Thuốc và bảo hiểm
 |
| Bệnh nhân BHYT đợi lĩnh thuốc BHYT tại Bệnh viện Củ Chi, TP.HCM -
Ảnh: L.TH.H. |
TT - Trong những năm gần đây, do nhu cầu tăng và cũng do khả năng tài chính
của người dân tăng, nên trên thị trường thuốc VN đă có nhiều thứ thuốc mới. Tuy
nhiên, hiểu biết về tác dụng của thuốc trong công chúng chưa được tốt lắm.
Chúng tôi thấy có một số thuốc được cơ quan bảo hiểm chi trả,
nhưng đôi khi lại theo những nguyên tắc chưa thật rơ ràng. Theo ư kiến riêng của
chúng tôi, cách làm như vậy dễ đưa đến t́nh trạng một nước nghèo như VN lại phải
trả tiền cho những thuốc vô tác dụng.
Trước hết, phải biết rằng có sự khác biệt giữa thuốc và thức
ăn. Thuốc thường dùng để chữa bệnh hoặc triệu chứng. Ở nhiều quốc gia, một chất
hay chế phẩm muốn được bán dưới h́nh thức thuốc th́ phải được chính phủ cấp giấy
phép. Mỹ là quốc gia đầu tiên lập ra luật rất chặt chẽ về việc này. Một chất hay
một chế phẩm được coi là thuốc th́ phải được chứng minh là có hiệu lực và không
có hại. Mô h́nh nghiêm ngặt này mới chỉ được châu Âu ứng dụng gần đây.
Trước đó, tại châu Âu chỉ cần chứng minh thuốc không có hại là
được quyền bán trên thị trường dược phẩm, nhưng về sau thị trường chung châu Âu
đă áp dụng phương thức thử nghiệm thuốc giống như tại Mỹ. Công cuộc thử nghiệm
chia làm nhiều giai đoạn: giai đoạn đầu thực hiện trên người khỏe mạnh, giai
đoạn hai phải chứng minh là thuốc không có hại, giai đoạn ba mới nhằm chứng minh
là thuốc có hiệu nghiệm hay không. Giai đoạn bốn là giai đoạn nghiên cứu sau khi
thuốc đă được đưa ra thị trường.
Quyền xác định và cấp giấy phép lưu hành một chất hay một chế
phẩm như là một thứ thuốc, là quyền của quốc gia. Sau khi một loại thuốc đă được
phép đưa ra thị trường th́ các bác sĩ có quyền dùng nó trong tất cả những bệnh
ǵ mà người ta nghĩ là nó có hiệu lực. Thí dụ thuốc Aspirin trước đây chỉ dùng
để chữa đau nhức, nhưng về sau do thấy có hiệu nghiệm trong pḥng ngừa đột quị
nên các bác sĩ cũng dùng nó để pḥng bệnh.
Tại những quốc gia có chương tŕnh bảo hiểm xă hội, việc chi
phí trang trải tiền thuốc là quyền riêng của những cơ quan bảo hiểm và hoàn toàn
tùy theo hợp đồng. Tại một số quốc gia, có cả bảo hiểm y tế của chính phủ lẫn
của tư nhân th́ có thể có những khác biệt trong chính sách chi trả, tùy theo
tiêu chuẩn của chính phủ hay của hăng bảo hiểm tư nhân. Thường cơ quan chính phủ
dựa theo một danh sách dựa theo các chứng cứ y khoa.
Thông thường các chứng cứ y khoa này là những bài báo cáo đăng
trong những tạp chí y khoa và tuân thủ theo một tiêu chuẩn cao, gọi là “nghiên
cứu mù đôi”. Trong nghiên cứu kiểu này, người ta có thể cho bệnh nhân dùng hoặc
là thuốc thật, hoặc là loại thuốc không hề có tác dụng thật sự nào mà chỉ có
h́nh dáng và màu sắc giống hệt như thuốc thật, loại thuốc đó trong nghiên cứu
gọi là giả dược (placebo). Có những nghiên cứu cho thấy có đến 30% những người
uống giả dược vẫn thấy ḿnh khỏe hơn lên. Có một số trường hợp đặc biệt, tuy
thuốc không được trải qua nghiên cứu mù đôi nhưng vẫn sử dụng, thí dụ như thuốc
dùng trong những căn bệnh rất hiếm, hay thuốc vốn đă kết quả rơ ràng trong nhiều
thế kỷ.
Ở một tŕnh độ khoa học và dân trí cao hơn, người ta có thể đ̣i
hỏi phải dùng thuốc dựa trên “y học dựa vào bằng chứng” (evidence based
medicine), hay c̣n gọi tắt là EBM. EBM chia các bằng chứng khoa học ra nhiều
đẳng cấp khác nhau: ở mức cao nhất th́ tác dụng của thuốc phải được chứng minh
bởi hai nghiên cứu mù đôi, ở mức thấp nhất th́ thuốc được sử dụng chỉ dựa trên
những bản báo cáo cá nhân. Tuy nhiên, nếu cứ đ̣i hỏi thuốc nào cũng có tác dụng
được chứng minh dựa trên EBM ở mức cao nhất, th́ có thể dẫn tới việc loại bỏ
những thuốc có tác dụng tốt, mặc dù chưa hoàn toàn chứng minh được theo tiêu
chuẩn cao v́ bệnh đó vốn không phổ biến.
Tại VN có những thuốc vô hiệu lực lại được sử dụng thông
thường, thí dụ như thuốc tăng áp suất máu ở năo. Điều này làm tốn một số ngân
sách đáng kể.
Thay đổi phương cách bồi hoàn tiền thuốc bảo hiểm có thể là một
phương cách cải tổ chuyện này trong nền kinh tế thị trường.
BS DANIEL DUNG TRUONG
|