Chuột là một
loại động vật gắn liền với sinh hoạt văn hoá của con người
khá lâu đời, đặc biệt với nền văn hoá lúa nước như Việt Nam.
Sự hoà nhập giữa loài chuột với con người trong một quần thể
định cư có lẽ được xác định từ thời kỳ đồ đá mới (neolithic)
ở Thổ Nhĩ Kỳ khoảng 6500-5650 trước Công Nguyên;[1]
và chuột nhà đă chứng tỏ là loại động vật có vú có khả năng
thích nghi cao nhất với các quần thể định cư đa dạng của con
người. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa chuột và người lại là
cảnh “đồng sàng dị mộng”, chuột luôn là đối tượng để con
người “t́m và diệt” v́ đặc tính sinh thái và tác hại của
loài chuột đối với con người. Trong dân gian Việt Nam con
chuột được nhắc đến như là một biểu tượng của những điềm gở,
những tính xấu hơn là sự gắn bó thân thiện và hữu ích. Ngay
cả đối với Tây phương, đến tên gọi tiếng Anh “mouse” cũng
mang một nghĩa xấu. Mouse, bắt nguồn từ gốc Latin là “mus”,
rồi tiếng Hy Lạp là “mys” và cuối cùng là du nhập vào tiếng
Phạn cổ là “mush”,[2] đều có nghĩa là “ăn cắp”.
Vâng, chúng ta đă đặt cho loài chuột một cái tên định danh,
là kẻ cắp, kẻ ăn cắp thực phẩm của con người từ khi nông
nghiệp ra đời.
Cho dù cho
đến nay, chuột trong mắt con người vẫn là một loại sinh vật
gây hại đáng ghét, một “kẻ cắp chuyên nghiệp”. Thế nhưng qua
hàng thế kỷ nay, con người đang trở thành “kẻ cắp” trở lại
đối với loài chuột; thậm chí, chuột đă trở thành “ân nhân”
bất đắc dĩ của con người. Con người đă ăn cắp những ǵ, và
ăn cắp như thế nào từ loại sinh vật thấp kém này, nhân năm
Chuột (Mậu Tư 2008), bài viết này đề cập đến vai tṛ của
chuột trong nghiên cứu y sinh học, như một sự minh oan cho
loài chuột.
Sơ lược về
việc sử dụng động vật trong nghiên cứu y sinh thực nghiệm
Việc sử dụng
động vật để áp dụng trong nghiên cứu khoa học sinh lư học có
từ rất lâu đời; tuy nhiên theo tài liệu c̣n lưu trữ được cho
đến nay th́ Galen ở Pergamum (130-200 sau Công Nguyên), được
coi là ông tổ của ngành phẫu thuật của y khoa từ thời
Hippocrates, là người đầu tiên thực hiện phẫu tích và nghiên
cứu trên mô h́nh động vật là lợn (heo), khỉ không đuôi
(barbary ape), và chó để nghiên cứu sinh lư học áp dụng cho
con người sau khi bộ luật La Mă nghiêm cấm mổ tử thi.[3]
Và cũng từ đó mà việc sử dụng động vật trong nghiên cứu y
học đă đóng góp cho nhân loại một kho tàng tri thức vô giá
về các mặt cơ thể giải phẫu, sinh lư học, bệnh lư học và sau
này là mô h́nh thử nghiệm và di truyền học.
Với sự phát
triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, trong những thập niên
cuối của thế kỷ XX, có nhiều mô h́nh nghiên cứu phi động vật
(quan sát và giải phẫu tử thi và sử dụng ḍng tế bào người)
để thay thế mô h́nh động vật, nhưng cũng chỉ đem lại giá trị
khoa học nhất định; và động vật vẫn là một trong những mô
h́nh được sử dụng ưu thế nhất trong nghiên cứu y sinh học.
