, cho nên cả giảng viên và Phó
giáo sư đều có thể thích hợp ! Như vậy, vấn đề dịch các
chức danh khoa bảng có khi cần phải xét đến chức vụ và thành
tích khoa học của nhà khoa học.
Những khó khăn trên dẫn đến vấn đề thứ ba là
tiêu chuẩn để đánh giá khả năng của một nhà khoa học và chất
lượng công tŕnh nghiên cứu khoa học. Các chức danh và chức
vụ khoa bảng như giảng viên và giáo sư thường thường do hội đồng
khoa bảng của trường đại học phê chuẩn và bổ nhiệm. Hội đồng
khoa bảng dựa vào 4 tiêu chuẩn chính đề làm cơ sở cho việc phê
chuẩn và bổ nhiệm : thành tích hoạt động khoa học, giảng dạy và
cống hiến vào việc quản trị phân khoa đại học, khả năng thu hút
tài trợ cho nghiên cứu, và hoạt động cộng đồng. Trong 4 tiêu
chuẩn này, thành tích hoạt động khoa học được xem là tiêu chuẩn
quan trọng nhất.
Thành tích hoạt động khoa học được đánh giá bằng
các tiêu chí như số lượng và chất lượng bài báo khoa học đă công
bố, số lượng bằng phát minh (patents of invention), uy danh và
sự công nhận của giới chuyên môn trong ngành. Không có trường
nào có qui định cụ thể ứng viên phải có bao nhiêu bài báo khoa
học để được đề bạt, nhưng thông thường, những con số được "hiểu
ngầm" là giáo sư dự khuyết phải có từ 5 bài báo trở lên, phó
giáo sư th́ ít nhất là 20, và giáo sư th́ ít nhất là 50.
Nhưng số lượng công tŕnh không nói lên được
chất lượng của công tŕnh nghiên cứu. Hội đồng khoa bảng thường
dựa vào hệ số ảnh hưởng (c̣n gọi là impact factor) của tập san
mà bài báo khoa học được đăng. Hệ số này thực chất là số lần
trích dẫn (citation), tính trung b́nh, cho những bài báo đă đăng
trên tập san trong ṿng 2 năm trước. Chẳng hạn như năm 2003 và
2004 tập san đăng 200 bài báo khoa học, và năm 2005 có 400 lần
trích dẫn các bài báo trong hai năm qua, th́ hệ số ảnh hưởng
được ước tính là 400/200 = 2. Nói chung, tập san nào có hệ số
ảnh hưởng cao hơn 5 được xem là có uy tín cao.
Tuy nhiên, hệ số ảnh hưởng của tập san cũng tùy
thuộc vào bộ môn khoa học (chẳng hạn như các tập san thuộc bộ
môn khoa học thực nghiệm thường có hệ số ảnh hưởng cao hơn các
tập san trong các ngành khoa học tự nhiên và toán học). Vả lại,
hệ số ảnh hưởng chỉ phản ánh uy tín của tập san chứ không hẳn
phản ánh ảnh hưởng của bài báo trên tập san. Trong lịch sử khoa
học, không ít công tŕnh có ảnh hưởng lớn (hiểu theo nghĩa được
nhiều người trích dẫn và tham khảo) nhưng chỉ xuất hiện trên các
tập san với hệ số ảnh hưởng thấp, hay thậm chí chưa bao giờ công
bố chính thức trên một tập san ! Cho nên một cách đánh giá chất
lượng khác là tính số lần các nhà khoa học khác trích dẫn bài
báo (citations) mà nhà khoa học đă công bố. Số lần trích dẫn
nhiều cũng có nghĩa là công tŕnh nghiên cứu có ảnh hưởng lớn
trong chuyên ngành. Ngược lại, nếu nhà khoa học dù có hàng trăm
bài báo, nhưng không ai trích dẫn th́ những bài báo này cũng chỉ
là một đống rác chữ nghĩa vô dụng.
Bài học
Qua những tranh luận chung quanh bài báo về Phan
Thị Hà Dương trên VietNamNet, chúng ta cũng có thể rút ra một
vài kinh nghiệm về việc đánh giá độ tin cậy và tính chính xác
của thông tin. Một bài học hiển nhiên cho những người viết báo
là cần phải kiểm tra thông tin cẩn thận để tránh nhầm lẫn.
Internet là một phương tiện quan trọng trong việc kiểm tra thông
tin. Với hệ thống truy t́m thông tin của Google, việc rà
soát chức danh và chức vụ cũng như quá tŕnh hoạt động nghiên
cứu của một nhà khoa học trong các đại học Tây phương thật là dễ
dàng. Có thể nói bất cứ đại học nào ở các nước Tây phương cũng
đều có một trang web, và trong trang web đó có danh sách giáo sư
với những chức vụ khá rơ ràng. Muốn biết chuyên môn của một
giáo sư là ǵ, hay bao nhiêu công tŕnh khoa học gắn liền với
tên của vị giáo sư cũng chỉ cần năm ba phút là cũng có được.
Tuy nhiên không phải thông tin nào trên
internet, nhất là các trang web mang tính phi chính thức
(unofficial), đều có độ chính xác cao. Rất nhiều thông tin
trong các trang web như Wipipedia, tuy mang danh là từ
điển bách khoa cho đại chúng, chưa nhiều sai sót nghiêm trọng.
