Các biện pháp trước mắt để làm giảm nồng
độ 3-MCPD trong sản phẩm nước tương chế biến bằng phương pháp
thuỷ phân
Nước tương là một loại thực phẩm gia vị được
chế biến và tiêu dùng rộng răi từ lâu đời, trở thành một loại
gia vị gần như không thể thiếu được ở thị trường tiêu thụ người
Á châu. Theo phương cách truyền thống th́ nước tương được chế
biến bằng phương pháp lên men. Nhưng do một số hạn chế về mặt
mùi vị, thời gian và hiệu suất thành phẩm, phương thức chế biến
bằng cách dùng acid HCl thuỷ phân đậu nành ra đời. Phương thức
sau cho phép có sản phẩm nước tương đạt được chất lượng về mùi
vị cũng như hiệu năng sản xuất và trở thành một phương thức chế
biến nước tương và các sản phẩm từ đậu nành phổ biến trên thế
giới.
Trước một thực tế, nước
tương chế biến bằng phương pháp thuỷ phân
à sản sinh ra
3-MCPD là một “tai nạn nghề nghiệp” và gần như không tránh được.
Gần đây, 3-MCPD và phó sản 1,3-DCP lại bị cho là có khả năng
gây ung thư trên mô h́nh thực nghiệm tế bào động vật và động vật
sống khi cho tiếp xúc lâu dài; cho nên cần phải có một biện pháp
an toàn nào đó để giảm 3-MCPD xuống trong nước tương lưu hành
trong thị trường đến mức nào đó để cho người tiêu dùng có thể sử
dụng lâu dài mà hạn chế thấp nhất nguy hại về sau nếu có.
Trong bối cảnh đó các
nhà khoa học phải xác định được đâu là ngưỡng an toàn, xác định
mức độ tiêu thụ sản phẩm của người dân nước ḿnh là bao nhiêu,
để rồi đưa ra khuyến cáo là định mức 3-MCPD trong sản phẩm nước
tương lưu hành trên thị trường là có thể đáp ứng được với tiêu
chuẩn an toàn.
Trước một yêu cầu bức
bách một bên là sự an toàn cho người tiêu dùng, một bên là yêu
cầu cung cấp công nghệ cải tiến của nhà sản xuất, các khoa học
gia phải vào cuộc. Đây là một công việc chung chứ không của
riêng ai. Sau khi khảo sát qua các kết quả nghiên cứu hiện hành,
đồng thời kêu gọi sự hợp tác giúp đỡ chuyên môn từ khắp nơi trên
thế giới, Tổ chức Lương Nông thế giới (FAO) cùng hợp tác với Tổ
chức Y tế thế giới (WHO) rút ra được một số kinh nghiệm nhằm để
có thể giúp các nhà sản xuất có thể làm giảm được dư lượng
3-MCPD trong thành phẩm. Do đó chúng tôi lược dịch nội dung này
(Các biện pháp có thể áp dụng để làm giảm 3-MCPD trong quá tŕnh
chế biến nước tương bằng phương pháp thuỷ phân) từ trong báo cáo
mới đây nhất của Uỷ hội Ô nhiễm thực phẩm trực thuộc liên hiệp
FAO/WHO tại phiên họp mới nhất diễn ra ở Bắc kinh mới trong
tháng 4/2007 vừa qua, chúng tôi xin gửi đến bạn đọc nhằm có
thông tin tham khảo, có thể có ích đặc biệt cho các nhà sản xuất
nước tương trong nước có thêm tư liệu đối chiếu.
Khuyến cáo hiện hành của
FAO/WHO về định mức thu nạp 3-MCPD có thể chấp nhận được cho mỗi
người là 0.002mg/ngày. Dựa vào khuyến cáo đó mà mỗi cơ quan chủ
quản của mỗi nước sẽ thiết lập ra một định mức chuẩn riêng cho
phép nồng độ 3-MCPD riêng cho nước ḿnh dựa theo mức tiêu thụ
sản phẩm nước tương của người dân. Lư do tại sao chỉ phải đặt
ra cho nước tương v́ cho đến nay, trên thế giới cũng chỉ mới t́m
thấy nước tương sản xuất theo phương pháp thuỷ phân là có dư
lượng 3-MCPD cao nhất. Và các định mức này đều phải dựa trên
những khảo sát thực tế, cân nhắc cả tính khả thi của việc sản
xuất. Bởi v́, an toàn nhất là không được có một chút dư lượng
hoá chất tạp nhiễm nào trong sản phẩm, nhưng nó không thể tránh
khỏi trong quy tŕnh sản xuất bằng phương pháp thuỷ phân, trong
khi hoá chất này chưa thực sự là gây an nguy đến sức khoẻ con
người cấp thời. V́ vậy, tính dung hoà giữa một nghi ngờ trong
khoa học với tính thực tế th́ mới có ngưỡng an toàn chấp nhận,
và v́ thế mà ngưỡng này khác nhau tuỷ theo từng nước. Thí dụ,
Anh quốc chỉ chấp nhận dư lượng 3-MCPD ở mức 0.01mg/kg, trong
khi đó Mỹ chấp nhận ở ngưỡng 1mg/kg.
