Khoa học thiếu thông tin và thông tin thiếu khoa học
Trả lời
chất vấn của đại biểu quốc hội Nguyễn Lân Dũng, ông Bộ Trưởng Bộ
Y tế cho biết 3 lư do [1] để Bộ Y tế ra quyết định cấm sản xuất,
mua bán và sử dụng mắm tôm, tóm tắt như sau: (1), vi khuẩn tả có
thể sống trong mắm tôm có độ mặn 6% được 5 tiếng; (2), 93% người
bệnh có ăn mắm tôm; (3) Hơn nữa, mắm tôm đă có tiền sử là “nghi
can” gây ra các dịch về tiêu hóa trước đây [2]. Ngoài ra ông c̣n
nêu kiến nghị của “hội đồng chuyên môn” là trong thời gian dịch
không dùng mắm tôm sống, kết thúc dịch th́ lại ăn như với thịt
gà sau dịch cúm gà thôi”.
Những
quyết định chuyên môn để đảm bảo tính khoa học và tính pháp lư
đều phải dựa trên bằng chứng khoa học hiện hành và thuyết phục
nhất có thể có được. Cho đến hiện nay, những lập luận mà Bộ Y tế
dựa vào đó để cấm mắm tôm trong mùa dịch tả là hoàn toàn thiếu
cơ sở khoa học và cơ sở khoa học không rơ ràng.
1-
V́ khuẩn tả có thể sống trong mắm tôm có độ mặn 6% được 5 tiếng?
Theo
một phân tích tổng quan cho thấy vi khuẩn tả không khả năng tăng
trưởng và phát triển cũng như phát huy độc lực trong môi trường
muối mặn quá mức 3.5% [3], điều đó cũng có nghĩa rằng trong môi
trường mắm tôm hiện tại với nồng độ muối 15-30% [4] hoặc mắm tôm
Việt nam pha loăng với nồng độ muối 15% [5], th́ gần như vi
khuẩn tả không thể tồn tại và phát triển. Chưa có tài liệu khoa
học nào công bố rằng vi khuẩn có thể sống trong mắm tôm 6% được
5 giờ, kể cả tài liệu trong nước. Trong khi đó, khả năng sống
sót của vi khuẩn tả trong các môi trường khác được biết như sau:
trong móng tay người 1-2 giờ; trong tiền kim loại đến 7 ngày;
trong bụi từ 3-16 ngày; trong đất trồng trọt 1 tuần; trong môi
trường vật chứa bằng thuỷ tinh cho đến 30 ngày; trong phân người
đến 50 ngày; và sống rất lâu trong nước tuỳ điều kiện nhiệt độ,
độ mặn và độ toan [6]. Như vậy cho dù vi khuẩn tả có sống trong
mắm tôm đến 5 giờ đi nữa th́ môi trường mắm tôm vẫn là một trong
những môi trường kém thuận lợi nhất để vi khuẩn tả tồn tại.
Đó chưa
kể là, mắm tôm và bất cứ thực phẩm tươi sống nào khác cũng như
đôi tay nhiễm bẩn chỉ là môi trường trung chuyển cuối cùng của
khâu nhiễm bệnh tả chứ không phải là môi trường dung dưỡng và
phát tán lây lan mầm bệnh tả [7]. Trong khi đó, phân và chất nôn
của bệnh nhân tả cũng như phân của người lành mang mầm bệnh tả
mới là nơi phóng thích mầm bệnh. Một bệnh nhân tả nặng có thể
phóng ra một số lượng vi khuẩn tả đến 1013 (1 ngh́n
tỷ con vi trùng tả) trong một ngày [8] và nguồn nước là môi
trường phát tán mầm bệnh lớn nhất cho đến hiện nay khoa học biết
được. Cho nên tả được xếp vào loại bệnh truyền nhiễm qua nguồn
nước (water-born disease). Các con đường khác chủ yếu để phát
tán vi khuẩn tả đi nơi khác là người lành mang bệnh (nhưng cũng
thải vào nguồn nước) và côn trùng có cánh là ruồi bọ, có thể lây
trực tiếp vào bệnh nhân hoặc qua thức ăn.
Cho nên lư do thứ nhất
được nêu ra là chỉ mới được đặt trong một bối cảnh thông tin đơn
độc, không được tham chiếu với thông tin khoa học hiện hành, như
thế lập luận có thể trở thành chủ quan và duy ư chí ngoài việc
thiếu cơ sở khoa học và thiếu logic.
