|
T́nh yêu, sắc
đẹp nh́n dưới quan điểm di truyền học
Nguyễn Văn Tuấn
Cách đây trên dưới nửa thế kỉ,
Nhà thơ Xuân Diệu thắc mắc: “V́ sao giáp mặt buổi đầu tiên /
Tôi đă đày thân giữa xứ phiền.” Quả là một vấn đề đáng t́m
hiểu: tại sao đôi trai gái chưa bao giờ gặp nhau lần nào trước
đó, mà chỉ một lần diện kiến đă cảm thấy mến nhau, mến đến nỗi
phải khổ thân nơi xứ phiền. Tín hiệu nào và nó đến từ
đâu đă gây nên hiện tượng Hữu duyên thiên lí năng tương ngộ,
hay khiến cho Kim Trọng chỉ một lần gặp Thúy Kiều mà T́nh
trong như đă, mặt ngoài c̣n e? Đành rằng t́nh yêu không có
biên giới, nhưng tại sao chị X lấy anh A, mà không là anh B; hay
anh C phải ḷng với chị Y, mà không là một chị khác? Thế lực và
cơ duyên nào đă gây nên sự kết tóc xe duyên một cách cực ḱ cụ
thể, và trong nhiều trường hợp, có một không hai, này? Duyên
nợ? Số phận? Cũng có thể lắm. Nhưng duyên nợ và số phận là
ǵ?
Làm sao cắt nghĩa được t́nh yêu?
Để trả lời cho câu hỏi trên, có
lẽ ta cần phải trước hết định nghĩa thế nào là "t́nh yêu". Cũng
như nhiều đặc tính khác, t́nh yêu có thể được định nghĩa theo
nhiều quan điểm khác nhau, và bằng mọi thứ ngôn ngữ. Nh́n qua
các từ điển của người Anh, Mĩ, tôi thấy họ định nghĩa t́nh yêu
qua những danh từ như affection (tŕu mến), attachment
(gắn bó) hay devotion (hiến dâng). Theo họ, t́nh yêu
là một trạng thái tâm thần có tính đạo đức cao độ, mà trong đó
sự tŕu mến và chung thủy được dành đặc biệt cho một người. Có
lẽ người Anh, Mĩ vốn máy móc, nên định nghĩa về t́nh yêu của họ
không được uyển chuyển như người Việt Nam ta. Không như anh
chàng nhạc sĩ Lionel Ritchie, sau khi đă đi lục lạo hết từ điển
này đến sách vở nọ, để cuối cùng anh ta không biết dùng chữ ǵ
khác mà phải viết "I love you" (anh yêu em, hay em yêu
anh – người Anh không phân biệt anh và em!) để nói đến t́nh
yêu, các thi sĩ của Việt Nam tài t́nh hơn nhiều. Trong thi văn
Việt Nam, suy đi nghĩ lại, tôi vẫn thấy Xuân Diệu định nghĩa
t́nh yêu thật tuyệt vời:
Làm sao cắt nghĩa
được t́nh yêu!
Có nghĩa ǵ đâu,
một buổi chiều
Nó chiếm hồn ta
bằng nắng nhạt,
Bằng mây nhè nhẹ,
gió hiu hiu ...
Tức là, phải có một môi trường
chung quanh (như một buổi chiều, gió hiu hiu, mây nhè nhẹ, v.v…)
tác động tới tâm lí (hồn ta) mới gây ra được một cảm giác t́nh
yêu, chứ triết lí suông với những từ hoa mĩ trừu tượng trong một
không gian vô định nghĩa th́ khó mà có thể tả được t́nh yêu!
Định nghĩa t́nh yêu của Xuân Diệu c̣n cho ta
thấy nó là một đặc tính tâm lí (behavioral trait). Mà, một phản
ứng tâm lí thường được quyết định bởi hai yếu tố quan trọng là
sinh học và môi trường. Mặc dù là một đặc tính tâm lí sinh học,
nhưng cho đến nay, t́nh yêu vẫn chỉ là một đề tài của giới văn
chương, nghệ thuật. Thực vậy, t́nh yêu là nguồn sáng tác bất
tận, một chủ đề có tính cổ điển (nhưng không bao giờ lỗi thời),
của thi ca, văn chương, kịch nghệ, phim ảnh, tiểu thuyết ...
