Hệ Thống Học Vị Và Học Hàm Khoa Học Ở Vài Nước Tây Phương
Nguyễn Văn Tuấn
Đối với sinh viên và giới khoa bảng, bằng cấp đại học hay học
vị vừa là cứu cánh vừa là phương tiện. Là sinh viên đang miệt
mài trong các trường đại học hay cao đẳng, mục tiêu và cũng là
ước mơ thực tế nhất là được tốt nghiệp, được cấp mảnh giấy có
ghi tên ḿnh kèm theo một cụm từ phản ánh tầm cỡ học lực mà ḿnh
mới hoàn tất. V́ thế, bằng cấp là một phần thưởng cho sự học
tập, một bằng chứng về khả năng chuyên môn. Hơn nữa, bằng cấp
c̣n là một "giấy giới thiệu" để được kếp nạp vào các đoàn thể
của những người có học (learned people), một "giấy thông hành"
để được thu nhận vào nghiên cứu khoa học. Đối với người đang làm
việc, bằng cấp là một phương tiện để tiến thân trong các nấc
thang sự nghiệp. Đối với một quốc gia, số lượng dân với bằng cấp
đại học là một chỉ số về tŕnh độ dân trí, và một thước đo về sự
phát triển kinh tế và ổn định xă hội.
Chưa có ai làm thống kê để biết có bao nhiêu loại bằng cấp
trên thế giới, nhưng ai cũng đồng ư một điều là bằng cấp, đặc
biệt là ở bậc đại học, cực kỳ phức tạp và phong phú. Chỉ riêng ở
Mỹ, đă có ước đoán cho rằng các đại học Mỹ hàng năm cấp hơn 3000
loại bằng cấp khác nhau! Ngày nay, hàng năm chỉ riêng các trường
đại học ở Mỹ cho ra trường khoảng 1,14 triệu cử nhân, 420 ngàn
cao học và 18 ngàn tiến sĩ.
Với một số lượng bằng cấp khổng lồ và đa dạng như thế, chẳng
trách nhiều người trong chúng ta rất dễ bị nhầm lẫn về tên gọi
của chúng. Cộng thêm vào đó là những quảng cáo của nhiều người
trên báo chí Việt ngữ, hoặc vô t́nh hoặc cố ư, làm cho vàng thau
lẫn lộn. Nhiều tên bằng cấp đă xuất hiện trên mặt báo như "Cao
học I", "Cao học II" (ở hải ngoại), "Tiến sĩ đệ tam cấp", "Phó
tiến sĩ" và "Thạc sĩ" (ở trong nước). Vậy, những văn bằng này
khác nhau như thế nào và chương tŕnh huấn luyện ra sao? Bài
viết này sẽ tŕnh bày một cách khái quát hệ thống bằng cấp và
chức vụ khoa bảng ở một vài nước Tây phương mà người viết đă có
kinh nghiệm làm việc thực tế hay có t́m hiểu, với hy vọng là sẽ
làm, hay góp phần làm, sáng tỏ được vài thắc mắc thầm kín mà tôi
tin là nhiều đồng hương đă và đang có. Cố nhiên, v́ tôi được đào
tạo hay làm việc khoa học trong hệ thống giáo dục Anh, Úc và Mỹ,
những bằng cấp của các nước này sẽ được bàn kỹ hơn những bằng
cấp ở các nước khác. Qua bài viết này, tôi hy vọng bạn đọc sẽ bổ
sung thêm hệ thống bằng cấp ở các nước Âu châu cho hoàn chỉnh và
đầy đủ hơn.
Ngược ḍng lịch sử
Hệ thống bằng cấp đại học ngày nay được bắt nguồn và mô phỏng
từ hệ thống văn bằng của hai trường đại học cổ kính ở Âu châu
vào thế kỷ 13: Trường Đại học Paris ở Pháp (thành lập vào năm
1170) và Trường Đại học Bologna ở Ư (thành lập vào khoảng 1158).
Theo bộ luật La Mă (Roman Law), vào thời Trung cổ, mỗi ngành
nghề có quyền thành lập một hiệp hội gọi là Collegium, và hiệp
hội này bầu ra những người có danh hiệu là Magistrates (mà tôi
tạm dịch là "Thầy"). Vào thời kỳ này, người được nhận vào phụ
giảng được gọi là Bachalari. Vào cuối thế kỷ 13, Trường Đại học
Paris thay đổi học vị này thành Baccalauréat. Lúc bấy giờ, văn
bằng Baccalauréate hay Bachelor là học vị duy nhất được cấp cho
những thí sinh đă (i)thi đỗ khóa thi do các các "Thầy" đặt ra;
và (ii) đă học xong một chương tŕnh giáo khoa 4 năm về ngữ pháp
(grammar), tu từ học (rhetoric) và logic. Sau khi xong văn bằng
Bachelor, thí sinh có thể theo học tiếp chương tŕnh Master hay
Doctor. Và sau khi đă xong chương tŕnh học Master hay Doctor
(khoảng 8 năm học), một hội đồng giám khảo sẽ duyệt xét thí sinh
để kết nạp vào tổ chức được gọi là Universitas of Doctors.(1) Sự
kếp nạp này cũng là một "chứng chỉ" cho người nhận được hành
nghề dạy đại học.
Lúc bấy giờ, những danh xưng như Master, Doctor và Professor
có cùng nghĩa và tương đương về giai cấp: họ hành nghề dạy học.
Vào thế kỷ 13, những người dạy học tại Trường Đại học Bologna,
lúc đó là trung tâm huấn luyện về luật pháp bên Âu châu, được
gọi là Doctor. Trong khi đó ở Trường Đại học Paris, là trung tâm
về văn học nghệ thuật, những người dạy học được gọi là Master.
Sự b́nh đẳng giữa Master và Doctor bị chấm dứt ở Anh và Mỹ,
nơi mà văn bằng Doctor sau này được đánh giá cao hơn văn bằng
Master. Ở Anh, hai trường Đại học Oxford (thành lập vào khoảng
1249) và Cambridge (thành lập vào khoảng 1209) được mô phỏng
theo hệ thống tổ chức của Trường Đại học Paris; do đó, các nhà
khoa bảng các môn văn hóa nghệ thuật thường được gọi là
"Master", trong khi các đồng nghiệp của họ trong các môn học như
triết lư, thần học, y học, và luật được gọi là "Doctor". Ngày
nay, các tên bằng cấp như "Master of Arts" và "Doctor of
Philosophy" có nguồn gốc từ sự phân chia này.
Ở Mỹ, Trường Đại học Harvard được thành lập vào năm 1636, với
cơ cấu tổ chức được mô phỏng hoàn toàn theo hệ thống đại học ở
Anh Quốc. Lúc đó, văn bằng Baccalaureate là văn bằng duy nhất
được cấp cho sinh viên tốt nghiệp. Sau đó vài năm, văn bằng
Bachelor of Arts (B.A.) được cấp cho sinh viên sau khi đă hoàn
tất 4 năm theo học và qua một kỳ thi tốt nghiệp. Năm 1831,
trường Harvard cho mở thêm chương tŕnh học dẫn tới văn bằng
Bachelor of Science (B.S.). Một năm sau đó (1852), trường đại
học Yale cho ra đời chương tŕnh học 3 năm dẫn đến văn bằng
Bachelor of Philosophy (B.Phil.).
Đầu thế kỷ 19, bốn sinh viên của Mỹ là Edward Everett, George
Ticknor, George Bancroft và Joseph Green Cogswell được cử sang
du học tại Trường Đại học Gottingen (Đức), và sau khi trở về Mỹ
họ trở thành giáo sư ở Trường Đại học Harvard. Bốn người này đă
có nhiều ảnh hưởng trong việc h́nh thành một hệ thống giáo dục
sau đại học tại Mỹ. Ôạng Everett sau này được bổ nhiệm làm hiệu
trưởng Trường Đại học Harvard. Năm 1853, Trường Đại học
Michigan, với cơ cấu tổ chức theo mô h́nh của Đức, đă quyết định
đưa vào chương tŕnh Master of Arts (M.A.). Sau đó 7 năm, Trường
Đại học Yale (thành lập năm 1701) bắt đầu cấp văn bằng Doctor of
Philosophy (Ph.D.). Nhưng hệ thống sau đại học thực sự mang tính
"Mỹ" được bắt đầu khi hai Trường Đại học John Hopkins được thành
lập vào năm 1876, và Chicago vào năm 1890, với chủ trương chỉ
dạy chương tŕnh sau đại học.
Hệ thống giáo dục cao đẳng và đại học hiện đại
Có thể nói phần lớn hệ thống giáo dục cao đẳng và đại học
trên thế giới ngày nay được h́nh thành theo mô h́nh tổ chức của
bốn nước (theo thứ tự): Pháp, Đức, Anh, và Mỹ. Các nước này có
ảnh hưởng lớn đến nền giáo dục hiện đại ở các nước khác trên thế
giới, kể cả Việt Nam, hoặc qua các chính phủ thuộc địa, chinh
phục bằng quân sự và kinh tế, hoặc qua truyền giáo.