Đề cập đến ngưỡng chuẩn
này, cần phải phân định rằng chuẩn là chuẩn được xác định cho
mỗi quốc gia. Định lượng theo phương pháp nào cũng do uỷ ban
chuyên môn của quốc gia đó quy định chung cho các labo toàn quốc
nhằm để giảm đi sai số khác biệt do kỹ thuật đo. Thế nhưng các
nước xuất khẩu nước tương sẽ rơi vào t́nh thế bị động là khi
xuất khẩu hàng vào mỗi nước sẽ gặp phải tiêu chuẩn của nước đó;
và sẽ cũng có sự sai số nhất định nào đó xảy ra khi hàng th́ đạt
ở nơi sản xuất, nhưng không đạt ở nơi nhập khẩu. Để giảm thiểu
t́nh trạng đó, giới chuyên môn trong nước cũng nên cân nhắc tham
khảo phương pháp chuẩn nào các nước hay dùng để kiểm định 3-MCPD
khi kiểm tra chất lượng hàng nhập khẩu, để chúng ta theo đó, kỳ
vọng sẽ đáp ứng được tiêu chuẩn kỹ thuật.
Và như thế có một mối
liên hệ mắc xích giữa khoa học-quản lư-sản xuất-tiêu thụ.
Giới khoa học đưa ra khuyến nghị, cơ quan quản lư ra chính sách,
người sản xuất thi hành. Điều này nảy sinh ra một nhu cầu khác
là chính sách đề ra cần phải dựa trên thực tế và cần phải đáp
ứng với nhu cầu của thực tế; ở chỗ nhà sản xuất vẫn phải sản
xuất nước tương dựa trên phương pháp thuỷ phân, v́ dẫu rằng
phương pháp này sinh ra hoá chất 3-MCPD. Nhưng không chỉ có mỗi
nước tương là có chứa 3-MCPD và trong rất nhiều thực phẩm khác
nữa cũng có 3-MCPD mà chỉ ở dư lượng thấp hơn so với nước tương
mà thôi. Thí dụ các loại thịt chế biến ăn sẵn, trái cây, rau,
ngũ cốc, sản phẩm nướng, cá hun khói, bi; kể cả những loại thức
ăn và thức uống chế biến không dùng phương pháp thuỷ phân đạm
thực vật như các loại nước chấm chế biến từ lúa mạch, tinh bột.
Và thông qua kinh nghiệm công nghệ chế biến thực phẩm, không thể
nào không có tạp nhiễm 3-MCPD một khi c̣n dùng các nguồn protein
tách chất béo được cả. Và v́ vậy cũng không thể cấm quy tŕnh
sản xuất nước tương bằng phương pháp thuỷ phân được, mà phải
bằng cách nào đó để giám dư lượng này xuống, đó là nhiệm vụ của
các nhà khoa học.
Thông qua các khảo sát
thực tế, giới nghiên cứu quan sát thấy rằng qua các mẫu thử
nghiệm nước tương và các sản phẩm liên quan có chứa 3-MCPD ở hàm
lượng dao động rất lớn từ dưới 0.01 cho đến 1779 mg/kg. Tuy
nhiên trong khảo sát cũng có rất nhiều lô mẫu thử đều không phát
hiện được dư lượng 3-MCPD; như vậy, nhất định là phải có một
biện pháp nào đó để có thể làm giảm được nồng độ hoá chất độc
hại này.