Nhưng một điều ngạc nhiên là t́nh yêu ít khi trở thành chủ đề
của các cuộc thảo luận khoa học, đặc biệt là sinh học, mặc dù
người ta vẫn không ngừng nói về bản chất tâm lí và hóa học của
t́nh yêu.
Tôi có một đề nghị: t́nh yêu có
tính di truyền. Như đề cập trên, t́nh yêu cần có hai yếu tố tác
động: môi trường và sinh học. Tôi không bàn yếu tố nào quan
trọng ở đây, v́ đó không phải là đề tài của bài viết này; vả
lại, ngày nay vẫn c̣n nhiều tranh căi về sự tương quan cống hiến
của hai yếu tố này. Mà, nói đến sinh học có lẽ ta cần phải có
vài hàng về những đơn vị cơ bản được dùng để cấu tạo nên một con
người.
Trong một bài nhạc, Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn có
ví von rằng cơ thể chúng ta được h́nh thành bằng "cát bụi", và
cuối cùng th́ cũng trở về với cát bụi: Hạt bụi nào hóa kiếp
thân tôi / Để một mai tôi về làm cát bụi. Tôi chắc rằng lúc
viết câu này nhạc sĩ chưa học về sinh học phân tử (molecular
biology), mà chỉ do ảnh hưởng triết lí Phật giáo, nhưng nói
chung là ông ta rất đúng. Ngày nay, qua tiến bộ của khoa học
sinh học phân tử, người ta đă biết được rằng cái đơn vị sinh học
cơ bản nhất trong một con người là tế bào (cells). Cơ thể chúng
ta được cấu tạo bằng hàng tỉ tế bào. Nhiều tế bào có những
nhiệm vụ khác nhau, chẳng hạn như tế bào năo có nhiệm vụ giữ ǵn
trí nhớ và tri thức, tế bào tim làm cho tim ta đập nhịp nhàng,
tế bào ruột làm ra chất nhầy (mucus), v.v. Những tế bào này có
thời gian tồn tại nhất định. Chẳng hạn như tế bào tinh trùng
nam chỉ sống sót khoảng vài tháng, trong khi đó tế bào trứng của
phái nữ có thể tồn tại đến 50 năm. Mặc dù khác nhau về chức
năng và thời gian sống sót, tất cả các tế bào đều có cấu trúc
giống nhau: trong mỗi tế bào đều có một cái nhân (nucleus) nằm
chính giữa. Cái nhân này có chứa những chất liệu di truyền mà
ta thường gọi là DNA (viết tắt từ chữ deoxyribonucleic acid).
DNA là một nucleic acid được tạo thành bởi hai chuỗi gồm những
đơn vị gọi là nucleotide. Hai chuỗi này xoắn với nhau thành một
h́nh xoắn kép và nối với nhau bằng những "sợi dây" hydrogen. Mỗi
nhân thường có khoảng 6 triệu DNA. Một mảng DNA tạo thành một
gene. Có thể ví mỗi DNA như một chữ; và nhiều chữ tạo thành một
câu văn (tức là gene). Không ai biết được một cách chính xác
trong cơ thể ta có bao nhiêu gene, nhưng các nhà khoa học ước
đoán rằng trong cơ thể ta có chứa khoảng 30.000 – 35.000 gene.
Gene có chức năng gửi các tín hiệu hóa học đi đến tất cả các nơi
trong cơ thể. Những tín hiệu này có chứa đầy đủ các thông tin,
các chỉ thị cụ thể cho các cơ quan trong cơ thể ta phải hoạt
động ra sao.
Thành ra, có lẽ không cần phải
dài ḍng văn tự, tôi xin báo ngay một tin buồn cho các bạn trẻ
rằng: nếu dựa trên quan điểm về sinh học, chúng ta (các bạn và
tôi) là những sinh vật bất lực trong t́nh yêu, không có chỗ nào
để chúng ta cựa quậy nhúc nhích ǵ cả! Lí do đơn giản là như đă
nói trên, trong mỗi gene có những chỉ dẫn (hay nói đúng hơn là
mệnh lệnh) cho các phân tử làm việc ǵ và cách làm ra sao.