2-
V́ 93% số lượng người mắc bệnh tả có ăn mắm tôm mà phải cấm sản
xuất và tiêu thụ mắm tôm?
Thứ
nhất, con số này liên tục thay đổi, khi th́ 80-90%, khi th́
100%, bây giờ lại ở con số 93%, cho đến nay chúng ta vẫn chưa có
con số báo cáo chuyên môn dưới dạng báo cáo khoa học. Tuy nhiên,
ở đây các chuyên gia trong hội đồng chuyên môn có thể có sự nhầm
lẫn giữa “yếu tố nguy cơ” và nguyên nhân.
Nguyên
nhân th́ chỉ có một, trong đợt dịch tiêu chảy cấp tính này,
nguyên nhân chính chắc chắn là vi trung tả (mặc dù chỉ có tối đa
15% số lượng bệnh nhân t́m thấy có vi trùng tả qua xét nghiệm),
nhưng nguy cơ th́ có thể có nhiều, chẳng hạn như nguồn nước sinh
hoạt bị ô nhiễm, ăn phải đồ ăn tươi sống như hải sản, rau tươi
bị nhiễm vi trùng tả, tắm sông, tụ tập ăn uống trong mùa
dịch…Khác với nguyên nhân, loại bỏ nguy cơ mắc bệnh không bao
giờ loại trừ được 100% khả năng mắc bệnh mà chỉ làm giảm nguy cơ
mắc bệnh ở một mức độ nào đó. Cho nên việc can thiệp loại bỏ
một yếu tố nguy cơ nào đó trong một loại bệnh có nhiều yếu tố
nguy cơ và đa tương tác cần phải có bằng chứng khoa học rơ ràng,
và kỳ vọng sẽ có thể ngăn ngừa được bệnh lư ở mức nào. Yếu tố
nguy cơ nào là thiết yếu cần phải can thiệp.
Cho đến
nay chúng ta vẫn chưa có một báo cáo khoa học nào phân tích mối
đa tương quan giữa các yếu tố nguy cơ gây đợt tiêu chảy cấp tính
này.
Thế
nhưng, đă có một số phân tích cho thấy sự nhầm lẫn trong quyết
định cấm mắm tôm [3, 7, 9, 10] nếu chỉ dựa vào con số phần trăm
bệnh nhân tả có ăn mắm tôm. Một phân tích đă cho thấy, chỉ có
tối đa 116 người có thể mắc bệnh tả trong số 100 000 người ăn
mắm tôm. Điều này cho thấy rằng mắm tôm là một yếu tố nguy cơ,
nhưng cũng chỉ là một nguy cơ đồng tồn của bệnh chứ không phải
là nguy cơ chính yếu [3]. Một phân tích khác, giả định nếu cấm
ăn mắm tôm th́ có thể ngăn ngừa được bao nhiêu phần trăm bệnh
nhân tả, câu trả lời là 23%; ngược lại nếu giải quyết nguồn nước
th́ có thể ngăn ngừa được 90% số lượng bệnh nhân [10]. Điều này
hoàn toàn phù hợp với cơ chế bệnh sinh kinh điển của bệnh tả.
Cho
nên, việc cấm mắm tôm để ngăn ngừa lây lan bệnh tả là hoàn toàn
thiếu cơ sở khoa học và bất hợp lư.
3-
V́ mắm tôm đă có tiền sử là “nghi can” gây ra các dịch về tiêu
hóa trước đây?
Thứ
nhất, theo kiến nghị của “hội đồng chuyên môn”: dưới ánh sáng
của y học thực chứng, ư kiến của hội đồng chuyên môn không phải
là những ư kiến có giá trị về mặt khoa học, nếu không nói đó là
những ư kiến có giá trị khoa học thấp nhất trong bậc thang giá
trị khoa học [11]. Nếu có, các ư kiến đề xuất đó cần phải dựa
trên các bằng chứng khoa học hiện hành. Tuy nhiên, chúng tôi
chưa t́m thấy tài liệu nào nói điều đó, và nếu không nói rằng
phát biểu “mắm tôm đă từng gây ra những đợt dịch trước” là thiếu
xác đáng về mặt ngôn ngữ khoa học: dịch về tiêu hoá là dịch ǵ?
