|
Phát hiện gien
kiểm soát ráy tai: vài bài học về ṃ kim đáy biển
Nguyễn Văn Tuấn
Ráy tai (tiếng Anh gọi là cerumen hay
earwax) là chất sáp được h́nh thành từ tuyến apocrine.
Ráy tai có một nhiệm vụ tương đối khiêm tốn nhưng rất cần thiết,
đó là bảo vệ làn da mỏng manh nằm bên trong ống tai ngoài. Có
nhiều bằng chứng cho thấy sự cấu tạo của ráy tai là do các yếu
tố di truyền kiểm soát, tuy nhiên cho đến tháng 1/2006, chưa ai
biết cụ thể gien nào có liên quan đến ráy tai.
Có hai dạng ráy tai: ẩm ướt và khô. Ráy tai
ướt thường có màu nâu và nhầy. Ráy tôi khô thường là những mảng
khô màu vàng đen. Ráy tai khô thường t́m thấy trong người gốc
Đông Á (như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật), nhưng rất hiếm trong
người gốc Âu châu và Phi châu. Theo số liệu nghiên cứu dịch tễ
học, khoảng 80% đến 95% dân số Đông Á có ráy tai khô, nhưng tần
số này dưới 3% trong các sắc dân Âu châu và Phi châu (1-2).
Trong các sắc dân gốc Nam Á, Trung Á, và các đảo Thái B́nh
Dương, tỉ lệ người có ráy tai khô thường 30% đến 50%. Những
khác biệt về tần số ráy tai khô (hay ẩm ướt) giữa các sắc dân
như trên là một điều kiện khá lí tưởng để phát hiện gien ráy
tai. (Tôi sẽ dùng cụm từ “gien ráy tai” để chỉ gien hay các
gien có liên quan đến việc h́nh thành hai dạng ráy tai).
T́m gien có liên quan đến một bệnh hay một
đặc tính của cơ thể có thể ví như một cuộc ṃ kim đáy biển. Cơ
thể con người có khoảng 35.000 gien (chỉ là ước đoán, chưa ai
biết con số chính xác) được “sắp xếp” trong 23 nhiễm sắc thể
(chromosome). Có thể tưởng tượng như sau: trên một con đường
rất dài có nhiều tỉnh (tức là nhiễm sắc thể); mỗi tỉnh có
nhiều huyện (tức là gien); và trong mỗi huyện có nhiều
nhà (marker). Trên con đường đó có một (hay vài) gien có
liên quan đến bệnh tật mà chúng ta quan tâm. Vấn đề đặt ra là
nhiễm sắc thể hay gien đó nằm ở đâu. Mà ngay cả khi biết nhiễm
sắc thể nào đó có chứa gien chúng ta quan tâm, chúng ta vẫn phải
t́m marker cụ thể nào thật sự dính dáng đến bệnh. Việc truy t́m
gien là một công việc gian nan và đầy thách thức cho khoa học
hiện đại ngày nay. Các chuyên gia về di truyền học, thống kê
học, khoa học máy tính, và nhân chủng học đang ráo riết lao vào
nỗ lực này.
Năm 2002, một nhóm khoa học gia Nhật tiến
hành một nghiên cứu sơ bộ và phát hiện gien ráy tai nằm trong
nhiễm sắc thể số 16 (3). Nhưng họ không biết gien nào trong
nhiễm sắc thể đó kiểm soát ráy tai.