Những mệnh lệnh này đă được soạn thảo một cách cực ḱ công phu
và cẩn thận để chúng ta phải tuân lệnh chúng, thi hành những
đường lối đă được vạch sẵn ngay từ lúc ta mới sinh ra, kể cả
những điều mà bản thân ta sẽ phải khốn khổ về sau. Bởi vậy,
những gene của t́nh yêu có một vai tṛ rất lớn trong t́nh trường
trong ta, mà ta không để ư hay chưa biết. Mà, cho dù ta có biết
đi nữa, những gene t́nh yêu này vẫn bắt buộc, theo những cách
thức hoàn toàn áp đặt, ta yêu người này chứ không phải người
kia, yêu vào lúc khác chứ không phải lúc này, và thậm chí lúc
nào phải chia tay với t́nh yêu!
Nếu bạn c̣n nghi ngờ về điều này
th́ tôi xin mời bạn hăy cùng tôi xem xét vấn đề chúng ta sẽ yêu
ai nhé. Do những khuyết tật về nội ḍng (inbreeding), và v́
quyền lợi của các gene, chúng ta không được lập gia đ́nh với
những người thân; các gene đă làm vô số lập tŕnh để bắt buộc
chúng ta phải tránh điều này. Gần đây, có một cuộc nghiên cứu
thú vị trên 2796 cuộc hôn nhân của các thiếu niên sống trong các
trang trại Kibbutz ở Do Thái (trong các trang trại này, trẻ em
dù không có quan hệ ruột thịt, nhưng đă chung sống từ khi lọt
ḷng cho đến lúc trưởng thành) với kết quả là chỉ có 13 trường
hợp trong đó vợ chồng cùng sống trong một trang trại. Nhưng
ngay cả 13 trường hợp này cũng chỉ là những trường hợp ngoại lệ,
v́ khi đến sống trong các Kibbutz các em đă 6 tuổi. Đáng ngạc
nhiên hơn nữa là không hề có hiện tượng quan hệ t́nh dục khác
giới giữa các em ở cùng một trang trại. Đây là một sự kiềm chế
đáng kinh ngạc trong điều kiện gần 6000 em trai và gái sống
chung với nhau trong điều kiện mà mức độ hormone ở trong thời ḱ
sung măn nhất! Đó là cái ǵ nếu không phải chính các gene của
chúng ta đă làm nên điều ḱ diệu đó.
Các gene cũng ngăn chận không cho
chúng ta yêu một ai hay một cái ǵ đó quá ư là khác lạ, chẳng
hạn như khỉ! Từ quan sát 13 đôi kết hôn sau khi gặp nhau lúc 6
tuổi hay muộn hơn, cho các nhà nghiên cứu thấy rằng cách thức
các gene bắt buộc chúng ta phải tuân theo ư muốn của chúng. Hóa
ra, tuổi lên 6 là thời điểm quan trọng để đứa trẻ khắc họa h́nh
ảnh người bạn đời tương lai trong tâm khảm. Nói một cách khác,
người bạn đời của chúng ta rất giống đứa bạn khác giới mà ta
chơi chung năm ta lên 6 tuổi. Gene của chúng ta chọn lứa tuổi
này, v́ những đứa bạn lên 6 rất hợp tính, nhưng lại không có
quan hệ huyết thống, với ta. Chính điều này đă tối ưu hóa đặc
tính di truyền (genetic fitness).