Mỗi năm có khoảng 17 đến 23 triệu con vật được sử dụng để
nghiên cứu.[4] Trong số đó, chuột (cả chuột hoang
dại [rat] và chuột nhà [mouse]) chiếm đến 95% các nghiên cứu
trên mô h́nh động vật.[4,5] Sở dĩ chuột được sử
dụng rộng răi trong nghiên cứu y khoa là do kích thước nhỏ,
giá thành tương đối không đắt đỏ, dễ nuôi, sinh sản nhanh,
đặc biệt đời sống ngắn (2-3 năm) nên có thể theo dơi được
hết đời sống và có thể theo dơi được cả vài thế hệ. Nhưng
điểm quan trọng và quư giá nhất nhất là đặc điểm sinh lư và
di truyền học của chuột rất gần với con người. Thực tế, mặc
dù tinh tinh (chimpanzee) có cấu trúc di truyền DNA 99%
giống với con người, và chuột chia sẻ có 98% bộ gen với con
người, nhưng chuột vẫn luôn luôn là mẫu h́nh nghiên cứu được
ưu tiên hàng đầu trong nghiên cứu y học. Trong một thập niên
gần đây, các nhà khoa học c̣n nâng cấp mô h́nh nghiên cứu
chuột lên một tầm cao mới là có thể làm thay đổi cấu trúc
gen trong chuột để gây ra các bệnh lư giống như bệnh lư ở
người.
Tại sao không
thể dùng các mô h́nh thay thế động vật trong nghiên cứu y
sinh?
Trên nguyên
tắc, một khi có thể sử dụng được mô h́nh thay thế động vật
là các nhà nghiên cứu lập tức áp dụng ngay. Nhiều mô h́nh
thay thế động vật được áp dụng rộng răi hiện nay bao gồm mô
h́nh điện toán hóa, mô h́nh trên các ḍng tế bào phân lập,
nuôi cấy và một số các mô h́nh phi động vật khác. Thí dụ như
mô h́nh điện toán hóa thường được sử dụng trong việc sàng
lọc và xác định mức độ gây độc của các chất trong giai đoạn
khởi đầu của nghiên cứu thực nghiệm trên các mô và tế bào
nuôi cấy. Tuy nhiên, các mô h́nh trên động vẫn vẫn c̣n giá
trị, ví dụ như bệnh mù, chúng ta không thể nghiên cứu trên
mô h́nh phi động vật hay bệnh cao huyết áp không thể nghiên
cứu được trên các tế bào nuôi cấy.
Các bộ phận
sống cực kỳ phức tạp bởi v́ nó hoạt động theo cơ chế chỉ huy
đa tầng và đa liên kết. Thí dụ, hệ
|
 |
|
Quy tŕnh tạo chuột chuyển gen (transgenic mice).
Chiết tách các gen cần cấy vào cơ thể chuột, sau đó
cấy gen này vào trứng chuột. Đưa trứng đă cấy gen
này vào trong tử cung chuột mẹ trung gian để tạo ra
thế hệ con cái có mang gen cần cấy. |
thống thần kinh trung ương, tuần hoàn, hóa chất trong năo,
nội tiết tố cũng như đáp ứng miễn dịch là một mối quan hệ
chằng chịt; và chúng ta không thể nào nghiên cứu các tiến
tŕnh bệnh lư ở các cơ phận này nếu không quan sát và thử
nghiệm trên một cơ thể sống hoàn chỉnh.
Chuột và
nghiên cứu y sinh học
Chuột đến với
pḥng thí nghiệm được biết sớm nhất có lẽ là từ những người
thích chơi chuột cảnh; họ nuôi và lai giống để có được những
con chuột có màu lông lạ đời. Khởi thủy là từ những người
chơi chuột Tàu (Chinese mouse) rồi lan sang Anh và Mỹ, thế
nhưng chuột Tàu lại không phải là loại có bộ gen để sử dụng
trong pḥng thí nghiệm hiện đại.[6] Ở châu Âu,
Robert Hook được coi là người đầu tiên sử dụng chuột để
nghiên cứu thực nghiệm về oxy trong cơ thể sống vào năm 1614
(Masson JH 1940, trích dẫn lại[6]). Từ đó, việc
sử dụng chuột với các chủng đặc biệt trở nên ngày càng phổ
biến. Đáng ghi nhận nhất ở Mỹ là bà Abbie Lathrop, một giáo
viên nghỉ hưu, thích chuột và nuôi chúng trong một trang
trại của ḿnh ở Massachusetts vào đầu thế kỷ XX.[7]
Năm 1902, các ḍng chuột nuôi của bà trở thành những con vật
đầu tiên được Giáo sư Ernest Castle đưa vào pḥng thí nghiệm
của Đại học Harvard và sau đó là Đại học Pennsylvania, khi
chúng được phát hiện thấy có mọc các khối u.
