|
Tai
biến hôn mê sau gây tê kết hợp tuỷ sống-ngoài màng cứng: Một báo
cáo lâm sàng đầu tiên trên thế giới
Nguyễn Đ́nh Nguyên
Năm
2007, lần đầu tiên trên thế giới, y văn công bố một trường hợp
hôn mê được cho là do tai biến của gây tê vùng bằng phương pháp
kết hợp tuỷ sống-ngoài màng cứng.
Nhân
đọc một thông tin về
một nữ bệnh nhân
bị hôn mê sau trong lúc đang trong thủ thuật lấy trứng để làm
thụ tinh trong ống nghiệm, mặc dù trước lúc thao tác, t́nh trạng
sức khoẻ của bệnh nhân hoàn toàn b́nh thường, chúng tôi có một
nhận định là t́nh trạng bệnh nhân hôn mê trong khi đang làm thủ
thuật gần như không liên quan ǵ đến kỹ thuật lấy trứng cả mà có
thể có một yếu tố nào khác.
Tai
biến trong các phương pháp hỗ trợ sinh sản
Thật
vậy, trong các nghiên cứu về hỗ trợ sinh sản bằng cách như thụ
tinh trong ống nghiệm (IVF) và kích thích buồng trứng (ovulation
induction, OI) cho thấy, các tai biến của khâu thu thập trứng
chỉ mới được báo cáo là chảy máu tại chỗ và nhiễm trùng. Một
nghiên cứu tổng kết trên 22 nước châu Âu trong năm 2000, cho
thấy trong số 279 267 lượt thủ thuật [1], không có trường hợp
nào tử vong. Tất cả các tai biến do công đoạn thu thập trứng gây
ra chỉ có 0,23%; nếu tính riêng th́ tai biến do chảy máu chiếm
0,13%, nhiễm trùng chiếm 0,01%. Các nghiên cứu trước và sau đó
đều cho thấy hai tai biến chảy máu và nhiễm trùng kể cả trong
suốt thời gian can thiệp cho đến khi trẻ sinh cũng rất thấp,
không quá 1% [2, 3]. Tai biến được cho là nghiêm trọng nhất
trong các thủ thuật giúp thụ tinh như thụ tinh nhân tạo (IVF)
hoặc kích thích buồng trứng là hội chứng kích thích quá mức
buồng trứng (ovarian hyperstimulation syndrome, OHSS) th́ cũng
chỉ gặp từ 0,6% đến 2% [1, 3]. Tuy nhiên tai biến này không xảy
ra trong lúc đang thao tác lấy trứng.
Lư do
thứ hai, về mặt lư thuyết một thao tác thu thập trứng ở buồng
trứng-nằm trong khung chậu và ngoài khoang phúc mạc, nó gần như
biệt lập với hệ thần kinh trung ương, cho nên thủ thuật lấy
trứng không thể là tác nhân trực tiếp hay gián tiếp gây nên tai
biến hôn mê.
Cho
nên, câu hỏi đặt ra liệu có phải là do tai biến của thủ thuật
gây tê vùng hay dùng trong sản khoa là gây tê ngoài màng cứng
hoặc kết hợp gây tê tuỷ sống và ngoài màng cứng hoặc bệnh nhân
có một bệnh lư tiềm tàng nào đó và kích phát tai biến?
Tai
biến thần kinh do gây tê vùng
Đối với
thầy thuốc, việc nằm ḷng là thao tác chọc ḍ tuỷ sống v́ mục
đích thăm ḍ hay can thiệp điều trị là chống chỉ định đối với
các trường hợp có biểu hiện tăng áp lực nội sọ, bởi v́ khi chọc
ḍ có thể làm giảm áp lực bên trong tuỷ sống vùng dưới đột ngột
và “hút” hạnh nhân tiểu năo xuống làm tụt kẹt có thể gây tử vong
nhanh chóng.