Sau khi đă quyết định cho chúng
ta phải yêu ai, các gene bèn t́m cách chọn (hay cố gắng chọn)
một người bạn đời hoàn toàn phù hợp với các tiêu chuẩn do chúng
đặt ra. Các tiêu chuẩn mà các gene đặt ra cho đàn ông khác với
các tiêu chuẩn cho phụ nữ. Đối với các gene của đàn ông, người
bạn đời lí tưởng phải trẻ và đẹp. Tại sao lại có
tiêu chuẩn trẻ ở đây? Bởi v́ đối với chúng, người phụ nữ trẻ có
thời gian dành cho sinh sản dài hơn. Và sinh sản nhiều cũng có
nghĩa là chúng (genes) có cơ được tồn tại lâu hơn và lưu truyền
đến các thế hệ mai sau. Ông Henry Kissinger, lúc về già đă
chẳng dan díu và lấy cô thư kí chỉ bằng tuổi con gái ông làm vợ
là ǵ!
Đẹp là trung b́nh
Thế nào gọi là "đẹp"? Câu trả
lời không đơn giản, nhưng tôi có thể tóm gọn thế này: đẹp là
là một đặc tính trung b́nh. Tôi biết có bạn đọc tới đây và
sẽ nói "vớ vẩn, đẹp là phải trên trung b́nh chứ," nhưng xin quí
bạn hăy kiên nhẫn và cho tôi vài phút để thuyết phục. Trong một
công tŕnh nghiên cứu về sắc đẹp được công bố gần đây trên tờ
báo khoa học hàng đầu thế giới, Nature, các nhà nghiên
cứu chọn một cách ngẫu nhiên 20 khuôn mặt của các phụ nữ và họ
đưa những ảnh này vào computer để phân tích. Họ cho computer
"trung b́nh" hóa tất cả các đường nét trên khuôn mặt của 20
khuôn mặt. Bằng cách "ḥa chảy" hai h́nh ảnh vào nhau, họ có
được hàng loạt h́nh ảnh bằng cách "lấy trung b́nh" giữa 2 và 9
khuôn mặt. Khi họ đưa các tấm ảnh trung b́nh ra hỏi các đồng
nghiệp của ḿnh xem khuôn mặt nào đẹp nhất, th́ thú vị thay,
khuôn mặt có những đường nét "trung b́nh" nhất [riêng tôi th́
thấy là bầu bĩnh nhất] được chọn là khuôn mặt đẹp nhất.
Ngoài khuôn mặt ra, đường nét cấu
trúc của cơ thể cũng là một thông số quan trọng để thẩm định sắc
đẹp. Ở phương Tây ngày xưa, người ta thường hay dùng tỉ số
eo/mông (waist-to-hip ratio) để đánh giá tính hấp dẫn của một
phụ nữ, đại khái là phụ nữ nào có thân h́nh thắt đáy lưng ong
được xem là hấp dẫn. Theo các nhà tâm lí học cổ điển Tây
phương, người phụ nữ nào có cái tỉ số eo/mông vào khoảng 0,7 là
một người đẹp lí tưởng (tất nhiên là về mặt thể dạng thôi, không
phải tính t́nh). Các nghiên cứu trong ṿng ba thập niên gần đây
cho thấy tỉ số eo/mông này có liên quan tới hai hormone nam tính
testosterone và hormone nữ tính estrogen. Phụ nữ có tỉ số
eo/mông cao thường là những người có độ testosterone cao hơn,
nhưng độ oestrogen thấp hơn, những phụ nữ có tỉ số eo/mông
thấp. Phụ nữ có tỉ số eo/mông thấp là những người có sức khỏe
tốt hơn và sinh sản dễ dàng hơn các phụ nữ có tỉ số cao. Trong
một nghiên cứu ở Anh và Texas cho thấy phụ nữ có tỉ số eo/mông
cao cũng là những người thường sinh con trai!
Nhưng mới đây, một nhóm nghiên cứu ở Anh đă
làm thí nghiệm và cho rằng ṿng eo/mông không phải là một tỉ số
chính xác về sắc đẹp. Trong một bài báo trên tờ Lancet (một tờ
báo y khoa hàng đầu trên thế giới), họ kết luận rằng tỉ số
chính xác hơn là mật độ trọng lượng trên một mét vuông của cơ
thể (c̣n gọi là body mass index hay BMI). BMI được ước tính
bằng cách lấy trọng lượng (kg) chia cho chiều cao b́nh phương (m2).