Chẳng bao lâu
sau đó, học tṛ của Ernest là Clarence Cook Little
(1888-1971) là người có công đầu trong việc tạo các giống
chuột lai thuần chủng, lần đầu tiên được dùng trong nghiên
cứu các bệnh ung thư có tính di truyền. Ông đă tạo ra giống
chuột DBA (Dilute, Brown, Agouti),[8] tạm gọi là
chuột thí nghiệm; các chủng chuột đầu tiên do Little lai tạo
và vẫn thông dụng cho đến hiện nay là CBA, C3H, C57BL/6 và
BALB/c. Little cũng chính là người đă thành lập Pḥng thí
nghiệm Jackson năm 1929,[9] cho đến nay vẫn là
một trong những xưởng cung cấp các giống chuột thí nghiệm
lai thuần chủng lớn nhất thế giới.
Những tiến
bộ trong việc tạo giống chuột trong pḥng thí nghiệm
Mặc dù chuột
được sử dụng nhiều nhất trong nghiên cứu y sinh học, nhưng
không phải tất cả các loại chuột đều dùng được. Các chủng
chuột dùng trong nghiên cứu y sinh hiện đại đều phải có cấu
trúc di truyền được xác định rơ. Và các chủng chuột đă xác
định về mặt di truyền đều phải có cấu trúc giống hệt hoặc
chí ít cũng rất sát nhau để có thể tái sinh sản theo cách
cho lai thuần chủng các thế hệ trong thực nghiệm
và để cho có thể tiên đoán được các kiểu h́nh (phenotype)
cũng như các thành phần của allen.[10]
Những thập
niên gần đây, các nhà khoa học đă có thể tạo ra những con
chuột thí nghiệm có cấu trúc di truyền hoặc có kiểu h́nh
bệnh lư theo ư muốn qua các phương thức chuyển hoặc tách
gen. Chuyển và tách bỏ gen trong chuột để phục vụ cho mục
đích nghiên cứu là một cuộc cách mạng trong công nghệ sinh
học. Chuột chuyển gen là chuột được cấy vào cơ thể một gen
ngoại lai và chuột tách gen là tách bỏ hoặc bất hoạt một hay
một đoạn gen đặc hiệu nào đó.
Chuột nhà,
tên khoa học là Mus musculus domesticus, được lựa
chọn là mô h́nh nghiên cứu chuẩn trong pḥng thí nghiệm y
sinh do khả năng thích nghi cao và khả năng có thể lai tạo
các ḍng gen thuần chủng tiện lợi cho nghiên cứu các bệnh có
liên quan mật thiết với bệnh lư ở người. Đặc biệt từ khi
công nghệ chuyển và tách gen kỹ thuật cao ra đời, chuột càng
chứng tỏ ḿnh là một sự lựa chọn đúng đắn của con người
trong nghiên cứu khoa học. Chẳng hạn một chủng chuột đặc
hiệu, chủng 129, và các chủng phụ của nó được coi là đặc
biệt giá trị do chúng có thể tạo các bào gốc phôi có khả
năng thay đổi được cấu trúc di truyền trong quá tŕnh nuôi
cấy và
|
 |
|
H́nh ảnh của chuột tách gen (knockout mouse): Vai
tṛ của gen Nh1h2 trong việc h́nh thành mỡ bụng và
gây béo ph́. Tại thời điểm 8 tuần tuổi cả hai chuột
b́nh thường (WT) và chuột tách gen (KO) đều giống
nhau về cấu trúc và trọng lượng cơ thể. Béo ph́ xuất
hiện rơ rệt ở tuần thứ 12 và lớn hơn ở chuột đă được
tách gen Nhlh2 do tăng nhanh lượng mỡ bụng và trọng
lượng.
Nguồn:www.hnfe.vt.edu/People/faculty/good.html |
rồi được đưa
trở lại vào trong tử cung của chuột vật chủ.[11]
Các nghiên cứu sử dụng biện pháp biến đổi gen trực tiếp của
các chủng phụ nhóm 129 đă cho phép công nghệ tạo đột biến
gen theo ư muốn (target mutation) để tạo ra các giống chuột
có các đặc tính bệnh lư đặc hiệu, hay c̣n gọi là chuột
chuyển gen (transgenic mouse) hoặc chuột tách bỏ gen
(knockout mouse) cũng như các giống chuột có mang gen bệnh
lư của người (chuột chuyển gen người, humanized mouse). Ngày
nay việc sử dụng chuột chuyển gen trong pḥng thí nghiệm y
sinh đă trở nên phổ biến.