Một số
thủ thuật hay sử dụng đến việc chọc tuỷ sống phổ biến nhất là
dẫn lưu dịch năo tuỷ sau khi gây tê vùng trong các phẫu thuật
thần kinh và gây tê vùng trong sản khoa. May mắn thay, các tai
biến thần kinh trong hai thủ thuật này là tương đối hiếm gặp mà
cũng không có nguy cơ đe doạ tính mạng nếu thao tác đúng quy
tŕnh kỹ thuật. Cho nên phương pháp gây tê vùng ngoài màng cứng,
tuỷ sống hay kết hợp vẫn được chấp nhận sử dụng rộng răi trong
các cuộc phẫu thuật.
Một
nghiên cứu trên 580 bệnh nhân phẫu thuật thần kinh có thao tác
qua xương bướm (transphenoidal surgical procedures) [một loại
phẫu thuật được cho không có tác động đáng kể và gây tai biến
thần kinh của chi dưới trong các loại phẫu thuật thần kinh] được
sử dụng biện pháp dẫn lưu dịch năo tuỷ bằng cách chọc ḍ tuỷ ở
đốt sống thắt lưng [4] cho thấy rằng, không có một biểu hiện
thương tổn thần kinh nào có thể coi là do thao tác chọc ḍ tuỷ
sống gây ra trong suốt thời gian phẫu thuật và cho đến 1 năm sau
phẫu thuật. Các tai biến tức thời khác gồm có đau đầu sau khi
chọc ḍ, chiếm tỷ lệ 2,5% (Khoảng tin cậy (KTC) 95%: 1,3 –
4,2%); và chỉ có 1,3 % (KTC 95%: 0,5 – 2,7%) cần phải băng ép
chống chảy máu ngoài màng cứng. Báo cáo này cũng trùng hợp với
nhiều công bố khác là gần như không thấy có tai biến nào trong
thủ thuật dẫn lưu dịch năo tuỷ cả [5-7]. Nhiều nghiên cứu khác
cũng cho thấy các tai biến nếu gặp do thao tác chọc ḍ tuỷ sống
thường chỉ là các sang chấn mô tại chỗ, c̣n các sang chấn thần
kinh ngoại biên có gặp nhưng với tỷ lệ rất thấp từ 0,06-0,08%
[8, 9], và có 0,75% bệnh nhân than phiền vận động chi bị yếu hơn
so với trước thủ thuật [10].
Đối với
gây tê vùng trong sản khoa, cho đến nay thủ thuật này vẫn được
cho là rất an toàn. Một nghiên cứu tổng quan có hệ thống rà soát
toàn bộ các báo cáo tai biến xảy ra trong quá tŕnh gây tê vùng
trong các thủ thuật phụ sản khoa từ 1966-1998 [11] cho thấy tần
suất phát sinh (incidence) của các tai biến thần kinh do gây tê
ngoài màng cứng dao động trong khoảng 0-36,2/10000 lần thủ
thuật. Các tai biến đó bao gồm áp-xe ngoài màng cứng, bệnh lư
thần kinh có hồi phục (reversible neuropathy), máu tụ ngoài màng
cứng, liệt dây thần kinh ngoại biên, hội chứng động mạch đốt
sống trước và hội chứng đuôi ngựa. Một nghiên cứu khác cũng cho
thấy tỷ lệ mắc tai biến thần kinh do gây tê ngoài màng cứng cũng
giống như vậy (2-12/10000 lần thủ thuật) [12]; nghiên cứu này
c̣n cho thấy trong số các tai biến thần kinh, phổ biến nhất là
bệnh lư thần kinh (80,9%), kế đến là liệt dây thần kinh ngoại
biên (10,6%), áp xe ngoài màng cứng (2,1%), tụ máu ngoài màng
cứng (2,1%), hội chứng động mạch đốt sống trước (2,1%) và tụ máu
dưới màng cứng sọ (2,1%). Đối với gây tê tuỷ sống, một nghiên
cứu báo cáo [12] cho thấy tỷ lệ phát sinh tai biến thần kinh là
5,4/10000 lần thủ thuật, và tất cả đều là bệnh lư thần kinh có
hồi phục. Một số nghiên cứu khác trên các phẫu thuật thần kinh
tổng quát cũng cho thấy tai biến thần kinh sau gây tê đốt sống
tương đương với các phẫu thuật sản khoa, dao động từ 0,3 đến
70,3 /10000 lần thủ thuật [8, 9, 13]. Đối với thủ thuật gây tê
kết hợp ngoài màng cứng và tuỷ sống, là một thủ thuật hiện đang
dần phổ biến trong các cuộc phẫu thuật sản khoa, cho đến nay
chưa có các khảo sát nào về tai biến thần kinh trên diện rộng
cả. Có một nghiên cứu trên 536 người được gây tê vùng kiểu kết
hợp này, tất cả đều không có tai biến [14].