Cũng thông qua các báo
cáo kinh nghiệm của các nhà sản xuất đă áp dụng các biện pháp
làm giảm dư lượng 3-MCPD trong nước tương bằng các phương pháp
khác nhau, và dư lượng giảm xuống theo các mức độ khác nhau cũng
sẽ đưa lại hiệu ứng thành phẩm khác nhau, chủ yếu là ảnh hưởng
đến hương vị của sản phẩm, có thể không đáp ứng được khẩu vị của
người tiêu dùng. Một yếu tố quan trọng khác cũng cần phải chú ư
là thay đổi một quy tŕnh công nghệ sản xuất để có thể làm giảm
dư lượng 3-MCPD đến mức đạt yêu cầu là tương đối khó khăn về mặt
kỹ thuật và rất đắt đỏ, và thường phải thay đổi máy móc. Một
điểm cần nhắc lại là quá tŕnh sản xuất thực phầm bằng protein
thực vật thuỷ phân phụ thuộc vào đầu ra là chất lượng hương vị
(vị giác và cả thị giác) của thành phẩm. Các nguyên liệu để chế
tạo, nồng độ acid sử dụng, nhiệt độ trong quá tŕnh chế biến,
thời gian để thuỷ phân và các nhân tố khác kết hợp lại để quyết
định hương vị cùa sản phẩm.
Dựa trên những thực tế
đó, việc cải tiến các khâu chế biến là cần thiết và có thể nhanh
chóng giải quyết được t́nh trạng dư lượng 3-MCPD vượt mức cho
phép.
Các biện pháp có thể
áp dụng để làm giảm 3-MCPD trong quá tŕnh chế biến nước tương
bằng phương pháp thuỷ phân
Các biện pháp có thể áp
dụng để làm giảm 3-MCPD trong quá tŕnh chế biến nước tương, bao
gồm 3 phương thức: thứ nhất là giám sát cẩn thận bước thuỷ phân
bằng acid; thứ hai, là cần phải có bước áp dụng nguyên tắc trung
hoà để làm giảm nồng độ 3-MCPD; và cách thứ ba là sử dụng acid
sulfuric thay thế acid HCl trong khâu thuỷ phân.
Đi vào chi tiết, hiện
nay các thông tin kỹ thuật FAO/WHO chỉ mới có thể phổ biến tối
đa những thông tin mà họ có thể có. V́ sự hạn chế thông tin, do
đó những hướng dẫn này cũng chỉ là một hướng dẫn chung, cũng có
thể cần phải cải tiến, áp dụng có cân nhắc và điều chỉnh để có
được sản phẩm đạt yêu cầu, đó là cái đích cần đến. FAO/WHO cũng
kêu gọi các tổ chức chuyên môn, giới khoa học, nhà sản xuất có
phương cách nào tốt th́ khuyến cáo để phổ biến rộng răi.
Biện pháp thứ nhất,
Nhiệt độ trong suốt quá tŕnh đun nấu ở khâu thuỷ phân phải được
giám sát chặt và chú ư đến các điều kiện phản ứng trong khâu
trung hoà tiếp theo. Nhiệt độ duy tŕ trong quá tŕnh thuỷ phân
tối ưu là nên thực hiện ở mức 60-95 °C. Nhiệt độ phản ứng sẽ
tăng lên ở mức từ 0.01 đến 0.3 °C trong một phút và nhiệt độ sẽ
dần đạt đến 110 °C. Khi nhiệt độ đạt đến mức này, th́ phải giữ
ổn định suốt trong 2 giờ tiếp, và sau đó là quá tŕnh làm nguội,
rồi trung hoà và lọc. Nếu khâu thuỷ phân này được giám sát cẩn
thận, th́ nồng độ 3-MCPD đă có thể giảm xuống được ở mức 10mg/kg
rồi.
Để loại bỏ 3-MCPD sinh
ra trong quá tŕnh thuỷ phân có thể tiến hành một bước thuỷ phân
kiềm. Xử lư bằng kiềm là một bước mở rộng của quá tŕnh trung
hoà sau khi thuỷ phân nguyên liệu ban đầu, nó giúp làm thoái hoá
các hợp chất chloropropanols hiện diện trong sản phẩm được thuỷ
phân. Xử lư bằng kiềm có thể tiến hành trước giai đoạn lọc. Đạm
(protein) thuỷ phân được xử lư bằng một hợp chất kiềm mà có
trong danh mục cho phép dùng trong thực phẩm, như là potassium
hydroxide, sodium hydroxide, ammonium hydroxide hay sodium
carbonate với mục đích để làm tăng độ pH lên mức 9 – 13. Sau đó
hỗn hợp thành phẩm này đem đun, giữ ở nhiệt độ dao động từ 110 –
140 °C trong 5 phút. Sau khi làm lạnh, th́ độ pH của sản phẩm
thuỷ phân phải là kiềm, lư tưởng là ở mức pH 8 trong điều kiện
nhiệt độ 25°C. Nếu sau khi đă xử lư khâu này mà độ pH thấp hơn,
th́ có nghĩa quá tŕnh xử lư này chưa đạt và cần phải chỉnh lư
lại quy tŕnh.