Nói một cách khái quát, sau 5 năm ở bậc tiểu học và 7 năm ở
bậc trung học, học sinh có khả năng hay thích theo đuổi tiếp sự
nghiệp học hành có thể ghi danh hay thi vào các trường cao đẳng
hay đại học để học thêm. Dù có sự khác biệt về quy mô, tổ chức,
quy định, và tiêu chuẩn giữa các quốc gia, nhưng nói chung hệ
thống giáo dục cao đẳng và đại học có thể chia làm ba h́nh thức
chính mà tôi tạm đặt tên là: cao đẳng, đại học, và sau đại học.
Ở bậc "cao đẳng" (có khi được dịch là đại học cộng đồng) gồm
các trường và cơ sở có chương tŕnh huấn luyện thực tiễn, nhắm
vào mục đích đào tạo thợ hay cán sự có tay nghề cao, hay chuyên
viên kỹ thuật lành nghề. Các chương tŕnh này thường kéo dài
trong ṿng 2 tới 3 năm. Chương tŕnh dạy học ở các trường này đă
bị nhiều nhà giáo dục chỉ trích gay gắt là quá thực tế và thiếu
tiêu chuẩn khoa bảng. Tuy vậy, các trường này cũng được sự ủng
hộ của nhiều người v́ nó đem lại cơ hội cho những học sinh không
đủ khả năng theo đuổi các chương tŕnh ở bậc đại học. Hệ thống
giáo dục cao đẳng của Mỹ đă được một số nước như Úc, Gia Nă Đại,
Nhật và Phi Luật Tân mô phỏng theo. Ở Mỹ, các trường đảm nhận
các chương tŕnh huấn luyện hệ cao đẳng thường được gọi là
"Community College" (hay c̣n được gọi là "Junior College")(2),
và ở Úc, các trường này thường được gọi là "Technical College".
Cao hơn hệ cao đẳng là hệ thống giáo dục đại học
(Undergraduate university education) nhằm mục tiêu đào tạo các
chuyên viên có tŕnh độ lư thuyết căn bản tương đối cao trong
mọi lĩnh vực, như kỹ sư, luật sư, bác sĩ, kinh tế gia, nghệ sĩ,
v.v... Tùy theo môn học, để theo học các chương tŕnh này, học
sinh thường phải mất từ 3 đến 6 năm.
Sau cùng là chương tŕnh giáo dục sau đại học nhắm vào mục
tiêu đào tạo những nhà khoa học và kỹ thuật có tŕnh độ chuyên
môn vừa sâu vừa cao, và những giáo sư, những nhà nghiên cứu
tương lai cho các trường đại học hay cơ sở nghiên cứu. Trong các
chương tŕnh sau đại học này, học sinh phải vừa học tập, vừa
nghiên cứu từ 2 năm đến 10 năm, tùy theo ngành nghề chuyên môn.
Phần đông các cơ sở huấn luyện bậc đại học và sau đại học
thường mang tên "University". Tuy nhiên, một số trường danh
tiếng, do truyền thống và lịch sử khi thành lập, vẫn duy tŕ
những tên gọi cũ như College (chẳng hạn như Darmouth College,
Mỹ), Institute (như Massachusetts Institute of Technology, Mỹ),
hay thậm chí School (như London School of Economics, Anh).
Vấn đề tên gọi trở nên khá rắc rối khi chữ "College" được
dùng để gọi một phân khoa trong đại học và thậm chí một trường
trung học. Thật vậy, trong một số (không nhỏ) các trường đại học
ở Mỹ, Anh và Úc, một số phân khoa được gọi là "College" (thay v́
"Faculty"). Các trường đại học lớn và lâu đời như Oxford và
Cambridge (Anh) có nhiều trường "Colleges" như là những phân
khoa chuyên môn trong hệ thống tổ chức nội bộ. Ở Anh, một số
trường tuy đào tạo chương tŕnh đại học, nhưng không có quyền
cấp bằng, được gọi là "University College"(3).
Ở Anh và Úc, một số trường trung học tư thục (như Eton và
Winchester) cũng có tên là "College"! Điều này đă gây ra một
hiểu lầm sự khác biệt giữa College là một trường trung học và
College là một trường đại học trên mặt báo gần đây ở trong
nước(4).
Càng phức tạp hơn, khi chữ "College" c̣n dùng để chỉ một số cơ
sở huấn luyện sau đại học (phần lớn là y khoa), tuy không chính
thức cấp văn bằng, nhưng là những trung tâm đào tạo và chứng
nhận tŕnh độ kỹ năng nghề nghiệp, như Royal College of
Surgeons, Royal College of Radiologists, Royal College of
General Practitioners, v.v... Những "trường" này thực ra chỉ là
những đoàn thể chuyên môn (hoàn toàn độc lập với các trường đại
học), nhưng thí sinh muốn trở thành thành viên của các trường
này đều phải trải qua một kỳ thi tuyển rất khó khăn và có tính
cạnh tranh cao.
Hệ thống bằng cấp bậc cao đẳng và đại học
Ở mỗi bậc cao đẳng, đại học và sau đại học, có nhiều văn bằng
khác nhau được cấp cho các học sinh tốt nghiệp hay đă đạt được
một số tiêu chuẩn được đề ra trong một số ngành nghề. Ở hệ thống
cao đẳng ("Community College"), sau hai năm học và đủ điểm tốt
nghiệp, học sinh được cấp văn bằng "Associate" (5), như
Associate in Arts, Associate in Applied Science, Associate in
Business Adminstration, v. v...
Ở hệ thống đại học, văn bằng "Bachelor" (tức "Cử nhân")
thường được cấp cho học sinh sau khi đă hoàn tất chương tŕnh
học. Hai bằng Bachelor of Arts (B.A.) và Bachelor of Science
(B.S. ở Mỹ hay B.Sc. ở Anh) vẫn là hai bằng cấp thông dụng
nhất(6). Ngoài hai văn bằng chung này ra, c̣n có nhiều văn bằng
với những tên rất cụ thể như Bachelor of Engineering (Cử nhân Kỹ
thuật), Bachelor of Architecture (Cử nhân Kiến trúc), Bachelor
of Medicine (Cử nhân Y khoa), Bachelor of Nursing (Cử nhân Điều
dưỡng), Bachelor of Economics (Cử nhân Kinh tế), Bachelor of
Jurisprudence (Cử nhân Luật học), v.v... Ngày nay, với đà tiến
bộ về khoa học và kỹ thuật, đă có hơn 600 loại bằng cử nhân
trong các môn học khác nhau được cấp bởi các trường đại học ở
Mỹ!
Hệ thống bằng cấp bậc sau đại học
Ở hệ thống cao đẳng và đại học, hệ thống văn bằng khá đơn
giản, nhưng ở bậc hậu đại học th́ hệ thống văn bằng rất phức tạp
và có sự khác nhau giữa các quốc gia, không những về tên gọi,
danh xưng, mà c̣n ở tiêu chuẩn và phương cách đào tạo.
Graduate Diploma: Đây là một loại văn bằng chỉ phổ
biến ở Anh và một số nước c̣n chịu ảnh hưởng hệ thống giáo dục
của Anh. Như tên gọi của văn bằng ám chỉ (Diploma có gốc Hy Lạp,
"Diplous" có nghĩa là "gấp đôi"), Graduate Diploma(7) là một văn
bằng học thêm. Thực vậy, Graduate Diploma thường dành cho (i)
những người muốn theo học các môn học mà không cùng môn học ở
bậc cử nhân mà họ đă có (chẳng hạn như sinh viên đă có bằng cử
nhân về toán, nhưng muốn theo học hậu đại học nghành quản lư);
và (ii) những người không đủ khả năng hay điều kiện học bậc
Master. Thời gian học Graduate Diploma thường từ 1 tới 2 năm.
Sinh viên không cần làm luận án tốt nghiệp. Ngày nay, với sự
cạnh tranh giữa các trường đại học càng ngày càng gay gắt, số
lượng sinh viên theo học Graduate Diploma ít đi dần, v́ phần
đông họ t́m cách học chương tŕnh Master. Thật ra, khoảng phân
nửa các môn học của chương tŕnh Graduate Diploma là nằm trong
chương tŕnh học Master.