Trường hợp lâm sàng đầu tiên: tai biến hôn mê do gây tê vùng
Mặc dù
thông tin không cho biết
bệnh nhân ở Việt nam
nêu trên có
được gây tê vùng hay không, nhưng chúng tôi liên hệ đến một biến
chứng lâm sàng hôn mê sau gây tê kết hợp tuỷ sống-ngoài màng
cứng lần đầu tiên vừa được báo cáo trên y văn thế giới.
Vào
tháng 5/2007 này, đồng nghiệp ở Thổ Nhĩ Kỳ có công bố một trường
hợp bị hôn mê được cho là do tai biến của gây tê vùng kết hợp
ngoài màng cứng và tuỷ sống [15]. Bệnh nhân nữ cao niên, 82
tuổi, nhập viện v́ găy xương hông (hip) phải. Bà có tiền sử găy
xương hông trái cách đó 6 năm, và có tiền sử mở thông đại tràng
cách đó 12 năm. Toàn trạng sức khoẻ lúc nhập viện của bệnh nhân
này là kém nhưng hoàn toàn tỉnh táo và các dấu hiệu sinh tồn
không có ǵ đáng nghi ngại. Các xét nghiệm tiền phẫu thường quy
đều nằm trong ṿng trị số tham khảo cho phép. Thăm khám hệ thống
thần kinh không có điểm ǵ bất thường. Khi phẫu thuật, bệnh nhân
được cho gây tê kết hợp ngoài màng cứng và tuỷ sống bằng 1,6ml
bupivacaine 0,5%, sử dụng kim số 23, chọc vào khoảng thắt lưng
L2-3, nồng độ thuốc được duy tŕ 0,125%/5ml/giờ. Tạo thời điểm
gây tê, bệnh nhân không có dấu hiệu tăng áp nội sọ. Ngày hôm sau
bệnh nhân có biểu hiện mất định hướng, khó thở, thở nhanh. Cho
chụp CT phổi, không thấy t́nh trạng thuyên tắc mạch nhưng nghi
ngờ do viêm phổi nên có cho dùng kháng sinh kết hợp
sulbactam-ampicillin. Vào ngày thứ 3 sau phẫu thuật, bệnh nhân
lú lẫn và rơi vào trạng thái hôn mê. Chụp cộng hưởng từ hạt nhân
(MRI) nội sọ cho thấy nghi có một u màng năo (meningioma) phía
thuỳ trán trái kích thước khoảng 5-6cm, có dấu hiệu phù năo lan
toả ra, và gây tụt kẹt trung tâm. Chụp lại MRI sau khi điều trị
phù năo cho thấy u màng năo có dấu hiệu xuất huyết, phù lấn sang
đường giữa. Mặc dù điều trị tích cực, nhưng bệnh nhân không
thoát được hôn mê và tử vong vào ngày thứ 18 sau mổ.
Như vậy
trên bệnh nhân này đặc biệt có biểu hiện một khối u màng năo
tiềm ẩn và không có triệu chứng. Theo các tác giả, mặc dù khi
gây tê bệnh nhân không có dấu hiệu tăng áp nội sọ, nhưng có thể
do tác động của chọc ḍ tuỷ sống lưng làm kích thích và tăng áp
nội sọ sau đó, rồi gây ra tụt kẹt. Gây tê ngoài màng cứng và tuỷ
sống mặc dù là an toàn nhưng nó cũng có thể gây tăng áp nội sọ,
và đă có báo cáo tăng áp nội sọ do gây tê vùng sẽ nặng hơn ở các
bệnh nhân có tiền sử tăng áp nội sọ [16-18].