Tiếp theo giai đoạn thuỷ
phân kiềm, các protein được thuỷ phân lại được tái điều chỉnh đọ
pH ở mức từ 5.0 – 5.5 sử dụng các acid thích hợp (thí dụ như
HCl) ở nhiệt độ giữa 10-50°C. Lúc này các sản phẩm thuỷ phân có
thể chuyển sang giai đoạn lọc để loại bỏ các tạp chất không tan.
Chỉ riêng giai đoạn thuỷ
phân kiềm trong quá tŕnh thuỷ phân đạm thực vật cũng đă cho
thấy có thể làm giảm được 3-MCPD xuống đến mức dưới 0.01mg/kg
(23). Một điểm cần ghi nhớ là quy tŕnh thuỷ phân kiềm quá mức
có thể làm ảnh hưởng đến chất lượng hương vị của thành phẩm, v́
vậy mà cần phải thử nghiệm nhiều lần để có thể xác định được số
lượng chất kiềm cần bao nhiêu, hoặc thuỷ phân bao lâu, nhiệt độ
nào để có thể đạt được chất lượng thành phẩm khá nhất mà cũng
giảm được dư lượng 3-MCPD ở mức cần thiết.
Một điểm khác hết sức
chú ư trong giai đoạn thuỷ phân kiềm, v́ đây là giai đoạn loại
bỏ 3-MCPD nên cần phải đạt độ “tinh khiết” càng cao càng tốt để
tránh t́nh trạng tái nhiễm 3-MCPD do tiếp xúc với các thiết bị
và vật liệu ở giai đoạn thuỷ phân acid, thí dụ như các buồng
phản ứng thuỷ phân, bơm, ống dẫn, bộ lọc.
Như đă đề cập, cũng có
thể có giải pháp là sử dụng acid sulfuric để thuỷ phân đạm thực
vật, chính v́ thế mà nó có thể loại trừ được sự hiện diện của
ion clo là tiền đề dẫn đến việc h́nh thành 3-MCPD. Đậu nành
trộn với acid sulfuric để trong 8 giờ ở áp suất 10psi. Sau đó
đem trung hoà và lọc rửa. Chất lượng hương vị của thành phẩm
trong khâu chế biến sử dụng acid sulfuric được cải thiện thông
qua việc cho thêm phụ gia, chẳng hạn như bột ngọt, caramel,
disodium inosinate, disodium guanylate và acid lactic.
Đối với nước tương
chế biến bằng phương pháp lên men
Sản xuất nước tương bằng phương pháp lên men
này gần như là rất an toàn; các kiểm nghiệm gần như không thấy
có 3-MCPD hoặc nếu có cũng rất thấp. Trong một khảo sát mới đây
của Nhật, cho thấy trong 104 mẫu nước tương làm bằng phương pháp
lên men được thử, có 93 mẫu chứa 3-MCPD ở nồng độ tối thiểu
(0.004 mg/kg). Phương pháp này khởi đầu là ủ đậu nành với
Aspergillus oryzae và/hoặc Aspergillus sojae. Sau
khi ủ được 1 đến 3 ngày, ở nhiệt độ 25 – 30oC, cho
thêm nước muối vào và trộn, giữ ở nhiệt độ dưới 40oC trong một
thời gian tối thiểu là 90 ngày. Quá tŕnh sản xuất lên men theo
công đoạn ngắn ngày th́ giai đoạn cho nước muối vào và giữ ở
nhiệt độ trên 40oC, và công đoạn này kết thúc trong
ṿng 90 ngày. Các sản phẩm này nếu muốn giữ được hương vị sau
khi đă mở chai, cần phải để tủ lạnh.
Chúng tôi hy vọng những thông tin trên đây sẽ
giúp ích được cho giới chuyên môn và các nhà sản xuất trong nước
có thêm thông tin để tham khảo. Người tiêu dùng được quyền sử
dụng một sản phẩm có chất lượng và nhà sản xuất cũng có quyền tự
hào ḿnh có thể đáp ứng được yêu cầu đó.
06/06/2007
Nguyễn Đ́nh Nguyên
Ghi chú: Bài đă gửi đăng ở báo Người Lao Động |