Master: Chữ "Master" có gốc từ tiếng Anh cổ,
"maegester"; và chữ này tự nó được vay mượn từ tiếng Pháp cổ,
"maistre" có nghĩa là "thầy". Cũng như ở bậc cử nhân, hai văn
bằng Master of Science (M.Sc. hay M.S.) và Master of Arts (M.A.)
là hai văn bằng thông dụng nhất ở bậc hậu đại học. Tuy nhiên
cũng có những văn bằng chuyên môn cho các ngành chuyên môn khác
như kinh tế (Master of Economics), luật (Master of Law), kỹ
thuật (Master of Engineering), v. v... Riêng tại Mỹ, có khoảng
500 văn bằng Master khác nhau! Theo thống kê ở Mỹ, vào đầu thế
kỷ 20, các trường đại học Mỹ đă cấp 1015 văn bằng master; cho
đến năm 1960, con số này tăng lên khoảng 141 ngàn, và đến năm
1998, khoảng 420 ngàn.
Chương tŕnh học Master, cũng giống như chương tŕnh Graduate
Diploma, là nhằm vào mục tiêu đào tạo những chuyên viên kỹ thuật
cho các cơ quan chính phủ và công ty. Sau khi tốt nghiệp, những
người này phải có một khả năng chuyên môn vừa sâu, vừa vững
vàng, có thể đáp ứng cho nhu cầu thực tế của một cơ quan hay
công ty. Chương tŕnh Master thường dành cho những sinh viên đă
có bằng cử nhân cùng nghành. Tuy nhiên, tùy theo trường hợp cá
nhân và kinh nghiệm, các sinh viên cũng có thể theo học các
nghành chuyên môn khác với văn bằng căn bản cử nhân mà họ đă có.
Ngày nay, sinh viên trong các nghành khoa học thuần túy cũng có
thể được nhận vào học bên các nghành kinh tế hay xă hội học.
Chương tŕnh master thường kéo dài từ 1 tới 2 năm. Nhưng cũng có
trường dạy M.B.A. Ở (Master of Business Administration) trong
ṿng 1 năm, với một chương tŕnh học rất nặng và đ̣i hỏi sinh
viên phải học ngày học đêm.
Doctorate: Chương tŕnh học Doctorate (9) là nhằm mục
đích đào tạo những khoa học gia chuyên nghiệp (professional
scientists), những chuyên viên nghiên cứu cấp cao cho các công
ty kỹ nghệ và các cơ quan nghiên cứu thuộc chính phủ. Những
người này đóng vai tṛ then chốt cho nền khoa học của một nước
và là nguồn cung cấp nhân lực giảng dạy cho các trường đại học.
Thời gian học thông thường từ 3 tới 6 năm. Trong thời gian
nghiên cứu, sinh viên phải công bố ít nhất là 3 bài báo khoa học
trên các tạp chí có "peer-review" (tức được duyệt bởi các nhà
khoa học làm cùng ngành) để có thể bảo vệ luận án. Luận án
thường được hai khoa học gia có uy tín trong nước (thông thường
từ các trường đại học khác) và một hoặc hai khoa học gia uy tín
ngoài nước duyệt xét và phê chuẩn. Thời gian duyệt xét luận án
có thể từ 6 tháng tới 1 năm.
Nói chung ở các nước Tây phương như Mỹ, Canada, Úc, và Anh quốc,
văn bằng tiến sĩ là văn bằng cao nhất trong hệ thống giáo dục
hậu đại học. Tuy nhiên, có vài khác biệt về tên gọi các văn bằng
doctorate này giữa các nước, và nếu không để ư, sẽ gây ra những
hiểu lầm đáng tiếc.
Ở các nước như Anh và Úc, có ba dạng tiến sĩ riêng biệt:
Ph.D. (Doctor of Philosophy) cho tất cả các nghành (kể cả y
khoa), M.D. (Doctor of Medicine) riêng cho y khoa, và D.Sc.
(Doctor of Science) cho tất cả các nghành khoa học. Ở các
nước này, học vị D.Sc., trên lư thuyết, được xem cao hơn học vị
Ph.D. và M.D., v́ một trong những điều kiện được theo học D.Sc.
là thí sinh phải có học vị Ph.D. hay M.D. ít nhất là 10 năm và
đă có đóng góp lớn trong nghiên cứu khoa học trên trường quốc
tế.
Không nên nhầm lẫn giữa văn bằng D.Sc. của Úc/Anh và của Mỹ.
Ở Mỹ, văn bằng cao nhất là Ph.D. hay tương đương. Những văn bằng
tương đương Ph.D. ở Mỹ thường gặp là D.Sc. (c̣n được viết tắt là
"Sc.D."), Ed.D. (Doctor of Education, Tiến sĩ Giáo dục), Dr.
P.H. (Doctor of Public Health, Tiến sĩ Y tế Công cộng), Dr. Eng.
(Doctor of Engineering, Tiến sĩ Kỹ thuật). Một số trường, chẳng
hạn như Trường Đại học Harvard, học vị doctorate của nghành Y tế
Công cộng (Public Health) là D.Sc., trong khi đó ở các trường
khác lại gọi là Dr. P.H. hay Ph.D. Tương tự, ở Trường Đại học
Boston, những học sinh tốt nghiệp doctorate ngành sư phạm được
gọi là Ed.D., nhưng phần lớn ở các trường khác th́ lại được gọi
là Ph.D. Văn bằng Ph.D. cũng được cấp cho các học sinh trong các
ngành kỹ thuật, nhưng có trường ở Mỹ lại gọi là Dr. Eng. V́ thế
văn bằng D.Sc. của Mỹ không tương đương với bằng D. Sc. của Úc
hay Anh Quốc.
Tiến sĩ và Bác sĩ: Tiếng Việt ta phân
biệt Tiến sĩ và Bác sĩ; nhưng trong tiếng Anh, những người có
học vị Ph.D. , D.Sc. và M.D. đều được gọi là "Doctor". Tuy
nhiên, có sự khác biệt giữa văn bằng M.D. của Úc/Anh Quốc và
M.D. của Mỹ. Không giống như ở Mỹ, nơi mà y khoa được dạy như
một chương tŕnh hậu đại học ("Graduate study", tức sau khi sinh
viên đă xong chương tŕnh Cử nhân); ở Úc và Anh, các sinh viên
học y khoa được tuyển thẳng từ các trường trung học, và do đó,
chương tŕnh y khoa được xem là bậc đại học ("Undergraduate"),
mặc dù thời gian huấn luyện tương đương.
Trong khi các sinh viên y khoa ở Mỹ ra trường với văn bằng
M.D. (Doctor of Medicine, Tiến sĩ Y khoa), các đồng nghiệp của
họ ở Úc ra trường với hai bằng cử nhân M.B. và B.S. (Bachelor of
Medicine và Bachelor of Surgery, Cử nhân Y khoa và Cử nhân Giải
phẫu). Cần được nói thêm là mặc dù văn bằng là cử nhân, nhưng
danh xưng của họ là "Bác sĩ" (Doctor).
Ở Úc, các bác sĩ đă có văn bằng M.B. B.S. có thể ghi danh
theo học tiếp chương tŕnh Ph.D. hay M.D. Chương tŕnh Ph. D. có
mục đích đào tạo các bác sĩ thành những nhà khoa học chuyên
nghiệp, có khả năng nghiên cứu độc lập. Chương tŕnh M.D. có mục
đích đào tạo các bác sĩ thành những chuyên gia lâm sàng
(clinical science) hơn là khoa học cơ bản (basic science). Thông
thường, sinh viên phải làm một hay hai cuộc nghiên cứu lâm sàng
(clinical studies) và viết luận án dựa trên các nghiên cứu này.
Chương tŕnh học M.D. thông thường là 2 cho tới 3 năm (ngắn hạn
hơn Ph. D.). Do đó, văn bằng M. D. của Úc và Anh không có cùng
nghĩa với văn bằng M.D. của Mỹ.
Post-doctorate (Hậu tiến sĩ): Khi học sinh hoàn tất
chương tŕnh doctorate, học sinh c̣n phải trải qua một giai đoạn
"thực tập" thông thường kéo dài khoảng 1 tới 5 năm. Người nghiên
cứu trong giai đoạn này thường được gọi là "Post-doctoral
fellow" (tạm dịch là "nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ"). Thực ra,
trong giai đoạn này, thí sinh không được cấp văn bằng ǵ cả, v́
đây là giai đoạn mà nghiên cứu sinh phải làm việc dưới sự hướng
dẫn của một giáo sư kinh nghiệm, và qua đó dần dần tự ḿnh phát
triển một chương tŕnh nghiên cứu của riêng ḿnh. Đây cũng là
thời gian mà nghiên cứu sinh có cơ hội để "trưởng thành" một nhà
nghiên cứu độc lập. V́ thế, "Postdoctoral fellow" không phải là
một văn bằng, và không nên hiểu như là một "tiến sĩ cao cấp"
(10).