Nhóm nghiên cứu này đă phân tích mối tương quan giữa tính hấp
dẫn (gọi là sexual attractiveness hay SA) và BMI của 44 phụ nữ
(xem biểu đồ). Người viết bài này đă dựa vào dữ kiện của họ và
đă t́m ra một phương tŕnh liên quan giữa sắc đẹp (SA) và BMI
như sau:
SA = 4,022
x
BMI – 0,162
x
BMI2 + 0,002
x
BMI3 – 26,6

(Chú ư phương tŕnh này chỉ thích hợp cho BMI
khoảng 15 tới 35 kg/m2.)
Nếu ta lấy đạo hàm phương tŕnh này để t́m ra điểm đẹp tối đa,
th́ BMI vào khoảng 19 tới 20 kg/cm2. Con số này đúng
ngay vào con số trung b́nh! (Thực ra, về mặt sức khỏe, đây cũng
là độ BMI lí tưởng, v́ theo định nghĩa y khoa hiện nay, người có
BMI hơn 25 kg/cm2 được xem là "ph́" - over-weight, và
hơn 30 kg/cm2 được xem là "béo" - obese)).
Đó là tiêu chuẩn người đẹp Tây
phương, thế c̣n người Việt ta th́ sao? Trong một cuộc thi
"Người mẫu thời trang Hà Nội mở rộng '99", có 22 thí sinh tuổi
từ 17 tới 22. Ban tổ chức công bố các thông số quan trọng như
chiều cao, trọng lượng, ṿng eo, ngực và mông của các thí sinh.
Qua các thông số này, tôi đă làm một phân tích chớp nhoáng và
thấy số trung b́nh BMI của các thí sinh này là 17,6 kg/m2,
ṿng ngực 83,1 mm, ṿng eo 60,5 mm, mông 90,2 mm, tỉ số eo/ngực
0,72 và tỉ số eo/mông 0,67.
Người đoạt giải nhất trong cuộc thi này là
một thí sinh có tỷ số BMI 17,6 kg/m2, eo/mông 0,66 và
eo/ngực 0,72. Người chiếm giải nh́ là một thí sinh với BMI 17,9
kg/m2, eo/mông 0,67 và eo/ngực 0,72. Tất cả các chỉ số của hai
người đẹp này nằm ngay vào con số trung b́nh! Như vậy, mặc dù
Ta và Tây có tiêu chuẩn BMI khác nhau, nhưng trung b́nh vẫn là
một công thức chung để t́m cái đẹp.
Cũng cần nói thêm ở đây rằng có
nhiều [chứ không phài chỉ một] đặc tính trung b́nh làm nên cái
đẹp. Do đó, có người đẹp "đáp ứng" được tiêu chuẩn trung b́nh
về BMI, nhưng lại không có chỉ số eo/mông trung b́nh, hay ngược
lại, ít có cơ hội được bầu làm hoa hậu hơn những người có nhiều
chỉ số trung b́nh. Nhưng t́m được người đẹp trung b́nh không
phải là chuyện dễ. Giả dụ như trong toàn bộ dân số, xác suất mà
một người đẹp có chỉ số trung b́nh cho một đặc tính nào đó (như
BMI chẳng hạn) là 0,15 (hay 15%); nếu ta dùng 10 đặc tính để
thẩm định sắc đẹp, th́ xác suất mà ta t́m được một người đẹp (có
10 chỉ số trung b́nh) là 0,00000000577, tức là trong một ti
người, ta chỉ t́m được khoảng 6 người đẹp toàn diện! Thành ra,
người đẹp hay hoa hậu, mặc dù chỉ là trung b́nh, nhưng lại rất
hiếm. Điều này cũng giải thích tại sao người ta phải dễ dăi với
các tiêu chuẩn về đẹp khi t́m người bạn đời.
Đặc tính trung b́nh và gene
Nhưng tại sao các gene lại thích
đặc tính trung b́nh? Bởi v́ trung b́nh là biểu tượng của sự cân
đối (symmetry), và do đó, trung b́nh loại bỏ các đường nét không
cân đối và các đường nét thô thiển. Sự không cân đối
(asymmetry) của cơ thể là biểu hiện của các bất thường về mặt di
truyền và sinh lí. Nghiên cứu y học trong những thập niên qua
cho thấy người không có đường nét cân đối có nguy cơ bị bệnh
nhiều hơn và bị các hội chứng Down, tâm thần phân liệt
(schizophrenia), v.v… cao hơn những người có thân h́nh cân đối.