Mà nếu có là dịch tả đi nữa th́ mắm tôm chỉ là một yếu tố nguy
cơ, không phải là nguyên nhân.
Thứ
hai, quan trọng hơn hết là như ở mục số hai đă đề cập. Mắm tôm
chỉ là một khâu rất nhỏ trong mắc xích lây nhiễm (không phải
phát tán, lây lan) bệnh tả [7]. Cho nên, dù mắm tôm đă từng có
liên quan đến những vụ dịch tả trước, nó cũng không phải là yếu
tố nguy cơ chủ yếu cần phải loại bỏ trong chu tŕnh lây nhiễm
bệnh tả.
Chính
v́ thực phẩm chỉ là khâu trung gian không thể tránh khỏi và
không thể loại trừ được trong quá tŕnh lây nhiễm và lây lan
bệnh tả, nên Tổ chức Y tế Thế giới có khuyến cáo là không có
nghiêm cấm đặc biệt nào đối với việc sản xuất, buôn bán, trao
đổi, xuất khẩu thực phẩm từ các vùng, các quốc gia đang có dịch
tả lưu hành [12]. Và v́ thế, quyết định này của Bộ Y tế là đi
ngược lại với khuyến cáo của tổ chức chuyên môn cao nhất thế
giới,
Những
quyết định khoa học có tính cách pháp lư áp dụng trên quy mô
rộng lớn mà không dựa trên bằng chứng thông tin khoa học phổ
quát một cách đầy đủ có chứng cứ cũng như chỉ dựa trên những
thông tin thiếu khoa học không những không đem lại hiệu quả mong
muốn mà c̣n có thể gây tác hại và có ảnh hưởng bất lợi không nhỏ
đến cộng đồng về nhiều mặt, nổi bật là hiệu quả kinh tế và môi
sinh.
21/11/07
Nguyễn Đ́nh Nguyên
Tài liệu tham khảo
1. Vietnamnet
(2007) "Mắm tôm có độ mặn 6% th́ vi khuẩn tả đă có thể sống
được 5 tiếng. Với tốc độ đi lại như hiện nay, 5 tiếng th́ vi
khuẩn có thể lên tận Tuyên Quang rồi, bà con sản xuất thông
cảm tạm dừng trong giai đoạn này", ông Triệu đáp. Bộ trưởng
cũng thừa nhận, vẫn c̣n nhiều ư kiến khác nhau về "thủ phạm
mắm tôm" nhưng Hội đồng chuyên môn căn cứ vào lâm sàng 93%
người bệnh ăn mắm tôm cũng như "tiền sử" thứ nước chấm này
đă từng gây ra dịch những lần trước. "Hội đồng chuyên môn
kiến nghị trong thời gian dịch, không dùng mắm tôm sống, kết
thúc dịch rồi th́ lại ăn như với thịt gà sau dịch cúm gà
thôi".
http://vietnamnet.vn/chinhtri/2007/11/755603/.
2. Báo Pháp Luật
(2007) Mắm tôm bị "kết án" oan. Ông Triệu: “Về mắm tôm có
rất nhiều ư kiến khác nhau. Cho đến giờ, căn cứ lâm sàng đợt
đầu tiên 93% là ăn mắm tôm, không có ǵ khác. Hơn nữa, mắm
tôm đă có tiền sử là “nghi can” gây ra các dịch về tiêu hóa
trước đây. Do vậy, hội đồng chuyên môn đă kiến nghị trong
thời gian dịch không dùng mắm tôm sống.
http://www.phapluattp.vn/news/khoa-hoc/
view.aspx?news_id=203716.
4. ICMSF (2005)
Spices, dry soups, and oriental flavorings In
Micro-Organisms in Foods 6 360-391, pp 360-391.
8. Cottingham KL,
Chiavelli, DA, Taylor, RK (2003) Environmental microbe and
human pathogen: the ecology and microbiology of Vibrio
cholerae Frontiers in Ecology and the Environment 1:80-86.
11. SUNY Downstate
Medical Center Evidence Based Medicine Course. A Guide to
Research Methods: The Evidence Pyramid,
http://library.downstate.edu/ebm/2100.htm,
accessed March 17, 2006. Medical Research Library of
Brooklyn, Brooklyn, NY
|