Học vị ở Pháp, Đức và Nga
Ở Pháp, hệ thống giáo dục đại học trực thuộc sự quản lư của
chính phủ. Do đó, việc phân chia bằng cấp và học vị được định
đoạt bởi chính phủ. Kể từ năm 1968 (thời gian của cuộc "cách
mạng giáo dục"), bằng cấp ở Pháp đă trở thành khá phức tạp và có
khi khó mà so sánh được. Thông thường, sau 7 năm học trung học
và thi đỗ tú tài, học sinh được cấp bằng Baccalauréat. Từ đây,
học sinh có hai lựa chọn: một là thi vào các trường chuyên môn
gọi là Grandes Écoles; và hai là thi vào các trường đại học
"chính qui".
Nhưng trước khi thi vào các trường Grandes Écoles, học sinh
cần phải học thêm khoảng một năm về toán bổ xung và một năm về
toán chuyên môn. Sau đó, các học sinh sẽ phải qua một kỳ thi
tuyển toàn quốc để được nhận vào các trường như École Normale
Supérieure (ENS hay Sư phạm), École Nationale d'Administration
(ENA hay Quốc gia Hành chính), École Polytechnique, v.v...
Tuy nhiên, nếu học sinh chọn thi vào các trường chính qui th́
không phải học thêm hai năm ở trung học. Theo chương tŕnh của
các đại học chính qui, khi đă học xong chương tŕnh đầu tiên đại
học (hai năm), sinh viên có thể ra trường với bằng Diplôme
Universitaire d'Études des Literature (DUEL) hay d'Études
Scientifiques (DUES). Nếu muốn theo học ngành sư phạm để ra dạy
trung học, sinh viên cần phải học thêm một năm (hoặc lâu hơn)
nữa với mục tiêu lấy văn bằng Lisence (tương đương cử nhân) và
các chứng chỉ sư phạm. Tuy nhiên, sau khi có DUEL hay DUES, sinh
viên có thể theo học [cao hơn] khoảng 2 tới 3 năm để lấy văn
bằng Maitrise (tương đương Master trong hệ thống giáo dục Anh,
Mỹ, Úc, v.v.).
Sau khi sinh viên đă có bằng Maitrise, sinh viên muốn học
doctorate cần phải trước hết học qua một đến hai năm học để lấy
văn bằng Diplôme d'Études Approdondies (DEA) hay Diplôme
d'Études Supérieures (DES). Sau khi đă có DEA hay DES, sinh viên
có thể xin vào nghiên cứu để viết luận án tiến sĩ. Năm 1964, ba
văn bằng được đưa vào hệ thống bằng cấp sau đại học ở Pháp:
Doctorat du Troisième Cycle, Doctorat Université và Doctorat
d'Etat (11). Thời gian học cho bằng Doctorat du Troisième thường
từ hai năm rưỡi tới bốn năm. Đây cũng là một văn bằng cần thiết
để dạy đại học. Học vị Doctorat Université thường được cấp cho
người nước ngoài, sau khi đă qua một đến hai năm học ở bậc hậu
đại học. Người có bằng Doctorat Université không có quyền dạy
đại học ở Pháp. Văn bằng Doctorat d'Etat là một học vị cao nhất
ở Pháp, và được cấp cho những nhà khoa học xuất sắc, đă qua ít
nhất là 2 năm (thường là từ 4 tới 12 năm) nghiên cứu sau văn
bằng Doctorat du Troisième Cycle. Bằng cấp này là một điều kiện
được bổ nhiệm vào chức vụ
"Professeur" (Giáo sư) đại học.
Sinh viên có văn bằng Diplôme Universitaire, License, hay
Maitrise có thể dự thi lấy chứng chỉ Agrégation (thường dịch là
Thạc sĩ vào thời trước năm 1975 ở miền Nam Việt Nam). Cần nói
thêm rằng Agrégation không phải là một học vị hay bằng cấp, mà
chỉ là một "giấy hành nghề" giảng dạy ở vài trường hợp như giáo
sư y khoa hay dược khoa (ở Pháp sinh viên học y khoa vô thẳng
sau khi thi tú tài), và giáo sư trung học (sau khi ra trường
ENS, sinh viên sẽ phải thi để được trao danh hiệu Agrégé vào tên
ḿnh).
Hệ thống học vị ở Đức rất khác biệt so với các nước như Anh,
Úc và Mỹ. Vào độ 10 tuổi, sau khi đă qua 4 năm tiểu học, học
sinh bước vào ngưỡng cửa của một loại trường Gymnasium để học
các môn như toán, ngôn ngữ và khoa học tự nhiên. Sau 9 năm học ở
cấp bậc Gymnasium, khoảng 25% trong số học sinh tốt nghiệp sẽ
vào trường Mittelschule và học thêm khoảng 6 năm. Theo thống kê,
mỗi năm có khoảng 50% tới 60% học sinh tốt nghiệp Abitur (tương
đương với trung học phổ thông) và có quyền thi vào học đại học.
Văn bằng đầu tiên ở bậc đại học là một học vị Doktor, sau khi đă
qua ít nhất là 10 tới 13 năm sau khi tốt nghiệp Abitur. Tuy
nhiên, phần đông sinh viên không theo đuổi học lâu dài như thế,
nhưng họ lại chọn "ra trường" bằng một văn bằng Diplom sau khi
đă qua 4 năm đại học. Khoảng mười năm trước, Đức bắt đầu cấp
bằng Magister Artium (hay Master of Arts) cho các sinh viên.
Bằng cấp này thường cấp cho sinh viên ngoại quốc, những người
không muốn qua kỳ thi Staatsexamen để trở thành giáo viên học.
Trên lư thuyết, ba văn bằng Diplom, Staatsexamen và Magister là
ngang hàng với nhau, nhưng trên thực tế th́ khác nhau xa và c̣n
tùy thuộc theo nghành học. Chẳng hạn như trong nghành hóa học,
Staatsexamen được xem là thấp hơn Magister. Nhưng trong ngành sử
học, người có bằng Staatsexamen được quí trọng và xem cao cấp
hơn người có bằng Magister.
Như đề cập trên, trên lư thuyết văn bằng Doktor là học vị đầu
tiên của đại học Đức. Sau khi đă tốt nghiệp Doktor, thí sinh
phải làm phụ tá nghiên cứu hay giảng dạy một thời gian để thu
thập kinh nghiệm tiếp tục theo học văn bằng Habilitation, một
học vị cao nhất ở Đức.
Ở Nga và Liên Xô cũ, sau khi xong trung học, học sinh phải trải
qua một kỳ thi tuyển vào đại học. Sau 4 hoặc 5 năm theo học và
đủ điểm, thí sinh được cấp bằng "diploma". Sau khi đă có bằng
diploma, sinh viên phải cạnh tranh vào chương tŕnh hậu đại học.
Sau ba năm học và nghiên cứu, thí sinh có thể tốt nghiệp với
bằng Kandidat Nauk (Candidate in Science)(12). Sau một thời gian
dài nghiên cứu và có thành tích xuất sắc, nhà khoa học có thể
tŕnh luận án để được xét cấp văn bằng Doktor Nauk (Doctor of
Science)(12). Cũng như ở Đức và Pháp, chỉ có những ngừơi có văn
bằng Habilitation hay Doctor d'État mới được bổ nhiệm chức vụ
giáo sư đại học, văn bằng Doktor Nauk này là một điều kiện cần
thiết để được bổ nhiệm vào chức vụ giáo sư đại học ở Nga.
Một vài so sánh
So với các nước như Mỹ và Anh Quốc, hệ thống bằng cấp ở các
nước Pháp, Đức và Nga (hay Liên Xô cũ) có nhiều khác biệt về
thời gian đào tạo, đẳng cấp và tên gọi. Ở các nước Âu châu này,
hệ thống giáo dục đại học có tính cạnh tranh cao; học sinh được
nhận vào học đại học chỉ khi nào đă đỗ một kỳ thi tuyển, có khi
rất khó. Ngược lại, ở các nước như Mỹ, Anh Quốc và Úc, học sinh
có thể được nhận thẳng vào đại học dựa theo số điểm đạt được
trong trung học và kỳ thi tú tài.
Tuy có khác nhau về tên gọi và chương tŕnh huấn luyện, trên
b́nh diện tổng quan, các nước Âu châu này cũng có ba học vị
chính: cử nhân, cao học và tiến sĩ. Dựa theo thời gian đào tạo,
có thể xem văn bằng Bachelor trong hệ thống Anh-Mỹ tương đương
với License của Pháp, Diplom của Đức và Diploma của Nga. Tương
tự, có thể xem học vị Master trong hệ thống Anh-Mỹ tương đương
với Maitrise của Pháp, Magister của Đức, và một số văn bằng
Candidat Nauk của Nga. Cũng dựa theo chương tŕnh và thời gian
đào tạo, có thể xem văn bằng Ph.D. của Mỹ và Anh tương đương với
Doctorat du Troisième Cycle của Pháp, Doktor của Đức, và một số
(không phải tất cả) văn bằng Candidat Nauk của Nga. Văn bằng
D.Sc. của Anh và Úc có lẽ tương đương với Doctor d'État của
Pháp, Habilitation của Đức và Doktor Nauk của Nga.