Đối với chuột
hoang dại (rat), có lẽ chuột hoang dại ở Na Uy là được sử
dụng trong nghiên cứu thực nghiệm phổ biến nhất, đặc biệt là
trong giảng dạy. Giống như chuột nhà, chuột hoang dại được
ưa chuộng là do khả năng sinh sản nhanh, đời sống ngắn, dễ
kiếm và quan trọng hơn, chuột hoang dại có giá trị trong
nghiên cứu đặc tính hành vi. Ngày nay, với những khám phá
mới về khoa học thần kinh, khoa học thần kinh hành vi tạo cơ
may để chuột hoang dại tiếp tục phát huy thế mạnh của ḿnh
trong nghiên cứu về các hành vi vận động, tấn công và sinh
sản. So với chuột nhà, chuột hoang dại ít được sử dụng hơn
trong pḥng nghiên cứu y sinh hiện đại do hạn chế về khả
năng tạo ḍng lai thuần chủng. Từ khi công nghệ chuyển gen
và tách gen ra đời, chuột hoang dại đang dần chiếm lại vị
thế của nó trong pḥng thí nghiệm do chuột hoang dại lại có
hiệu quả hơn chuột nhà trong nghiên cứu các bệnh lư trên
người như bệnh Parkinson, ung thư, xơ nang (cystic
fibrosis), bệnh tim, bệnh Alzheimer, teo cơ giả ph́ đại và
bệnh lư cột sống, vân..vân.[12]
Một số bệnh
lư tái lập trên chuột chuyển gen hoặc chuột tách gen
Dựa trên các
giả thuyết về bệnh lư gen, các nhà khoa học có thể tiến hành
cấy các gen bệnh hoặc ghép các gen bệnh của người hoặc thậm
chí loại bỏ một gen chức năng nào đó trong chuột để cho con
chuột đó biểu hiện một bệnh lư nào đó giống hệt như bệnh lư
ở người. Từ đó các nhà nghiên cứu có thể khảo sát tiến tŕnh
bệnh lư và mục đích cuối cùng là t́m ra một phương thức điều
trị đặc hiệu khả dĩ có thể áp dụng điều trị cho người bệnh.
Chỉ trong ṿng hơn một thập niên gần đây, nghiên cứu chuyển,
ghép và tách gen trên chuột đă đem lại nhiều kết quả khá thú
vị và ngoạn mục. Dưới đây là ví dụ về một số bệnh lư điển
h́nh tái lập được trên các mô h́nh chuột chuyển hoặc tách bỏ
gen.
Bệnh
Alzheimer (AD). Về cơ chế bệnh sinh, cho đến
nay, các khoa học gia cho rằng do sự lắng đọng của các mảng
protein có amyloid trên bề mặt năo làm cho bệnh nhân mất trí
nhớ, và tổn thương nhân cách là các đặc điểm của bệnh
Alzheimer. Sử dụng chuột hoang dại chuyển gen đă có thể tái
hiện lại mô h́nh bệnh lư này và các nhà nghiên cứu đang tiến
hành khảo sát tác dụng của thuốc điều trị AD. Vừa mới đây,
một nghiên cứu cho thấy rằng sử dụng một loại vắc-xin có
chứa các protein amyloid biến thể cho chuột bị bệnh có khả
năng làm chậm tiến tŕnh bệnh lư AD. Hiện nay, vắc-xin này
đang được thử nghiệm trên người.[13,14]
Bệnh
lăo suy (Aging). Nếu tiến hành theo dơi quá
tŕnh lăo suy trên người, cần phải mất rất nhiều thời
gian, gần như suốt cả mấy thập niên đời người mà nhiều khi
lại không thể theo dơi hết được. Trên mô h́nh nghiên cứu
chuột hoang dại và chuột nhà cho thấy nếu giảm chế độ năng
lượng thu nạp mỗi ngày, tuổi thọ của chuột hoang dại tăng
lên, các quá tŕnh thoái hoá sinh lư chậm lại và cho thấy có
mối tương quan với khả năng ngăn ngừa một số bệnh lư liên
quan đến tuổi tác.[15]
Ung
thư. Trong suốt thập niên qua, những hiểu biết
của chúng ta về vai tṛ các yếu tố môi trường có tác động
như thế nào đến yếu tố di truyền và gây đột biến gen gia
tăng nguy cơ ung thư là đều thông qua mô h́nh nghiên cứu
trên chuột hoang dại và chuột nhà. Gần đây, các nhà khoa học
đă tạo ra được giống chuột có khả năng kháng ung thư do
thiếu khả năng sản xuất một protein ṿng D1, một hợp chất
tăng cao trong số các bệnh nhân ung thư vú. Do đó với kỳ