Để xác định chính xác hơn vị trí của gien ráy
tai, ba năm sau các nhà khoa học Nhật lại tiến hành một loạt
nghiên cứu qui mô hơn và hệ thống hơn, mà cách họ làm tôi xem là
một bài học tiêu biểu cho phương pháp truy t́m gien (4). Để
cung cấp thông tin cho những ai quan tâm, tôi xin tóm tắt qui
tŕnh nghiên cứu của họ như sau:
-
Trước hết, họ chọn một cách ngẫu nhiên 64
người Nhật có ráy tai khô và 54 người có ráy tai ướt, rồi
phân tích 134 markers. Sau khi phân tích thống kê mối liên
hệ giữa 134 markers này và dạng ráy tai, họ phát hiện chỉ có
12 markers có ư nghĩa thống kê (tức là có khả năng liên quan
đến ráy tai). Trong số này, chỉ có 6 markers nằm trong
nhiễm sắc thể 16. Điều không “may mắn” là khoảng cách giữa
12 markers vẫn c̣n khá xa, nên rất khó mà truy t́m chính xác
được.
-
Họ lại phân tích thêm 36 markers gần hay
chung quanh 6 markers trong nhiễm sắc thể 16. Trong số 36
markers này, họ chỉ thấy có 2 markers (đó là B81540.1 và
IMS-JST141676) có thể liên quan đến ráy tai. Họ khảo sát
trong thư viện GenBank th́ thấy 2 markers này cách nhau
khoảng 600 kb và hàm chứa 5 gien: ABCC12, ABCC11, LONPL,
SIAH1 và N4BP1.
-
Như vậy, bằng chứng trên cho thấy gien
ráy tai có thể nằm trong khoảng 600 kb này. Các nhà nghiên
cứu tiếp tục phân tích thêm 37 markers nằm chung quanh 5
gien trên. Qua phân tích thống kê, họ phát hiện 3 markers
có thể liên quan đến ráy tai: đó là rs17822931 trong gien
ABCC11, rs6500380 và ss49784070 trong gien LONPL, với trị số
P < 2.0 x 10-14.
-
Mỗi marker rs17822931, rs6500380,
ss49784070 có 3 dạng (genotypes): AA, AG và GG. Khi phân
tích thêm, các nhà nghiên cứu phát hiện rằng trong số 64
người có ráy tai khô th́ có đến 63 người mang genotype
AA-AA-AA và một người mang genotype GA-GA-GA. Trong số 54
người có ráy tai ướt th́ 15 người mang genotype AA-AA-AA, 33
người với GA-GA-GA, và 6 người với GG-GG-GG.
-
Như vậy, 3 markers này có độ tương quan
rất cao. Thực ra, hệ số tương quan (coefficient of
correlation hay c̣n gọi là linkage disequilibrium) giữa 3
markers là 0.99 (gần tuyệt đối). Do đó, thay v́ dùng ba
genotypes riêng lẻ, các nhà nghiên cứu dùng haplotype để
phân tích thêm. Có hai haplotype chính là AAA và GGG (hay A
và G cho gọn), và 3 hệ genotypes: AA, GA và GG.
-
Các nhà nghiên cứu lại tiếp tục phân tích
haplotype trong một nhóm gồm 126 người Nhật khác. Một lần
nữa, họ phát hiện rằng phần lớn 87 trong số 88 người có ráy
tai khô đều mang hệ genotype AA, c̣n những người có ráy tai
ướt đều mang hệ genotype GA hay GG. Rơ ràng đây chính là
bằng chứng thuyết phục nhất cho thấy gien ABCC11 trong nhiễm
sắc thể 16 (mà cụ thể là marker rs6500380) là “cái máy” điều
hành việc sản xuất ráy tai khô hay ướt.
-
Sau khi đă xác định được gien ráy tai cụ
thể, họ tiếp tục nghiên cứu trên 3247 đối tượng thuộc 33 sắc
dân trên thế giới để t́m hiểu sự phân phối và tần suất của
gien này. Chi tiết về kết quả phân tích được tŕnh bày
trong bản thống kê phần cuối của bài viết này. Dựa vào tần
số của hệ genotype AA (tức gien liên quan đến dạng ráy tai
khô), có thể tóm lược như sau: Nhóm thứ nhất gồm các sắc dân
như người Hàn Quốc và Bắc Trung Quốc, hơn 90% dân số mang
genotype AA; nhóm thứ hai là người Nhật ở lục địa với tần số
khoảng 70%; nhóm thứ ba là người Việt Nam và miền bắc Thái
Lan với tần số khoảng 50%; nhóm thứ tư gồm người Nam Dương,
Mă Lai và những người sống ở các hải đảo có tần số khoảng
20% đến 40%; và nhóm sau cùng là người Âu và Phi châu (Pháp,
Nga, Hung, Do Thái) th́ tần số genotype AA gần như 0.