Hệ thống học hàm
Học vị là những văn bằng được cấp bởi các cơ sở giáo dục cho
học sinh sau khi đă hoàn tất một chương tŕnh học. Học hàm là
những chức vụ khoa bảng hoặc do chính phủ hoặc do các trường đại
học đề bạt hay trao tặng cho những người giảng dạy hay nghiên
cứu khoa học. Thí dụ như Bachelor, Master, và Ph.D. (hay tương
đương) là những học vị; và Professor, Lecturer, và Fellow là
những học hàm. Ngày nay, hầu hết những người làm công tác giảng
dạy đại học đều phải có học vị tối thiểu là Master, nhưng thường
là Doctorate hay tương đương.
Trong các trường đại học Tây phương, người ta phân biệt ba
cấp nhân viên giảng dạy mà tôi tạm gọi [theo chức năng và tŕnh
độ] là: tập sự, trung cấp, và cao cấp. Ở bậc tập sự gồm các chức
vụ như Teaching Assistant, Tutor. Proctor, v.v... Những nhân
viên này có trách nhiệm làm phụ giảng, chấm bài thi, giám thị
trong pḥng thí nghiệm, v.v...
Ở bậc trung cấp gồm những nhân viên khoa bảng mang học hàm
như Lecturer (ở Anh và Úc), Maitre Assistant (Pháp) và Assistant
Professor (Mỹ)(13). Những nhân viên này là những người đang ở
bước đầu trong nấc thang sự nghiệp khoa bảng, có nhiệm vụ trực
tiếp giảng dạy sinh viên và làm nghiên cứu hoặc độc lập, hoặc
dưới sự chỉ đạo của các giáo sư thâm niên.
Trên trung cấp một bậc là những nhân viên khoa bảng mang học
hàm Reader (ở Anh và Úc), Maitre de Conférence (Pháp) và
Associate Professor (Úc và Mỹ)(14). Những người này là những nhà
khoa bảng đang ở trong thời kỳ "quá độ" để chuẩn bị được đề bạt
lên một chức vụ khoa bảng cao nhất trong hệ thống học hàm đại
học. Trong đại đa số, họ cũng là những nhà nghiên cứu độc lập và
có ít nhiều uy tín trong chuyên môn.
Sau cùng là các nhân viên khoa bảng cao cấp, tức những người
mang học hàm Professor (ở Mỹ, Anh, và Úc), Professeur (Pháp) hay
Senior Fellow (Anh và Úc)(15). Họ là những nhà khoa bảng kinh
nghiệm lâu năm và quá tŕnh nghiên cứu có uy tín trên trường
quốc tế.
Tiêu chuẩn để được đề bạt vào các chức vụ này thường dựa vào
ba cống hiến chính: nghiên cứu, giảng dạy, và phục vụ cộng đồng.
Về nghiên cứu, mức độ cống hiến cho kiến thức nhân loại được "đo
lường" bằng số lượng và chất lượng các bằng sáng chế (patents)
hay các bài báo khoa học (papers) được công bố trong các tạp chí
khoa học chuyên môn(16). Tùy theo trường đại học, một Assistant
Professor phải có ít nhất là 5 bài báo khoa học; một Associate
Professor thường phải có tối thiểu là 30 bài báo khoa học; và
một Professor phải có tối thiểu là 50 (thường là 100) bài báo
khoa học.
Học hàm "kết hợp"
Ngoài các học hàm được phong hay đề bạt một cách nghiêm túc
dựa trên thành tích hoạt động khoa học và giảng dạy, trong một
số ngành như y khoa, kinh tế, và kỹ thuật, một số học hàm được
trao tặng dựa vào sự quan hệ của người được trao và trường đại
học. Trong các bệnh viện, một số bác sĩ chuyên khoa cao cấp, tuy
không làm nghiên cứu khoa học và chẳng có công bố công tŕnh
khoa học nào đáng kể, có thể được bổ nhiệm chức vụ Lecturer,
Assistant Professor, Associate Professor hay thậm chí Professor
trong các trường Y.
Tương tự, một số chuyên viên nghiên cứu khoa học trong các
công ty thương mại, tuy không giảng dạy, nhưng cũng được trao
tặng các chức vụ khoa bảng trên.
Những "nhà khoa bảng" này không được trường đại học trả
lương, và không phải là nhân viên chính thức của trường. Nhưng
khi họ công bố các bài báo khoa học th́ trường có quyền kể những
bài báo đó như tài sản tri thức của nhà trường! Tuy nhiên, bù
lại, họ được phép dùng những danh xưng khoa bảng của trường
trong các văn bản liên quan đến hoạt động khoa học. Những học
hàm này thường có chữ "Conjoint" hay "Adjunct" phía trước danh
xưng "Professor" hay "Associate Professor" để phân biệt với
những học hàm "thật". Việc dùng những danh xưng này, trên lư
thuyết, thường được các trường đại học kiểm tra rất gắt gao;
nhưng trong thực tế, một số người được trao những học hàm này
thường lờ và bỏ đi những chữ "Conjoint" hay "Adjunct" để được
người ngoài hiểu như những nhà khoa bảng thật!
Học vị và học hàm danh dự
Hầu như tất cả các trường đại học ở các nước Tây phương đều
có những kế hoạch để biểu dương tên tuổi và danh tiếng của
trường ḿnh đến với thế giới bên ngoài. Để đạt được mục tiêu
này, các trường đại học thường dùng chính sách cấp học vị và học
hàm danh dự cho những nhân vật quan trọng trong cộng đồng. Những
học vị và học hàm danh dự được trao tặng thường là những văn
bằng và chức vụ cao nhất trong đại học: "Tiến sĩ" (Honorary
Doctor) hay "Giáo sư" (Honorary Professor). Người được trao tặng
không nhất thiết phải là cựu sinh viên hay cựu nhân viên của
trường, cũng không cần phải có quá tŕnh học vấn nào, mà có thể
là một nhà hoạt động chính trị, nhà hoạt động xă hội, một nghệ
sĩ, nhà báo, công chức có tiếng tăm. Ở Úc, cựu Thủ tướng Paul J.
Keating, người có tŕnh độ học vấn cấp phổ thông trung học, sau
khi rời chính trường, được Trường Đại học New South Wales trao
tặng học hàm "Honorary Professor", để ghi nhận đóng góp của ông
trong nỗ lực đem tên tuổi nước Úc vào thị trường Á châu.
Những học vị và học hàm danh dự, v́ thế, có tính ngoại giao,
"hữu nghị", hơn là những chứng chỉ khoa bảng. Do đó, trong thực
tế, phần đông những người Tây phương được trao học vị và học hàm
danh dự ít khi nào dùng nó như là một thành tích hoạt động khoa
bảng hay tŕnh độ học vấn; tuy nhiên, một số đồng hương người
Việt lại hay thích kư tên ḿnh kèm theo những danh xưng danh dự
nơi công cộng.
Ngoài các học hàm "hữu nghị" này, nhiều trường đại học c̣n
phong chức "Emeritus Professor" (cựu giáo sư) cho
các giáo sư đă nghỉ hưu, nhưng vẫn c̣n gắn bó với trường đại
học. Danh hiệu này thường được trao tặng cho các giáo sư có đóng
góp lớn cho khoa học, cho trường và đă làm việc tại trường trong
một thời gian dài.
Vài chức vụ trong các hội đoàn chuyên môn
Một số ngành nghề chuyên môn như y khoa và kỹ thuật thường
được tổ chức khá chặt chẽ, mà trong đó tŕnh độ chuyên môn và
đẳng cấp thâm niên được phân chia tương đối rơ ràng. Theo cơ cấu
tổ chức này, những người hành nghề phải là hội viên của một hiệp
hội chuyên ngành. Hiệp hội này có chức năng đề ra những tiêu
chuẩn và qui tắc hành nghề, kiểm tra tŕnh độ chuyên môn của hội
viên, và quản lư nhân sự trong tổ chức. Theo định kỳ, thường là
hàng năm, các hiệp hội chuyên môn này tổ chức một kỳ thi tuyển
để kết nạp hội viên. Chẳng hạn như ở Úc và Anh, các bác sĩ muốn
hành nghề chuyên khoa, ngoài việc thực tập một thời gian (khoảng
5 năm), c̣n phải qua một kỳ thi tuyển vào một "college" chuyên
môn như "Royal College of Surgeons" (dành cho các bác sĩ giải
phẫu), "Royal College of Radiologists" (dành cho các bác sĩ
chuyên khoa bức xạ học), v.v...