Có thể v́ lí do này mà các gene không muốn chúng ta "chung chạ"
với người có mang khuyết tật di truyền. Thực ra, trung b́nh c̣n
là một chỉ số tối ưu (optimal) trong h́nh học. Tam giác đều là
tam giác có diện tích lớn nhất so với các loại tam giác khác.
H́nh vuông cũng là h́nh có diện tích lớn nhất trong các h́nh chữ
nhật. H́nh tṛn cũng có diện tích lớn hơn các h́nh khác như
ellipses. Bởi thế, sự "trung b́nh" trong sắc đẹp cũng có thể là
một h́nh thể tối ưu. Nếu giả sử đẹp là một cái ǵ đó mà không
phải là sự trung b́nh, th́ hẳn rằng quá tŕnh chọn lọc tự nhiên
qua hàng triệu triệu năm đă kết thúc bằng một khuôn mặt người
trông ḱ quái như chùm lông chim ở chốn địa đàng!
Sự thực là phần đông, nếu không
muốn nói là tất cả, đàn ông thường bị hấp dẫn bởi phụ nữ có bộ
ngực to, và cái mông nở nang, có thể chỉ đơn giản bởi v́ các
gene của họ muốn họ thành công trong việc duy tŕ ṇi giống.
Điều này cũng không ngạc nhiên, v́ đôi bầu vú to hẳn sẽ hứa hẹn
một nguồn sữa dồi dào, và mông nở nang (tỉ số eo/mông thấp) hẳn
sẽ sinh nở dễ dàng.
Tuy nhiên, về cái khoản này, các gene của đàn
ông dễ bị mắc lừa lắm. Bầu vú to có thể là do béo ph́ (hay do
những lí do "nhân tạo" như silicon chẳng hạn) chứ chẳng liên
quan ǵ đến việc có lắm sữa hay không! Rất có thể là các gene
của đàn ông bắt đầu chọn lọc các phụ nữ có eo nhỏ như là một
"giấy chứng nhận" ngầm nói rằng ngực họ to không phải do béo
ph́. Vậy là "an toàn" nhé! Tuy nhiên "giấy chứng nhận" này có
khi lại là cái bẫy. Mông nở nang có thể là do ứ mỡ mà thôi!
Bầu vú to, mông rộng, do đó, có thể chỉ là những quảng cáo bịp
bợm! H́nh như các gene của đàn ông chưa đủ thông minh để nhận
ra điều này.
Thế các gene của phụ nữ đ̣i hỏi
ǵ ở người đàn ông? Nói chung, chúng không khó tính lắm, chúng
chỉ quan tâm đến về sắc diện bề ngoài hay tuổi tác, nhưng lại
rất khắt khe xét nét về chiều cao, địa vị xă hội và của cải của
người đàn ông. Ba điều kiện này đặc biệt hấp dẫn các gene của
phụ nữ. Trường hợp của Monica Lewinsky và Clinton là một ví dụ
điển h́nh. Ở Sài G̣n ngày xưa, có một ca sĩ trẻ, xinh gái và có
tiếng nọ từng tuyên bố: "Tôi thà làm bé cho một ông lớn, c̣n hơn
làm bà lớn cho một ông bé!" Quyền bính là cục nam châm làm cho
các gene phụ nữ chui vào lưới t́nh.
Điều lạ lùng là các gene của phụ
nữ c̣n xem xét đến cả tính chân thực, sự tử tế, và tính hào
phóng của người đàn ông. Ích lợi của chiều cao, địa vị và của
cải có thể giải thích bằng một mô h́nh mà các nhà tâm lí học
thường đề cập tới là "Parasite model" (mô h́nh kí sinh). Theo
mô h́nh này, v́ chiều cao liên quan tới testosterone (hormone
nam giới); đàn ông con trai có độ testosterone cao thường có
chiều cao trên trung b́nh và có khả năng đề kháng các vi trùng
cao. V́ có khả năng đề kháng cao, họ có thể đầu tư nhiều hơn
vào việc nuôi dưỡng vợ con. Thế mấy điều kiện c̣n lại th́ sao?
