Hội chứng Parkinson do tổn thương hệ thống ngoại tháp mà chủ yếu là ở thể vân và liềm đen (locus niger) sinh ra.
Thể vân có chức năng về vận động: có tác dụng trên trương lực cơ và đóng vai tṛ trong mọi động tác, nhất là các động tác tự động và các động tác không tự ư.
Dù nguyên nhân do ǵ, hội chứng parkinson cũng bao gồm các triệu chứng sau đây:
Run trong Parkinson có những đặc tính sau đây:
- Run khi yên tĩnh, mất hoặc giảm khi hoạt động. Trái với run trong tiểu năo và bệnh xơ cứng rải rác, thường run lúc hoạt động.
- Tần số run thường chậm (4-7 lần trong một giây).
Nhịp điệu và biên độ đều đặn:
- Khi mệt mỏi hoặc xúc động th́ run nhiều. Lúc ngủ không bị run. Khi dùng thuốc loại scopolamin th́ đỡ run.
- Run thường thấy ở các ngọn chi, nhất là các ngọn chi trên. Hiện tượng run này thoạt nh́n có cảm giác như người bệnh đếm tiền hoặc cuộn thuốc lá.
Cũng có khi run cả hai chi, đầu và hàm.
Đây là loại co cứng ngoại tháp do sự căng thường xuyên của các cơ. Cứng cơ trong parkinson có những đặc tính sau đây:
- Ngừng gần như hoàn toàn khi nghỉ ngơi, nhất là khi nghỉ ngơi hoàn toàn làm chùng các cơ của toàn cơ thể, lại xuất hiện khi có hoạt động đây là loại cứng cơ khi hoạt động.
- Thường bị ở các gốc chi.
- Trong đoạn chi bị cứng, toàn bộ các cơ đều bị (không trừ nhóm cơ nào, cả cơ gấp lẫn cơ duỗi).
- Không kèm theo sự tăng phản xạ gân xương, các phản xạ gan bàn chân b́nh thường.
Do tính chất co cứng như thế nên chi ở một tư thế bắt buộc. Nếu tay đang ở tư thế gấp, ta kéo căng tay cho thẳng với cánh tay, do cả cơ gấp và cơ duỗi cùng co, nên ta chỉ duỗi ra từng nấc: đó là hiện tượng bánh xe răng cưa.
- Cuối cùng, sự cứng cơ giảm hoặc mất đi dùng thuốc nhóm scopolamin.
- Do cứng cơ nên có thể thấy thêm các dấu hiệu sau:
Ở người b́nh thường nếu ta thay đổi thụ động một khớp, các cơ trong phạm vi tác dụng của khớp ấy sẽ co lại và giữ cho chi có một tư thế nhất định.
Ở người Parkinson, sự co cứng cơ tăng lên về cường độ và thời gian. Ví dụ: khi gấp bàn chân, rồi bỏ ra, ta thấy cơ cẳng chân trước vẫn c̣n co và gân của nó vẫn hằn lên rơ rệt.
Hoặc khi ta bị xô ra phía trước, ta thường có xu hướng ngă người lại phía sau để giữ ch khỏi ngă. Ở người Parkinson, vẫn có xu hướng giữ ở tư thế bị xô đẩy, nên rất dễ bị ngă.
Mọi động tác đều chậm và có mức độ.
- Đi lại chậm chạp và khó khăn: người bệnh đi từng bước nhỏ, thân ngả về phía trước, tưởng như nếu không làm như vậy sẽ bị ngă.
- Bộ mặt lạnh lùng: các cơ ở mặt ít cử động, làm người bệnh cóbộ mạt lạnh lùng (facíes figé). Người bệnh như buồn rầu.
- Nói chậm và giọng nói đều đều., đôi khi nói lắp.
- Viết run, lúc đầu, chữ c̣n to, sau nhỏ dần, đôi khi không thể viết được.
Khi đi lại, hai tay không ve vẩy, mà cứng đờ.
- Run.
- Cứng cơ.
Ở giai đoạn tiến triển, ít khi lầm với các bệnh khác, trong các thể nhẹ và thoáng qua, cần phân biệt với các bệnh sau đây:
Ở đây, run xảy ra lúc hoạt động, đồng thời có giật nhăn cầu, có các rối loạn về tiểu năo và bó tháp.
Run khi có hoạt động, co giật nhăn cầu.
Run tăng lên khi có vận động tự ư, không co cứng cơ ngoại tháp kèm theo.
Hai nguyên nhân chính gây ra hội chứng parkinson là xơ cứng động mạch năo và viêm năo.
Thường xuất hiện vào khoảng 50-60 tuổi. Do rối loạn tuần hoàn gây thiếu máu năo, tạo nên những điểm nhũn năo ở vùng cấu tạo xám (formation grise) của năo giữa. Bệnh tiến triển chậm
Thường là di chứng muộn của viêm trục thần kinh
Các triệu chứng của Parkinson xuất hiện một vài tháng hoặc một vài năm sau viêm năo. V́ thế phải hỏi kỹ tiền sử người bệnh, nhất là thể viêm năo nhẹ thoáng qua tưởng như một cúm thường.
Về lâm sàng, ngoài hội chứng parkinson, c̣n thấy các di chứng của viêm năo như các động tác bất thường, hiện tượng co vặn người (spasme de torsion).
Ngoài ra có thễ gặp nguyên nhân sau đây:
Chấn thương năo kèm theo sốc năo như Parkinson ở người đánh quyền anh. Có tác giả cho rằng khoảng 10% các vận động viên quyền anh già, nhất là loại cân nặng, thường bị parkinson.
Ngộ độc sunfua cacbon, oxyt cacbon, mangan…