Qua kết quả trên đây, chúng ta có thể suy
đoán rằng khoảng phân nửa người Việt Nam và Thái Lan có ráy tai
khô, và phân nửa có ráy tai ướt.
Công tŕnh nghiên cứu này cho ta
những bài học nào? Về mặt ư tưởng, một công tŕnh nghiên
cứu khoa học có khi bắt đầu bằng một quan sát hết sức tầm
thường, như cái ráy tai khiêm tốn trong trường hợp trên. Đành
rằng, biết được bao nhiêu người có ráy tai khô hay ướt cũng là
một thú vị, và biết được gien nào kiểm soát dạng ráy tai càng
thú vị hơn, nhưng ư nghĩa nó là ǵ? Tôi nghĩ bài học qua công
tŕnh nghiên cứu phải nói là thú vị này là: một khám phá có thể
bắt đầu từ những so sánh về khác biệt. Phải có người có ráy tai
khô và ướt th́ mới có đối tượng so sánh. Nói cách khác, nghiên
cứu di truyền, cũng như các nghiên cứu lâm sàng dịch tễ học
khác, cần một nhóm đối chứng (controls); không có đối chứng th́
nghiên cứu sẽ không có ư nghĩa khoa học.
Một bài học khác là một khám phá
mang tính khẳng định cần phải được lặp lại trong nhiều mẫu khác
nhau, chứ một phát hiện từ một mẫu vẫn chưa đủ tính thuyết
phục. Trong trường hợp các nhà khoa học Nhật, họ phải nghiên
cứu và nhất là phân tích trên 3 nhóm đối tượng khác nhau trước
khi triển khai đến một quần thể rộng hơn cho 33 sắc dân. Chính
v́ tính nhất quán này mà công tŕnh nghiên cứu của họ có thể xem
là một bài học quan trọng cho các nỗ lực truy t́m gien.
Về mặt phương pháp,
công tŕnh nghiên cứu của các nhà khoa học Nhật là một bài học
về qui tŕnh t́m gien cho một bệnh. Truy t́m gien liên quan đến
bệnh tật là một nỗ lực lớn, là đề tài nghiên cứu khoa học “nóng”
tại các nước đă phát triển như Nhật, một số nước bên Âu châu và
Mĩ châu. T́m được gien cũng có nghĩa là có được cái ch́a khóa
để mở ra cánh cửa cho điều trị và thậm chí giúp cho chúng ta
phát hiện bệnh sớm hơn. Nhưng như tôi viết trong phần mở đầu,
t́m gien cũng không khác ǵ câu nói ví von ông bà ta thường nói:
ṃ kim đáy biển. Trong cái biển 35.000 gien (hoặc nhiều hơn) và
hơn 2 triệu markers, làm sao t́m cho được marker hay gien liên
quan? Qui tŕnh của các nhà khoa học Nhật trong công tŕnh
nghiên cứu này là họ làm từng bước. Bước đầu là t́m ra nhiễm
sắc thể có triển vọng cao; bước kế tiếp là “khoanh vùng” những
markers liên quan; và bước thứ ba là từng đoạn một siết chặt
những vùng quan hệ và cuối cùng là “tóm” lấy cái marker liên
quan nhất.