Đối với các gene của phụ nữ, để tối ưu hóa sự tồn tại măi măi
của chúng, các các gene này sẽ "mồi chài" những người đàn ông có
khả năng giúp phụ nữ nuôi con suốt đời. Và bởi vậy, có lẽ ḷng
chân thật, ḷng tử tế, và tính hào phóng là các yếu tố quan
trọng ngầm nói rằng người đàn ông sẽ có khả năng làm điều này.
Nhưng t́nh yêu có tồn tại ở muôn
loài không? Khỉ có biết yêu không? Tôi nghĩ là không, hoặc ít
nhất là không theo cái cách của chúng ta. Lí do th́ thật đơn
giản v́ con người là động vật bậc cao duy nhất tiến hóa đến mức
giữa đàn ông và đàn bà có sự ràng buộc lứa đôi. Có ràng buộc
lứa đôi bởi v́ sự phân công lao động giữa đàn ông và đàn bà mang
lại nhiều lợi ích hơn là một người làm tất cả. Đàn ông th́ mang
thú rừng về, c̣n đàn bà th́ đi hái quả. T́nh yêu tạo điều kiện
đảm bảo cho mối quan hệ này được tiếp tục và đem lại lợi ích
chung.
Cũng may mắn là các gene không thể sắp xếp
hết mọi điều theo ư chúng. Thêm nữa, chúng đă phạm phải một sai
lầm nghiêm trọng là tạo ra bộ năo của con người. Thế là chính
cái năo mà các gene tạo ra lại có khả năng suy nghĩ độc lập. Bộ
năo có t́nh cảm riêng, đ̣i hỏi riêng và nhu cầu riêng, và những
điều này không phải lúc nào cũng giống những cái mà các gene đă
áp đặt cho nó. Chẳng hạn bạn có thể quyết định rằng bạn không
thích lấy cái anh chàng cao lớn, giàu sụ và thành công nhất cái
phố này mà chỉ sống một ḿnh cả đời c̣n hay hơn. Hoặc giả bạn
lấy ai đó nhưng không thích có con và cả hai chỉ sống như vậy
cho đến lúc chia tay với cuộc đời. Cũng thật là tệ, theo quan
điểm của các gene, loài người đă khám phá ra cấu tạo của chính
ḿnh và đă phát minh ra nhiều công nghệ tiên tiến. Thậm chí con
người đôi khi c̣n quyết định rằng họ thích gene này hoặc không
thích gene kia, và t́m cách loại nó ra khỏi bộ gene.
Trong truyện Kiều, cụ Nguyễn Du từng thắc mắc
như là một lời ta thán: Người đâu gặp gỡ làm chi / Trăm năm
biết có duyên ǵ hay không? Căn cứ vào những ǵ chúng ta
biết về gene và t́nh yêu, tôi xin trả lời cụ là "có", và "duyên"
ở đây là gene, cho dù câu trả lời có vẻ muộn màn cả 200 năm.
Và rồi, trong một ngày đẹp trời
vào dịp Xuân về, nếu như trong một bữa tiệc, trong khi bạn đang
tán gẫu với một nàng hay một chàng có ngoại h́nh trung b́nh và
bất chợt người đó nói một điều ǵ làm ḷng bạn rung động, làm
cho bạn phải "đày thân giữa xứ phiền" th́ bạn sẽ cảm thấy nàng
hay chàng này chính là người mà số phận đă dành cho bạn. Nhưng
nếu bạn là người đă có gia đ́nh, tôi thành thật khuyên bạn hăy
lập tức dùng bộ năo của bạn mà nói ngay với các gene của ḿnh
rằng "Xéo ngay đi cho khuất mắt ta," chứ nếu không th́ hậu quả
sẽ là: Và t́nh ái là sợi dây vấn vít / Yêu, là chết ở trong
ḷng một ít.
|