Các bệnh về thần kinh có thể gây rất nhiều rối loạn dinh dưỡng khác nhau: ở da, xương, khớp, cơ. Trong nhiều trường hợp các rối loạn đó có giá trị chẩn đoán quyết định và xuất hiện rất sớm trước các triệu chứng khác.
Quan trọng nhất là rối loạn dinh dưỡng ở cơ, v́ hay gặp và khó chẩn đoán nguyên nhân, nếu không biết cách khám xét.
Đối với mọi trường hợp teo cơ, khi khám cần chú ư:
- Cách xuất hiện (đột ngột, hoặc sau một tổn thương viêm).
- Tiến triển nhanh hay chậm.
- Mức độ teo đo bằng thước dây ṿng quanh chi (để tiện theo dơi và đánh giá kết quả điều trị).
- Khu trú của teo cơ (bàn, ngón, vai, thắt lưng).
- Tính chất đối xứng hai bên với nhau.
- T́m xem có co giật cơ hay không.
- Cuối cùng phải khám thần kinh toàn bộ, đặc biệt chú ư đến:
+ Phản xạ gân xương, phản xạ của cơ (gơ vào thân cơ) cảm giác.
+ Phản ứng thoái hoá điện, nếu có phương tiện.
Khám xét như trên, cho phép ta nhận định được rơ là teo cơ do thần kinh hay do bệnh của cơ.
|
Teo cơ do bệnh cơ |
Teo cơ do thần kinh |
|
- Teo ở gốc chi, đặc biệt vùng thắt lưng, bả vai đưa đến dáng đi như vịt và ngồi xuống, đứng lên phải chống tay từng nấc kiểu “ leo thang”. |
- Teo cơ ở ngọn chi. |
|
- Không bao giờ có thớ cơ co giật. |
- Rất hay có thớ cơ co giật. |
|
- Tiến triển rất chậm có khi hàng năm. |
- Tiến triển nhanh, hoặc chậm tuỳ theo nguyên nhân |
|
- Mất phản xạ của cơ (gơ cơ không giật). |
- Có rối loạn phản xạ gân xương. |
|
- Không bao giờ có rối loạn cảm giác. |
- Thường có rối loạn cảm giác theo khu vực cảm giác của rễ hoặc dây thần kinh hoặc khu trú ở ngọn chi nhiều hơn gốc chi. |
|
|
|
|
- Thường gặp ở trẻ con, có tính chất gia đ́nh, người lớn cũng có thể bị. |
|
|
- Thường có sự giăn nở giả tạo của mô xơ mỡ, sờ thấy được thoạt mới nh́n tưởng không có teo. |
|
|
- Không có phản ứng thoái hoá điện thông thường. |
- Có phản xạ thoái hoá điện. |
Teo cơ do thần kinh gặp trong các bệnh làm tổn thương tế bào thần kinh ngoại biên. Ta chia ra hai nhóm:
- Teo cơ do tuỷ tổn thương ở sừng trước.
- Teo cơ do rễ và dây thần kinh.
- Tiến triển nhanh: Gặp trong.
+ Bệnh bại liệt trẻ em.
+ Viêm năo dịch khu trú ở thấp.
+ Chảy máu trong tuỷ.
- Tiến triển chậm:
+ Teo cơ đơn thuần: điển h́nh có hội chứng Aran Duchenne: teo cơ bàn tay trước, rồi teo cẳng tay, rất ít khi lên bả vai. V́ tiến triển kinh diễn, nên có biến chứng co gân bàn tay giống như bàn tay khỉ.
+ Teo cơ phối hợp: phối hợp với hội chứng tháp, gặp trong bệnh xơ cột bên teo của cơ Charcot.
Bệnh xơ cứng từng đám (sclérose en plaque) (thể điển h́nh xơ cứng từng đám không có teo cơ, chỉ có hội chứng tháp với hội chứng tiểu năo).
+ Teo cơ phối hợp với hội chứng tiểu năo: chủ yếu gặp trong bệnh ống sáo tuỷ (Syrigomưelie) với đặc điểm cảm giác nóng, đau mất, c̣n cảm giác sờ) phân ly cảm giác. Trong khu vực teo cơ phản xạ gân xương mất.
Ngoài tính cách của teo cơ do thần kinh nói chung, c̣n có một số đặc điểm:
- Teo đối xứng hai bên ở ngọn chi.
- Bao giờ cũng mất phản xạ gân xương.
- Có rất nhiều rối loạn cảm giác chủ quan và khách quan.
- Không có bao giờ có thớ cơ co giật.
Phân biệt giữa teo cơ của rễ hoặc dây thần kinh nhiều khi rất khó, phải chọc ḍ nước tuỷ: nếu có sự thay đổi của nước năo tuỷ: th́ chắc chắn có sự tổn thương của rễ thần kinh.
Có rất nhiều, ta chỉ kể một số trường hợp có giá trị chẩn đoán hoặc tiên lượng:
- Loét ổ gà ở ḷng bàn chân hoặc bàn tay ( mal perforant plantaire ou pamaire).
- Đầu ngón tay, chân bị cụt.
Các rối loạn này có giá trị chẩn đoán đặc biệt với bệnh hủi hoặc bệnh ống sáo tuỷ.
Loét hay xuất hiện ở mông, gặp trong các người bị liệt nửa người, liệt hai chân thể mềm hoặc trong t́nh trạng hôn mê, ỉa đái tại chỗ. Lúc đầu chỉ có một đám nhỏ vùng xương cùng, đầu xương đùi, sau lan rộng, có khi khắp cả mông đít, ḷi xương ra ngoài.