Nỗ lực khoanh vùng và siết chặt
này đ̣i hỏi chuyên môn cao của hai bộ môn khoa học chủ chốt:
công nghệ sinh học phân tử và thống kê học. Để t́m ra những
markers cần thiết chúng ta cần đến chuyên gia về công nghệ sinh
học và di truyền học. Để xác định marker nào có liên quan đến
bệnh, thống kê học đóng vai tṛ số một. Có thể nói không ngoa
rằng, không có công nghệ sinh học và thống kê học, chúng ta sẽ
không thể nào t́m gien.
Về ư nghĩa khoa học, sự
phân phối gien ráy tai trong các sắc dân trên thế giới c̣n có ư
nghĩa về lịch sử tiến hóa của con người hiện đại. Tại sao tần
số gien ráy tai khô (AA) trong người vùng Nam Á như Nam Trung
Quốc, Việt Nam và Thái Lan thấp hơn trong người Bắc Á (như Hàn
Quốc và miền bắc Trung Quốc)? Các tác giả Nhật lí giải rằng có
lẽ người Đông Nam Á thuở đầu mang gien ráy tai ướt, nhưng qua
hàng ngàn thế hệ kết hôn giữa người miền Nam và Bắc Á châu, nên
dẫn đến tỉ lệ 50-50 như ngày nay. Ngoài ra, tần số gien ráy tai
khô thấp trong người thổ dân Mĩ châu cũng phù hợp với giả thuyết
rằng tổ tiên họ là người Á châu di dân sang Mĩ châu qua eo biển
Bering khoảng 15.000 năm trước đây.
Nhưng phát hiện về gien ráy tai
có ư nghĩa lâm sàng nào không? Tôi nghĩ câu trả lời thật
thà nhất là “không”: phát hiện ra gien có chức năng quyết định
dạng ráy tai trong cơ thể hiện nay chưa đem lại lợi ích trực
tiếp nào cho bệnh nhân đang bị đau khổ v́ các bệnh tai mũi
họng. Tuy nhiên, chúng ta cũng không thể loại trừ khả năng
trong tương lai gien này có thể được ứng dụng để đem lại lợi ích
cho các bệnh khác.
Đă từ lâu, giới y khoa biết rằng
ráy tai và mùi mồ hôi có liên hệ mật thiết với nhau. Người có
ráy tai khô ít khi nào ra mồ hôi, kể cả mùi hôi nách (hay ra mồ
hôi ít hơn) người có ráy tai ướt. Chẳng hạn như người Phi châu,
Âu châu và Trung Đông thường có mùi, v́ ráy tai của họ thường
ướt. Mà mồ hôi th́ do tuyến apocrine sản xuất và tiết ra.
Tuyến apocrine cũng có thể t́m thấy trong nách và vú. Do đó, có
lẽ chúng ta không ngạc nhiên khi có nghiên cứu cho thấy những
phụ nữ có ráy tai ướt cũng có nguy cơ bị ung thư vú cao hơn phụ
nữ với ráy tai khô. Thành ra, phát hiện gien ráy tai cũng có
thể giúp ích cho việc truy t́m gien ung thư vú (mà hiện nay vẫn
là một nỗ lực của giới khoa học).
Tài liệu tham khảo:
(1) Matsunaga E. The dimorphism in human
normal cerumen. Ann Hum Genet 1962; 25:273-286.
(2) Omoto K. Polymorphic traits in peoples of
eastern Asia and the Pacific. Isr J Med Sci 1973;
9:1195-1215.
(3) Tomita H, et al. Mapping of the wet/dry
earwax locus to the pericentrometric region of chromosome 16.
Lancet 2002; 359:2000-2002.