Sau khi thi đỗ, thí sinh sẽ được cấp chứng chỉ hành nghề.
Những chứng chỉ này thường có chữ "Fellow" phía trước, như
"Fellow of the Royal College geons" hay (FRCS). Giới kỹ sư ở Mỹ
cũng có những hiệp hội tương tự như trong ngành y khoa, nhưng
cách thức thu nạp hội viên và tên gọi của họ khác ngành y khoa.
Tuy nhiên, trong các ngành nghề khác, có rất nhiều hiệp hội
chuyên môn hoạt động một cách bán thương mại, và h́nh thức tổ
chức không chặt chẽ như trong ngành y khoa và kỹ thuật. Phần
đông những hiệp hội này mở cửa đón nhận tất cả các hội viên,
không phân biệt tŕnh độ học vấn và khả năng chuyên môn, ngay cả
sinh viên cũng có thể gia nhập, và không phải qua một kỳ thi
tuyển nào. Hội viên phải đóng hội phí mỗi năm. Hội viên thường
được gọi là "Member", thay v́ "Fellow" như các hiệp hội nghiêm
túc. Do đó, là hội viên của những hội này không có nghĩa là một
bằng chứng về khả năng chuyên môn hay thành tích hoạt động khoa
học.
Ngoài các hiệp hội chuyên môn, c̣n có những hội đoàn bách
khoa, mà trong đó thành viên là tất cả các nhà khoa học hoạt
động trong mọi lĩnh vực khác nhau. Những hiệp hội này thường có
tên "Academy", chẳng hạn như "The National Academy of Sciences
of the United States of America" (tức Viện Hàn lâm Khoa học Quốc
gia Hoa Kỳ). Không giống như Liên Xô cũ (nơi mà Viện Hàn Lâm
Khoa Học Moscow là một trung tâm nghiên cứu), ở các nước Tây
phương như Mỹ, Anh và Úc, viện hàn lâm không phải là một viện
nghiên cứu, cũng không phải là tập hợp các viện nghiên cứu, mà
là một đoàn thể hay tổ chức tư nhân bất vụ lợi, có chức năng
chính là: (i) cố vấn cho chính phủ các chính sách liên quan tới
khoa học và kỹ thuật; và (ii) giáo dục và cổ động quần chúng về
khoa học và vai tṛ của khoa học trong xă hội.
Đối với phần đông quần chúng, cụm từ "viện hàn lâm" đồng
nghĩa với nơi tập trung của những bộ óc siêu việt, những con
người thông thái nhất của một quốc gia. Nhưng trong thực tế ở
các nước có nền khoa học tiến bộ cao như Mỹ th́ điều này chỉ
đúng một phần, v́ như nói trên, Viện Hàn lâm Khoa học chỉ là một
đoàn thể, là một cơ quan đại diện [có thể là cao nhất] cho các
nhà khoa học. Hội viên của hàn lâm viện thường do đồng nghiệp
tiến cử và b́nh bầu. Do đó, có nhiều nhà khoa học có thực tài,
nhưng không được tiến cử, nên không bao giờ là thành viên của
hàn lâm viện! Trong số khoảng 350 nhà khoa học và xă hội Mỹ
đoạt giải Nobel, chỉ có 170 người là thành viên của Viện này.
Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ có khoảng 1900 thành viên
(thường được dịch là "viện sĩ"); trong đó có khoảng 300 là người
mang quốc tịch và ở nước ngoài [Mỹ]. Theo tiêu chuẩn chung, họ
phải là những nhà khoa học ưu tú trong lĩnh vực chuyên môn,
nhưng do tính cách b́nh bầu, nên nó cũng lộ ra vài vấn đề liên
quan đến việc thiên vị và bè phái. Đă có nhiều người cho rằng
Viện này là một câu lạc bộ kín ("close club"), nơi mà chỉ có các
nhà khoa học quen biết với nhau qua giao thiệp xă giao, hơn là
một cơ quan đại diện chân chính cho các nhà khoa học. Điểm qua
danh sách của 1900 thành viên thuộc Viện này, người ta có thể
t́m thấy tên của nhiều nhà khoa học thường hay xuất hiện trên
các hệ thống truyền thông đại chúng hay có nhiều hoạt động xă
hội và chính trị như Albert Einstein, James Watson, v.v. Thành
ra, nhiều nhà khoa học lớn, những người tự coi họ là làm khoa
học loại "thứ thiệt", những người không thích hư danh hay ồn ào
trên các hệ thống truyền thông, th́ không thích có mặt trong
Viện này. Nhà vật lư học lừng danh Richard Feynman, cũng như
nhiều nhà khoa học danh tiếng khác, không phải là thành viên của
Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ. Chưa có một khoa học Việt
Nam hay gốc Việt nào có chân trong Viện Hàn lâm Quốc gia Khoa
học Hoa Kỳ.
Uy tín của một viện hàn lâm không chỉ tùy thuộc vào sự tiến
bộ về khoa học kỹ thuật của một nước, mà c̣n nhờ vào danh tiếng
của các thành viên trong viện. Không ai sẽ ngạc nhiên khi biết
rằng các viện hàn lâm khoa học của Mỹ, Anh, Pháp, Đức hay Liên
Xô cũ, nơi tập trung các nhà khoa học hàng đầu trên thế giới,
được nhiều người nể trọng hơn là các viện hàn lâm khoa học của
các nước Phi châu hay Hồi giáo. Cũng cần phải nói thêm ở đây
rằng không phải chỉ khoác cái tên "hàn lâm" (academy) vào một
đoàn thể hay cơ quan là tự động thành một viện hàn lâm. Trong
các "viện hàn lâm khoa học" ở Mỹ, chỉ có Viện Hàn lâm Khoa học
Quốc gia Hoa Kỳ là một cơ quan uy tín nhất; các viện hàn lâm
khác, mặc dù cũng dùng chữ "academy", như "The New York Academy
of Science" (NYAS hay Viện Hàn Lâm Khoa Học New York) là một
đoàn thể thương mại, không có uy tín ǵ lớn trong cộng đồng khoa
học. Bất cứ một sinh viên nào trên thế giới đều có thể trở thành
"viện sĩ" nếu họ nộp tiền hội phí hàng năm cho Viện này. Do đó,
thành viên của NYAS không phải là một danh dự, không phải là
chứng nhận về sự thành đạt trong hoạt động khoa học. Tuy nhiên,
tôi thấy đă có nhiều nhà khoa học Việt Nam đă bị lầm và bị "làm
tiền" bởi Viện này (17).
Vài nhận xét chung
Người không quen với hệ thống khoa bảng và bằng cấp có thể sẽ
thấy chóng mặt với những tên gọi những học vị và học hàm trên
đây, và sẽ đặt câu hỏi là người được cấp những văn bằng này phải
đạt những tiêu chuẩn ǵ. Thực ra, đứng trên b́nh diện quốc gia,
không có tiêu chuẩn nhất quán giữa các trường đại học trong việc
cấp những văn bằng này. Mỗi trường đại học có những tiêu chuẩn
riêng. Có khi mỗi thí sinh cũng được xét theo từng trường hợp
riêng biệt. Có sinh viên ra trường tiến sĩ chỉ trong ṿng sau 3
hay thậm chí 2 năm theo học, nhưng cũng có sinh viên phải miệt
mài cả tám năm để lấy mảnh bằng Tiến sĩ. Cũng có những trường
hợp hiếm hoi khi sinh viên theo học chương tŕnh Tiến sĩ, nhưng
khi ra trường chỉ được thẩm định và cấp bằng Cao học. Lại có
người nghiên cứu cả mười năm, nhưng chẳng viết được luận án ǵ!
Đôi khi, tự những học vị Ph.D., M.S., B.S. nó bao hàm một nội
dung rộng đến mức... chẳng có nghĩa ǵ cụ thể. Trên lư thuyết,
văn bằng Ph.D. là học vị cao nhất ở Mỹ và Úc; tuy nhiên, cũng có
nhiều "loại" Ph.D. với nhiều chất lượng khác nhau. Có nhiều
người có văn bằng Ph.D., nhưng độ hiểu sâu và kiến thức chưa
chắc đă hơn một người có học vị Cử nhân, thậm chí Tú tài, thời
Pháp thuộc ở Việt Nam.
Ngoài ra, ở Mỹ c̣n có tệ nạn "nhà máy văn bằng" (diploma
mills) hoạt động hoặc dưới h́nh thức dạy học hàm thụ, hoặc qua
hệ thống dạy học từ xa với sự trợ giúp của máy vi tính và mạng
internet. Phần lớn những trường này thực chất chỉ là những văn
pḥng nhỏ tại nhà, thậm chí chỉ là nhà để xe hay nhà bếp, nhưng
họ lại tự gắn cho họ những cái tên "lập lờ đánh lận con đen" (mà
nếu công chúng không để ư kỹ có thể lẫn lộn với những trường
danh tiếng của Mỹ) như "Harbard University", "Universitas
Harvardiana", "Atlanta Southern University", v.v... Mục đích duy
nhất của các sơ sở thương mại này là bán bằng cấp với giá từ
3000 tới 5000 đô-la Mỹ. Có "trường" c̣n bán tới 500 bằng tiến sĩ
hàng tháng! Do đó, một học vị, nếu không "đi kèm" với một
trường đại học nghiêm chỉnh được công nhận, cũng có thể không có
giá trị khoa bảng ǵ.