Rối loạn này do người bệnh nằm lâu ngày trong một tư thế, làm máu không lưu thông tốt và do vệ sinh kém…
Tiên lượng xấu, thường chết v́ gầy rộc và nhiễm khuẩn.
Rất hay gặp trong các bệnh thần kinh. Thường xuất hiện ở giai đoạn bệnh đă rơ ràng. Tuy nhiên có một số trường hợp xuất hiện như những triệu chứng đầu tiên và có giá trị chẩn đoán lớn.
Rối loạn cơ tṛn thường gây các biến chứng nguy hiễm nhiễm khuẩn nhiễm độc, cho nên nó c̣n là một yếu tố để tiên lượng bệnh.
Có khi phải hỏi kỹ người bệnh mới phát hiện được.
- Đái khó: mỗi lần đi tiểu phải rặn, trong khi đái cũng phải rặn.
- Đái rắt: buồn đi tiểu luôn, mỗi lần đi nước tiểu rất ít.
- Đái không nhịn được: cảm thấy muốn đái, phải đi ngay, có khi không nhịn được, xón ra quần.
- Bí đái: người bệnh không buồn đái, bàng quang không bóp khi đầy nước tiểu và cơ tṛn không mở.
+ Nếu bí đái không hoàn toàn, người bệnh c̣n đái được, nhưng không đái hết, nước tiểu bị ứ đọng lại một số lượng.
+ Nếu bí đái hoàn toàn. Hoàn toàn không buồn đái, nước tiểu ứ lại, sờ thấy bàng quang căng ph́nh (cầu bàng quang).+
- Đái văi: nước tiểu chảy ra không chủ động và người bệnh không có cảm giác lúc nước tiễu chảy ra.
- Đái tự động: đái được, nhưng không chủ động đái và không chủ động ngừng. Không biết ḿnh đái và không buồn đái.
Đó là trường hợp đái không nhịn được trên một bàng quang mất cảm giác.
Hai trường hợp hay gặp:
- Bí đại tiện. Ruột đầy phân, nhưng không đại tiện được.
- Đại tiện văi, người ỉa dầm dề, không chủ động và không có cảm giác khi phân ra.
Ở trẻ em, hoạt động cơ tṛn bàng quang, hậu môn có tính chất tự động theo cơ chế phản xạ.
Trung tâm phản xạ của tiểu tiện là S3 – S4.
Trung tâm phản của đại tiện là S4.
Từ 2-3 tuổi, người ta đă điều khiển được đại tiện nhờ sự chỉ huy của năo, chủ yếu là vỏ năo.
Trên lâm sàng, rối loạn cơ tṛn bàng quang, hậu môn hay gặp trong các bệnh:
Thường là do tổn thương hai bên năo.
- Hôn mê các loại.
- Hôn mê sau động kinh.
- Xơ cứng động mạch năo.
- Các u năo: đặc biệt là tiểu thuỳ giữa rất hay có rối loạn tiểu tiện; u thuỳ trên trước, u năo thất bên.
Tổn thương khu trú trên các trung tâm phản xạ lưng cùng, đặc biệt các tổn thương ở vùng ph́nh thắt lưng và vùng nón tận. Cụ thể thấy trong các bệnh.
- Đứt ngang tuỷ.
- Viêm ngang tuỷ cấp.
- Ép tuỷ cấp do u độc.
- Ép tuỷ tiến triển chậm: u tuỷ trên vùng lưng cùng và ngay vùng lưng cùng.
Đặc biệt:
- Đối với liệt hai chi dưới: nếu có rối loạn cơ tṛn th́ chắc chắn do tổn thương trung ương. Các liệt ngoại biên không có rối loạn cơ tṛn, là biểu hiện đầu tiên, nếu khám xét không kỹ, dễ bỏ qua.
- Bệnh tabet: rất nhiều trường hợp rối loạn cơ tṛn, là biểu hiện đầu tiên, nếu khám xét không kỹ, dễ bỏ qua.
- Các bệnh loạn thần kinh: do yếu tố xúc cảm và sự mất thăng bằng thần kinh có thể gây ra đái rắt, đái khó, hoặc có khi bí đái trong bệnh hysteria.
- Rất phức tạp, v́ thuộc nhiều chuyên khoa: tiết niệu, nội tiết, thần kinh, tinh thần. Ở đây chỉ kể một vài biểu hiện của bệnh thần kinh hay gặp và không đi sâu vào lĩnh vực chuyên khoa khác.
- Liệt dương: dương vật không cương nên không giao cấu được. Theo nghĩa rộng, liệt dương bao gồm mọi trường hợp không giao cấu được, đó là một bệnh toàn thể hay một dị dạng của bộ máy sinh dục cản trở việc giao cấu.
- Lạnh khí (frigidité) ở đàn bà: không kích thích khi gần đàn ông, giao cấu không có cảm giác thích thú.
- Gặp trong một số hội chứng có tổn thương xâm phạm các trung tâm cường dương và xuất tinh ở vùng tuỷ cùng, cụ thể trong liệt tiến triển, bệnh Tabet và hội chứng liệt hai chân.
- Về tinh thần, rất hay gặp trong các bệnh loạn thần kinh, như thần kinh suy nhược, hysteria. Rối loạn sinh dục, đối với loại bệnh này, gây cho người bệnh một sự lo lắng, ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống tinh thần của họ, do đó cũng là một yếu tố làm cho người bệnh nặng thêm lên.