(4) Yoshiura K, et al. A SNP in the ABCC11
gene is the determinant of human earwax type. Nat Genet
2006 Jan 29; [Epub ahead of print]
Bảng 1. Phân phối gien ráy tai (rs17822931)
trong các sắc dân trên thế giới (Yoshiura K, et al. Nat Genet
2006;Jan 29).
|
Sắc dân
(vùng hay bộ lạc) |
Số đối
tượng nghiên cứu |
Tần số
genotype |
Tỉ số
genotype AA |
|
AA |
GA |
GG |
|
Hàn Quốc
(người Taegu) |
99 |
99 |
0 |
0 |
1.000 |
|
Bắc Trung
Quốc (Hán) |
74 |
74 |
0 |
0 |
1.000 |
|
Trung Quốc
(Jingsu) |
119 |
110 |
9 |
0 |
0.924 |
|
Trung Quốc
(Phú Sĩ, Quảng Đông, Hồ Nam) |
332 |
249 |
63 |
8 |
0.750 |
|
Trung Quốc
(nhiều vùng) |
52 |
42 |
10 |
0 |
0.808 |
|
Mông Cổ |
166 |
126 |
36 |
4 |
0.759 |
|
Nhật (phía
tây) |
126 |
87 |
35 |
4 |
0.690 |
|
Nhật (phía
nam) |
58 |
30 |
25 |
3 |
0.517 |
|
Nhật (đảo
Yonakuni) |
30 |
13 |
15 |
2 |
0.433 |
|
Nhật
(Hokkaido) |
58 |
32 |
24 |
2 |
0.552 |
|
Việt Nam
(nhiều vùng) |
153 |
82 |
60 |
11 |
0.536 |
|
Dravidian
Ấn Độ |
50 |
27 |
17 |
6 |
0.540 |
|
Thái Lan
(phía bắc) |
426 |
215 |
163 |
48 |
0.505 |
|
Thái Lan
(Bộ lạc Karen) |
49 |
31 |
10 |
8 |
0.633 |
|
Thái Lan
(Bangkok) |
77 |
2 |
23 |
52 |
0.026 |
|
Thái Lan
(phía nam) |
20 |
7 |
12 |
1 |
0.350 |
|
Sri Lanka
(Vedda) |
41 |
12 |
23 |
6 |
0.293 |
|
Nam Dương
(Dayak) |
100 |
27 |
49 |
24 |
0.270 |
|
Nam Dương
(Sulawesi) |
60 |
18 |
25 |
17 |
0.300 |
|
Nam Dương
(Floresian) |
50 |
9 |
16 |
25 |
0.180 |
|
Nam Dương
(Sumbanese) |
33 |
0 |
2 |
31 |
0.000 |
|
Nam Dương
(Irian Jaya) |
61 |
24 |
27 |
10 |
0.393 |
|
Mă Lai (bắc
Borneo) |
71 |
8 |
40 |
23 |
0.113 |
|
Mă Lai (Bộ
lạc Bentong) |
103 |
34 |
48 |
21 |
0.330 |
|
Đài Loan
(Yami và Ami) |
20 |
6 |
8 |
6 |
0.300 |
|
Bắc Mĩ (thổ
dân) |
48 |
11 |
23 |
14 |
0.229 |
|
Phi Luật
Tân (Palawan) |
29 |
4 |
18 |
7 |
0.138 |
|
Tây Đảo |
30 |
5 |
14 |
11 |
0.167 |
|
Bolivian |
30 |
6 |
11 |
13 |
0.200 |
|
Kazakh |
50 |
2 |
34 |
14 |
0.040 |
|
Thổ dân
Paraguay |
75 |
0 |
14 |
61 |
0.000 |
|
Nga |
112 |
5 |
45 |
62 |
0.045 |
|
Đảo Solomon |
62 |
2 |
25 |
35 |
0.323 |
|
Đảo Thái
B́nh Dương |
7 |
1 |
1 |
5 |
0.143 |
|
Pháp |
12 |
1 |
3 |
8 |
0.083 |
|
Andean |
10 |
1 |
2 |
7 |
0.100 |
|
Hung |
10 |
0 |
4 |
6 |
0.000 |
|
Do Thái
(Ashkenazi) |
10 |
| |