vọng sử dụng liệu pháp trị liệu tác động vào chất này có khả
năng làm ḱm hăm sự phát triển ung thư vú ở người.[16]
Nhồi
máu cơ tim (Heart attack). Nghiên cứu mới cho
thấy rằng sau một đợt nhồi máu cơ tim, cơ tim tái sinh dài
ra hơn một chút, là nguy cơ của suy tim và tái nhồi máu. Các
nhà khoa học đang sử dụng mô h́nh chuột chuyển gen để nghiên
cứu điều trị t́nh trạng này. Các nghiên cứu đang nhắm vào
việc sử dụng các tế bào gốc tủy xương nguyên thuỷ tiêm vào
vùng ngoại vi của khu vực bị tổn thương để kích thích việc
tự sửa chữa, và kết quả đang theo chiều hướng hứa hẹn.[17]
Vài nhận xét
và kết luận
Khoảng hơn
một thế kỷ trước, mặc dù nhận thấy tầm quan trọng của chuột
trong các nghiên cứu thực nghiệm y sinh học, các nhà khoa
học vẫn chưa biết ǵ về DNA và yếu tố di truyền. Nhưng một
sự ngẫu nhiên gần như có bàn tay sắp đặt, chuột càng ngày
càng trở thành một đối tượng đóng một vai tṛ then chốt và
không thể thay thế được trong nghiên cứu y sinh học hiện đại
từ khi có công nghệ chuyển gen, tách gen ở chuột thí nghiệm,
bởi v́ nhờ công nghệ này mà chúng ta có thể tái hiện được
khá nhiều bệnh lư ở người trên chuột thực nghiệm. Để sở hữu
được một con chuột chuyển hay tách gen, cái giá phải chi trả
không phải nhỏ. Một con chuột được tạo ra với bệnh viêm khớp
giá xấp xỉ 200 USD/con; một con chuột mù bẩm sinh, 250 USD.
Và nếu muốn có một con chuột được chuyển hay tạo đột biến
hay tách gen theo ư muốn, bạn có thể phải chi trả đến giá
100 ngh́n USD/con.[18] Và cũng không lạ ǵ là tại
sao trong năm 2006, Viện Y tế Quốc gia Mỹ (NIH) đă phải chi
trả đến 10 triệu đô la để mua 250 chủng chuột đă được tách
gen, cùng với các dữ liệu chi tiết về sinh lư học.
Một điều thú
vị hơn, sau các dự án giải mă bộ gen chuột và bộ gen người,
các khoa học gia đặt sóng đôi để so sánh [19] th́
thấy 90% bộ gen của chuột (hoang dại và nhà) giống với bộ
gen người; ba loài này có chung với nhau trên 280 vùng rộng
(large region) của các đoạn gen; và thậm chí có thể tái hiện
các bệnh lư ở người trên chuột, th́ chuột vẫn là chuột chứ
không bao giờ chuột là người cả. Cấu trúc bộ gen không quan
trọng mà hoạt tính, tương tác, điều khiển của các gen đó
trong cơ thể mỗi loài mới quan trọng.
Sử dụng mô
h́nh thực nghiệm trên động vật sống để nghiên cứu các bệnh
lư ở người là điều gần như không thể thay thế được và nếu
không nói là phương pháp tốt nhất và hiệu quả nhất hiện nay
để tiếp cận cơ chế bệnh nguyên và bệnh sinh các bệnh lư ở
người, đặc biệt là bệnh lư liên quan đến yếu tố di truyền.
Nhưng điều đó không có nghĩa là một khi đă “giải mă” được
bệnh lư và t́m được phương pháp chữa trị mới thành công trên
mô h́nh động vật thực nghiệm là có được ch́a khóa thành công
trên con người, nếu không nói là đường đi đến đích vẫn c̣n
xa dịu vợi. Cho nên, cho đến nay dưới ánh sáng của y học
thực chứng, th́ các bằng chứng nghiên cứu thu được từ mô
h́nh thực nghiệm động vật vẫn là những bằng chứng có giá trị
khoa học ở bậc rất thấp của thang điểm.
Nhưng dẫu
sao, cũng cần phải có một cơ hội nào đó để tôn vinh loài
chuột mà con người đă lỡ gán danh là “kẻ cắp”; v́ bây giờ,
con người đang đóng vai đó, đang ăn cắp những sở hữu quư giá
của loài chuột để nghiên cứu phục vụ cho lợi ích của con
người; và để có được những kết quả nghiên cứu mang tính đột
phá trong y sinh học như hiện nay, không biết bao nhiêu con
chuột đă phải làm vật thế thân mà tiếng xấu vẫn c̣n mang.