Thành ra, không bao giờ phụ thuộc vào thông tin của một trang
web, cho dù trang web đó là của trường đại học ! Nếu cần thiết,
nhà báo vẫn có thể liên lạc với những chuyên gia có thẩm quyền
để rà soát thông tin và kiểm tra lại các thông tin trên
internet.
Người Tây phương có câu “Đừng bao giờ đánh giá
cuốn sách qua b́a sách” (never judge a book by its cover), cũng
giông giống như chúng ta hay nói “không nên xem mặt đặt tên”.
Dùng cách nói đó, thiết tưởng tôi cũng có thể nói không nên đánh
giá một nhà khoa học qua trường đại học hay viện nghiên cứu mà
nhà khoa học công tác hay tốt nghiệp. Trong thực tế, không ít
giáo sư trong các đại học nổi tiếng ở Tây phương, kể cả giáo sư
gốc Việt, cũng rất xoàng xĩnh, chứ chẳng phải là giáo sư
hạng "đẳng cấp quốc tế" ǵ cả.
Ở Việt Nam ta, tiêu chuẩn để tiến
phong giáo sư đang là một vấn đề thời sự. Có ư kiến cho rằng
tiêu chuẩn c̣n quá thấp, nhưng cũng có ư kiến tiêu chuẩn quá
cao. Trong một lần trả lời phỏng vấn đăng trên VietNamNet ngày
11/3/2004 (http://vietnamnet.vn/giaoduc/vande/2004/03/54931),
Thư kí hội đồng chức danh giáo sư nhà nước (Giáo sư Đỗ Trần Cát)
cho biết : « Mỗi ứng viên cho chức danh giáo sư phải có 2
điểm - tương đương với hai công tŕnh - đăng trong các tạp chí
uy tín », và mỗi ngành chỉ có hai « tạp chí uy tín » ở trong
nước, hiểu theo nghĩa « nếu đăng ở đấy th́ nó khó, chất lượng
cao hơn. C̣n việc chọn đâu là hai tạp chí uy tín của mỗi ngành
th́ do hội đồng ngành đề xuất, hội đồng thường trực sẽ thông
qua. C̣n các bài báo đăng ở tạp chí khoa học ngoài nước tất
nhiên là không hạn chế rồi ». Nói cách khác, theo qui định
này, để đề bạt chức vụ giáo sư, ứng viên chỉ cần có 2 bài báo
khoa học ! Tôi nghĩ những tiêu chuẩn này chẳng những quá thấp,
mà c̣n chưa đủ v́, như đă nói trên, con số bài báo không thể
phản ánh chất lượng nghiên cứu.
Bất cứ thời nào, bất cứ ở đâu, bất cứ ngành nào
đều có những rác rưởi được đánh bóng và xuất hiện dưới danh
nghĩa "công tŕnh nghiên cứu khoa học". Ngày nay, trên thế giới
có khoảng 108.000 tập san gọi là “khoa học”, và con số vẫn c̣n
tăng hàng năm. Thành ra, một công tŕnh nghiên cứu dù cho có
chất lượng thấp cỡ nào đi nữa, và nếu tác giả kiên tŕ theo
đuổi, th́ nó cũng được in trong một tập san nào đó. Herbert
Simon (giải Nobel kinh tế học) từng nói một câu chí lí: Sự dồi
dào thông tin tạo nên t́nh trạng thiếu tập trung (“A wealth of
information creates a poverty of attention”). Theo phân tích
của Viện thông tin khoa học (Institute of Scientific
Information, ISI) có khoảng 55% các bài báo khoa học trên thế
giới không bao giờ được ai trích dẫn, không bao giờ được ai (kể
các chính tác giả) tham khảo sau 5 năm công bố ! Ngay cả trong
số được trích dẫn, cũng chỉ rất … lèo tèo. Chỉ có trên dưới 1%
bài báo khoa học được trích dẫn hơn 6 lần mà thôi (trong ṿng 5
năm). Điều này có nghĩa là không không thể nào đánh giá khả
năng của nhà khoa học qua con số lượng bài báo, và càng không
đánh giá công tŕnh khoa học chỉ v́ công tŕnh đă được công bố,
mà phải xét đến số lần trích dẫn.
Xă hội có quyền đặt ḱ vọng cao vào những người
mang chức danh "giáo sư", bởi v́ họ là một phần của bộ mặt của
khoa học Việt Nam. Người dân muốn thấy những người mang chức
danh giáo sư phải có khả năng tương xứng với đồng nghiệp quốc
tế. Trong chiều hướng hội nhập quốc tế có lẽ đă đến lúc chúng
ta xem xét lại các tiêu chuẩn chất lượng trong việc xem xét đề
bạt giáo sư ở nước ta. Đành rằng cũng cần phải xem xét đến các
điều kiện mang tính địa phương trong khi đề bạt giáo sư, nhưng
các hoạt động khoa học th́ lại mang tính quốc
tế, và không có lí do ǵ các thước đo khách quan mà đa số nước
trên thế giới đang sử dụng không áp dụng cho nước ta.
|