Tóm
lại, nhân sự kiện này chúng tôi xin nêu lên một trường hợp đầu
tiên được báo cáo trong y văn là tai biến hôn mê do gây tê vùng
kết hợp ngoài màng cứng và tuỷ sống, tuy nhiên trường hợp này
bệnh nhân có một khối u màng năo tiềm tàng, không có triệu chứng
để đồng nghiệp tham khảo.
28/11/2007
Nguyễn
Đ́nh Nguyên
Tài
liệu tham khảo
1. Nyboe Andersen A, Gianaroli, L, Nygren, KG (2004)
Assisted reproductive technology in Europe, 2000. Results
generated from European registers by ESHRE. Hum Reprod
19:490-503.
2. Bergh T, Lundkvist, O (1992) Clinical complications
during in-vitro fertilization treatment. Hum Reprod
7:625-626.
3. Klemetti R, Sevon, T, Gissler, M, Hemminki, E (2005)
Complications of IVF and ovulation induction. Hum Reprod
20:3293-3300.
4. Grady RE, Horlocker, TT, Brown, RD, Maxson, PM,
Schroeder, DR (1999) Neurologic complications after
placement of cerebrospinal fluid drainage catheters and
needles in anesthetized patients: implications for regional
anesthesia. Mayo Perioperative Outcomes Group. Anesth Analg
88:388-392.
5. Fishman AJ, Hoffman, RA, Roland, JT, Jr., Lebowitz, RA,
Cohen, NL (1996) Cerebrospinal fluid drainage in the
management of CSF leak following acoustic neuroma surgery.
Laryngoscope 106:1002-1004.
6. Kitchel SH, Eismont, FJ, Green, BA (1989) Closed
subarachnoid drainage for management of cerebrospinal fluid
leakage after an operation on the spine. J Bone Joint Surg
Am 71:984-987.
7. Messick JM, Jr., Laws, ER, Jr., Abboud, CF (1978)
Anesthesia for transsphenoidal surgery of the hypophyseal
region. Anesth Analg 57:206-215.
8. Auroy Y, Narchi, P, Messiah, A, Litt, L, Rouvier, B,
Samii, K (1997) Serious complications related to regional
anesthesia: results of a prospective survey in France.
Anesthesiology 87:479-486.
9. Dahlgren N, Tornebrandt, K (1995) Neurological
complications after anaesthesia. A follow-up of 18,000
spinal and epidural anaesthetics performed over three years.
Acta Anaesthesiol Scand 39:872-880.
10. Dripps RD, Vandam, LD (1954) Long-term follow-up of
patients who received 10,098 spinal anesthetics: failure to
discover major neurological sequelae. J Am Med Assoc
156:1486-1491.
11. Loo CC, Dahlgren, G, Irestedt, L (2000) Neurological
complications in obstetric regional anaesthesia. Int J
Obstet Anesth 9:99-124.
12. Scott DB, Hibbard, BM (1990) Serious non-fatal
complications associated with extradural block in obstetric
practice. Br J Anaesth 64:537-541.
13. Noble AB, Murray, JG (1971) A review of the
complications of spinal anaesthesia with experiences in
Canadian teaching hospitals from 1959 to 1969. Can Anaesth
Soc J 18:5-17.
14. Norris MC, Grieco, WM, Borkowski, M, Leighton, BL,
Arkoosh, VA, Huffnagle, HJ, Huffnagle, S (1994)
Complications of labor analgesia: epidural versus combined
spinal epidural techniques. Anesth Analg 79:529-537.
15. Guner B, Kose, EA, Akinci, SB, Celebi, N, Celebioglu, B,
Aypar, U (2007) Coma after combined spinal-epidueal
anaesthesia. British Journal of Anaesthesia 18:694-695.
16. Chater SN, Greig, AJ, Sugden, JC (1987) Epidural
anaesthesia in the presence of a cerebral tumour.
Anaesthesia 42:433-434.
17. Goroszeniuk T, Howard, RS, Wright, JT (1986) The
management of labour using continuous lumbar epidural
analgesia in a patient with a malignant cerebral tumour.
Anaesthesia 41:1128-1129.
18. Su TM, Lan, CM, Yang, LC, Lee, TC, Wang, KW, Hung, KS
(2002) Brain tumor presenting with fatal herniation
following delivery under epidural anesthesia. Anesthesiology
96:508-509.
|