Không biết có ngẫu nhiên hay không mà trong năm vừa qua,
Walt Disney mới cho ra đời bộ phim hoạt h́nh Ratatouille,
nâng cấp loài chuột lên ngang hàng với chúng ta, cũng xứng
lắm thay!
Tài liệu tham
khảo
1. Brothwell D (1981) The
Pleistocene and Holocene archeology of the house mouse and
related species. In Berry RJ (ed) Symposium of the
Zoological Society of London Vol 47: The Biology of the
House Mouse. Academic Press, London, pp 1-13.
2. Silver LM (1995) Mouse
Genetics. Oxford University Press, New York.
3. Nutton V (1973) The
Chronology of Galen's Early Career. Classical Quarterly
23:158-171.
4. California Biomedical
Research Association (2007) CRBA Fact sheet: Why are Animals
Necessary in Biomedical Research? www.ca-biomed.org.
Accessed Dec 12, 2007.
5. Foundation for Biomedical
Research (2007) Rats and Mice, the Essential Need for
Animals in Medical Research. www.fbresearch.org. Accessed
Dec 12, 2007.
6. Festing MFW, Lovell, DP
(1981) Domestication and development of the mouse as a
laboratory animal. In Berry RJ (ed) Symposium of the
Zoological Society of London Vol 47: The Biology of the
House Mouse. Academic Press, London, pp 43-62.
7. Morse III HC (1978)
Origins of Inbred Mice. Academic Press, New York
8. Little CC (1913) "Yellow"
and "Agouti" Factors in Mice. Science 38:205.
9. Russell ES (1978) Origins
and history of mouse inbred strains: Contributions of
Clarence Cook Little. In Morce HC (ed) Origins of Inbred
Mice. Academic Press, New York, pp 33-43.
10.Davisson MT (1999) Genetic
and Phenotypic Definition of Laboratory Mice and Rats/What
Constitutes an Acceptable Genetic-Phenotypic Definition:
Proceeding of the 1998 US/Japan Conference. In National
Research Council (ed) The 1998 US/Japan Conference by
International Committee of the Institute for Laboratory
Animal Research. National Academy Press, Washington, D.C.
11. Simpson EM, Linder, CC,
Sargent, EE, Davisson, MT, Mobraaten, LE, Sharp, JJ (1997)
Genetic variation among 129 substrains and its importance
for targeted mutagenesis in mice. Nat Genet 16:19-27.
12. Schulhof J (1996)
Editorial: Putting your money where your mouse is. Lab
Animal 25:9.
13. Schenk D, Barbour, R,
Dunn, W, Gordon, G, Grajeda, H, Guido, T, Hu, K, Huang, J,
Johnson-Wood, K, Khan, K, Kholodenko, D, Lee, M, Liao, Z,
Lieberburg, I, Motter, R, Mutter, L, Soriano, F, Shopp, G,
Vasquez, N, Vandevert, C, Walker, S, Wogulis, M, Yednock, T,
Games, D, Seubert, P (1999) Immunization with amyloid-beta
attenuates Alzheimer-disease-like pathology in the PDAPP
mouse. Nature 400:173-177.
14. Schenk DB, Seubert, P,
Lieberburg, I, Wallace, J (2000) beta-peptide immunization:
a possible new treatment for Alzheimer disease. Arch Neurol
57:934-936.
15. Masoro EJ (2000) Caloric
restriction and aging: an update. Exp Gerontol 35:299-305.
16. Yu Q, Geng, Y, Sicinski,
P (2001) Specific protection against breast cancers by
cyclin D1 ablation. Nature 411:1017-1021.
17. Orlic D, Kajstura, J,
Chimenti, S, Jakoniuk, I, Anderson, SM, Li, B, Pickel, J,
McKay, R, Nadal-Ginard, B, Bodine, DM, Leri, A, Anversa, P
(2001) Bone marrow cells regenerate infarcted myocardium.
Nature 410:701-705.
18. Associated Press (2006)
Mice play a critical role in medical research. Researchers
can pay as much as $100,000 for a customized animal. In The
Associated Press.
19.National Human Genome
Research Institute (2004) Scientists Compare Rat Genome With
Human, Mouse http://wwwgenomegov/11511308 Accessed Feb 2,
2008.