Tiêu chuẩn và phẩm chất học hàm thường mang tính địa phương;
tức là cũng có sự khác nhau giữa các thời điểm, giữa các nước,
và thậm chí giữa các trường đại học trong cùng một nước. Một vị
Professor ở Mỹ có thể chỉ được xem tương đương với một Associate
Professor ở Pháp hay Anh, và ngược lại. Tương tự, một Assistant
Professor ở một trường danh tiếng tại Mỹ có thể trở thành
Professor ở Nhật, Hồng Kông hay Singapore.
Thời điểm cũng là một yếu tố quan trọng. Vài mươi năm trước
đây, ở các nước như Anh, Úc, Pháp, Đức và Nga, mỗi Ban chuyên
môn (Department) trong một trường đại học chỉ có một người duy
nhất mang học hàm "Professor", những người c̣n lại chỉ là
"Associate Professor" hay "Lecturer". Những vị người mang hàm
"Professor" thời đó được phép dùng danh hiệu này suốt đời, dù họ
chuyển từ trường đại học này sang trường đại học khác. Học hàm
"Professor", do đó, cực kỳ cao quí ở các nước này trong thời
gian trước đây. Nhưng ở một góc độ khác, có thể nói vấn đề
một-Professor này cũng là nguyên nhân làm cho nhiều nhà khoa
bảng ở các nước trên chuyển sang Mỹ nghiên cứu và giảng dạy, v́
ở Mỹ, một Ban có thể có nhiều (thậm chí hàng trăm) người mang
hàm "Professor". Các nhà khoa bảng trẻ ở Mỹ không phải chờ đến
lúc lục tuần để được phong hàm "Professor"! Tuy nhiên, để chống
lại ḍng "chảy chất sám" này, ngày nay, ở các nước như Anh, Đức
và Úc, học hàm "Professor" đă được "Mỹ hoá", và mỗi Ban có thể
có nhiều người mang học hàm "Professor". Các nhà khoa bảng trẻ
do đó có cơ hội mang học hàm này hơn trước.
V́ học hàm "Professor" bị Mỹ hóa, ngày nay, có quá nhiều
Professor và phân biệt ai giỏi, ai dở là một việc làm cực kỳ khó
khăn v́ trong nhiều trường hợp, học hàm này không c̣n phản ảnh
trung thực khả năng chuyên môn của nhà khoa bảng nữa. Thực vậy,
nhiều giáo sư ở các trường đại học lớn ở Mỹ và Úc cũng có thể
"dốt" (huống hồ chi là học tṛ Ph.D!) Ngược lại, cũng có vô số
người không có học hàm "Giáo sư" nhưng lại cực kỳ giỏi. Cũng có
nhiều nhà khoa bảng có hàng trăm bài báo khoa học và trên phương
diện chuyên môn, c̣n danh tiếng hơn nhiều Professors khác, nhưng
họ chỉ giữ chức Assistant Professor, thậm chí không có học hàm
nào! Thành ra, trong hoạt động khoa học, bằng cấp và danh xưng
là những điều không được đặt nặng. Thực ra, đối với phần lớn các
nhà khoa học chân chính, những học hàm và danh xưng hoàn toàn vô
nghĩa, ngoài việc gây ấn tượng và "lấy le" với những người dân
thường hay những nhà chính trị thiếu hiểu biết về hoạt động khoa
học.
Xuất phát từ truyền thống lâu đời, người Việt Nam ta trọng
giới khoa bảng và những người có bằng cấp cao. Nhưng sự trọng
bằng cấp của số đông dân chúng đă sinh ra tệ nạn khệnh khạng
bằng cấp trong giới có học hay có chút chữ nghĩa. Ngày nay, chỉ
cần mở một tờ báo Việt ngữ hải ngoại ở California hay Sydney,
người ta sẽ phải chóng mặt về những bằng cấp và danh xưng của
các vị cử nhân, luật sư, kỹ sư, tiến sĩ, giáo sư, này nọ. Cố
nhiên, một số bằng cấp và học hàm này là thật, do chính đương sự
đạt được trong quá tŕnh học tập và nghiên cứu, nhưng cũng có
một số là những bằng cấp được chuyển ngữ một cách bịp bợm, nhằm
ḷe đồng hương, hay thậm chí một số học vị và học hàm "dỏm".
Thực vậy, có lẽ do nhu cầu kinh tế hay môt lư do nào đó, người
có bằng cấp, do vô t́nh hay cố ư, cũng đă đôi khi lạm dụng bằng
cấp của ḿnh và danh xưng. Nhiều trường hợp, người ta quảng cáo
là "Giáo sư" một đại học nào đó, nhưng lại cố t́nh lờ đi thực
chất học hàm đó chỉ là một chức "Conjoint" hay trường hợp người
ta quảng cáo là "Fellow" của một đoàn thể chuyên môn về giải
phẫu, nhưng trên thực tế họ chỉ là "Member"! Có người chỉ có văn
bằng cử nhân (không phải y khoa) nhưng lại tự xưng là "bác sĩ"
giữa công cộng!(18)
Sự khệnh khạng bằng cấp và hám danh không chỉ có trong cộng
đồng người Việt hải ngoại, mà c̣n rất phổ biến ở trong nước. Ở
Việt Nam, có thời người ta c̣n phân biệt Tiến sĩ đệ tam cấp, Phó
tiến sĩ và Tiến sĩ. Cũng như ở một vài nước Âu châu, ở Việt Nam,
một số nhà khoa bảng thích dùng cả hai học hàm và học vị trước
tên của họ, kiểu như "Giáo sư Tiến sĩ ABC". Thậm chí có thời
người ta c̣n phân biệt "Giáo sư I" và "Giáo sư II"!? Trong các
buổi lễ tốt nghiệp, người ta đọc tên các vị giáo sư kèm theo
những học vị và học hàm dài lê thê, khiến cho người nghe phải
sốt ruột. Một nhà khoa học danh tiếng ở trong nước và cũng là
một nhà toán học có tiếng trên thế giới có lần nhận xét một cách
chua chát: "Không có nước văn minh nào mà trên mặt báo hay các
buổi lễ long trọng xuất hiện một mật độ học vị, bằng cấp, chức
danh khoa học dày đặc nhưng không mấy tương xứng với thực chất
như nước ta." Tôi thiết tưởng nhận xét này vẫn hợp với t́nh h́nh
trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại.
Cuối cùng, một điều khá phổ biến trong những người có bằng
cấp là họ thường hay nghĩ rằng học vị và học hàm của họ là ưu
việt hơn bằng cấp của người khác, trường đại học hay cao đẳng và
các giáo sư mà họ theo học là danh tiếng hơn, tốt hơn, giỏi hơn,
v. v... những nơi khác và giáo sư khác. Điều này không những chỉ
thấy ở giữa cá nhân, mà c̣n giữa các quốc gia. Dù không nói ra
cụ thể, nhưng chất lượng bằng cấp thường được đánh giá một cách
chung chung dựa vào nền khoa học kỹ thuật của một nước hơn là
dựa vào khả năng của người có bằng cấp. Chính v́ thế mà những
nước đă phát triển như Mỹ, Anh, Úc, Pháp, v.v. không chịu công
nhận bằng cấp từ các nước nghèo hơn như Việt Nam, Trung Quốc, Ấn
Độ, v.v... Lư do không công nhận bằng cấp nước ngoài thường được
núp dưới danh nghĩa "tiêu chuẩn", tức là theo họ, những chuyên
viên được đào tạo trong các nước đang phát triển có tiêu chuẩn
thấp hay không đạt tiêu chuẩn mà họ đưa ra.
Chính người viết bài này từng được hỏi một cách hết sức mỉa
mai là "Anh biết làm phân số không?" khi xin học lại đại học ở
Sydney (Úc)! Thật là khôi hài và ấu trĩ nếu người Úc cho rằng kỹ
sư của họ tài giỏi hơn kỹ sư người Đức, hay bác sĩ của họ được
đào tạo kỹ hơn các bác sĩ người Mỹ hay Pháp, hay các nhà toán
học của Úc khá hơn các nhà toán học Việt Nam hay Ấn Độ. Thế mà
đó là những nguyên nhân họ đưa ra để không chịu công nhận bằng
cấp của các nước ngoài Úc! Nhưng xét cho cùng, ngoài một vài lư
do chính đáng, sự không công nhận bằng cấp nước ngoài cũng là
một cách phô trương thanh thế của họ, những nước giàu có, và bảo
vệ thị trường lao động cho sinh viên người bản xứ, chứ chẳng
liên quan ǵ đến tiêu chuẩn và phẩm chất đào tạo.
Mục đích thực và chính của việc học hành là để mở mang trí
tuệ, trau giồi kiến thức, rèn luyện nhân cách, và làm người hữu
ích cho xă hội. Bằng cấp và chức vụ khoa bảng không phải dùng để
đo những kết quả trên, mà chỉ là những phân chia đẳng cấp khoa
bảng rất tương đối. Bằng cấp, dù là học vị cao nhất như tiến sĩ,
chỉ là một bước đầu trong hoạt động khoa học, và tự nó không nói
lên được khả năng chuyên môn của nhà khoa học. Tương tự, một học
hàm cao nhất như giáo sư cũng không phản ánh chính xác được mức
độ đóng góp vào kho tàng tri thức của nhân loại. Người trí thức
chân chính chỉ nghĩ đến những đóng góp có giá trị nhằm đem lại
phúc lợi thực sự cho nhân loại, và không bao giờ phụ thuộc vào
học vị, học hàm hay các danh xưng phù phiếm để gây ảnh hưởng
trong cộng đồng.
Tác giả: Nguyễn Văn Tuấn
Ghi chú
Người viết bài này xin chân thành cám ơn anh
Tiến sĩ Mai Thanh Truyết, một Nhà giáo Việt Nam, người đă đọc
bản thảo và góp ư làm sáng tỏ hơn về hệ thống bằng cấp ở Pháp.
[1] Thực ra, Universitas of Doctors chỉ là một
hiệp hội (Guild) của những "Thầy". Theo tiếng Latin, chữ
Doctorem cũng có nghĩa là "Thầy".
[2] Nhiều tờ báo Việt ngữ hải ngoại thường
dịch [không chính xác] những trường "Community College" ở Mỹ là
"Đại học cộng đồng", và những người tốt nghiệp từ các trường này
là "kỹ sư".
[3] Tuy nhiên, trong những năm gần đây các
trường này đều trở thành đại học chính thức. Chẳng hạn như
trường "University College of Bristol" tuy thành lập từ năm
1876, nhưng măi đến năm 1909 mới được công nhận là "The
University of Bristol"!
[4] Ở Việt Nam c̣n xảy ra một sự ngộ nhận hết
sức "tai hại" trên báo chí về một em học sinh người Việt Nam, 17
tuổi, đỗ đầu ở một trường trung học tư thục ở Anh; nhưng có lẽ
v́ nhầm lẫn trường "college" mà em theo học là "đại học", nên
nhà báo đă vội viết bài ca ngợi em là một "thần đồng tốt nghiệp
đại học năm 17 tuổi"!
[5] Tôi không biết tiếng Việt ta có danh từ
nào để dịch văn bằng "Associate". Có người đề nghị dùng "Chứng
chỉ" để dịch chữ này; tuy nhiên "Chứng chỉ" có lẽ chính xác hơn
với "Certificate". Tôi đề nghị dùng cụm từ "Cử nhân dự khuyết"
cho văn bằng "Associate".
[6] Hai văn bằng Bachelor of Science (B.Sc.
hay B.S.) và Bachelor of Arts (B.A.) thường được dịch là "Cử
nhân Khoa học" và "Cử nhân Văn chương". Tuy nhiên, hai văn bằng
này rất bao quát. Một sinh viên theo học môn Tâm lư học
(Psychology) có thể tốt nghiệp với văn bằng B.A. nếu bộ môn này
chịu sự quản lư của phân khoa Văn chương (Faculty of Arts), hoặc
B.Sc. nếu bộ môn Tâm lư học chịu sự quản lư của phân khoa Khoa
học (Faculty of Science).
[7] Dựa vào tính cách đào tạo và chương tŕnh
học, tôi đề nghị dùng cụm từ "Cao học dự khuyết" cho văn bằng
"Graduate Diploma".
[8] Ở hải ngoại, văn bằng Master thường được
dịch là "Cao học". Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, chính
quyền trong nước đă có văn bẳn chính thức gọi những người có văn
bằng Master là "Thạc sĩ".
[9] "Doctorate" là một danh từ chung dùng để
chỉ học vị "Tiến sĩ". Chữ "Tiến sĩ" có lẽ được xuất phát từ chữ
Hán mà tiếng Anh phiên âm là "Chin-shih" (và tiếng Anh dịch là
"Doctor"). H́nh như văn bằng này được cấp lần đầu tiên vào năm
1313 (dưới triều đại nhà Tống); vào năm này, một cuộc thi tuyển
đặt dưới sự chủ tọa của vua được tổ chức. Qua kết quả của kỳ thi
này, có 300 thí sinh được cấp danh hiệu Chin-shih; trong số này,
có 75 người gốc Mông Cổ, 75 người quê quán ở miền Nam Trung
Quốc, 75 người quê quán ở miền Bắc Trung Quốc, và 75 người có
quốc tịch ngoại quốc.
[10] Trong một bài báo gần đây ở trong nước,
một nhà giáo dục đề nghị dùng cụm từ "Tiến sĩ cao cấp" để gọi
các thí sinh này!
[11] Học vị Doctorat du Troisième Cycle thường
được dịch sang tiếng Việt là "Tiến sĩ đệ tam cấp", và Doctorat
d'Etat là "Tiến sĩ quốc gia". Tôi không rơ học vị Doctorat
Université được dịch sang tiếng Việt là ǵ.
[12] Ở trong nước, Kandidat Nauk (Candidate in
Science) được dịch là "Phó Tiến Sĩ", và Doktor Nauk (Doctor of
Science) được dịch là "Tiến Sĩ". Tuy nhiên, trong năm 1999,
Chính phủ Việt Nam đă có quyết định gọi cả hai văn bằng này
chung là "Tiến sĩ".
[13] Trong các đại học Anh và Úc, không có
chức vụ Assistant Professor, và những chức vụ như Lecturer và
Senior Lecturer được xem là tương đương hay cao hơn với
Assistant Professor của Mỹ. Tuy được gọi là "Assistant
Professor", nhưng những giáo sư này không phải là phụ tá
(assistant) cho các giáo sư cao hơn, mà là một giáo sư hoàn toàn
độc lập. V́ thế, các học hàm ở bậc này có lẽ nên dịch sang tiếng
Việt là "Giảng sư".
[14] Trong một vài trường đại học theo hệ
thống của Anh Quốc, học hàm "Reader" được xem là tương đương với
"Associate Professor". Ở trong nước, Associate Professor được
dịch là "Phó Giáo sư".
[15] Học hàm "Professor" thường được dịch là
"Giáo sư" ở trong nước. Đây là một học hàm cao nhất trong đại
học. Tuy nhiên, cũng có trường đại học ở Mỹ phong học hàm
"University Professor" (thường được xem là cao hơn cả
"Professor") cho các giáo sư có thành tích nghiên cứu khoa học
xuất sắc và có đóng góp lớn cho trường.
[16] Các bài báo này thường phải qua một giai
đoạn "kiểm duyệt" tương đối gắt gao (thường từ 6 tháng đến một
năm) trước khi được chấp nhận cho xuất bản. Người kiểm duyệt
thường là đồng nghiệp làm cùng ngành, nhưng đương sự (người có
bài báo được duyệt xét) không biết họ là ai. Các tạp chí có chất
lượng cao chỉ nhận công bố khoảng 1 tới 20% các bài báo khoa học
được gửi tới ṭa soạn. V́ thế, nhá khoa học nào có nhiều công
tŕnh được công bố trên các tờ tạp chí có uy tín thường dễ được
nể trọng trong ngành nghề của ḿnh, và có cơ hội được thăng tiến
trong nấc thang khoa bảng.
[17] Ở trong nước, các thành viên trong các
Academy (Hàn lâm viện) thường được gọi là "Viện sĩ" (Hay
Academician). Đây là một học hàm rất nghiêm túc. Tuy nhiên, phần
đông các nhà khoa học ở trong nước và ngay cả ở hải ngoại h́nh
như vẫn chưa phân biệt được sự khác nhau giữa một viện hàn lâm
nghiêm túc và những viện hàn lâm thiếu nghiêm túc như "The New
York Academy of Science", nên vẫn tự nhận ḿnh là "Viện sĩ"
trong các viện hàn lâm "dỏm" này.
[18] Có người Việt tốt nghiệp Bachelor of
Optometry (tạm dịch: Cử nhân Khúc xạ học, tức là đo mắt), nhưng
anh lại trịnh trọng quảng cáo là "Bác sĩ Nhăn khoa".
Nguyễn Văn Tuấn |