|
Về quyết định “Hướng dẫn xử lư tiêu hủy mắm tôm ô nhiễm mầm
bệnh tiêu chảy cấp nguy hiểm” của Bộ Y tế
Ngày 7/11/2007 Thứ trưởng Bộ Y tế Cao Minh Quang kư thay Bộ
trưởng ra Quyết định “Hướng dẫn xử lư tiêu hủy mắm tôm ô nhiễm
mầm bệnh tiêu chảy cấp nguy hiểm”. Trong điều 2 của QĐ ghi:
“Hướng dẫn xử lư tiêu hủy mắm tôm ô nhiễm mầm bệnh tiêu chảy cấp
nguy hiểm” được áp dụng đối sản phẩm mắm tôm đă được xác định ô
nhiễm mầm bệnh, có liên quan đến truyền bệnh. Và trong hướng dẫn
thực hiện QĐ ghi: “Nhằm cắt đứt mắt xích đường lây là mắm tôm
có chứa mầm bệnh, Bộ Y tế hướng dẫn tiêu hủy mắm tôm ô nhiễm
mầm bệnh tiêu chảy cấp nguy hiểm như sau:1. Từ nay đến khi Bộ Y
tế công bố hết dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm, các địa phương có
dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm lưu hành tiến hành ngay việc ngừng
mua, bán, sử dụng mắm tôm hiện là nguồn lây truyền dịch bệnh;
thực hiện thu gom tại chỗ, cách ly để xử lư diệt mầm bệnh, không
chuyên chở ra khỏi địa điểm thu gom khi chưa được xử lư diệt mầm
bệnh.”
Vậy có những điều ǵ cần phải bàn thảo xung quanh quyết định
này?
Luận cứ khoa học
Bất kỳ một chính sách, nghị định hoặc quyết định hoặc hướng dẫn
về chuyên môn đều phải dựa trên một triết lư khoa học
(rationale) và bằng chứng khoa học (evidence). Quyết định ban
hành trên đây của Bộ Y tế dựa vào những lập luận và chứng cứ
nào?
Tính đến 7/11, hiện trên 11 tỉnh thành Bắc và Bắc trung bộ Việt
Nam có 1097 bệnh nhân bị mắc tiêu chảy cấp. Tại thời điểm trước,
vào những ngày đầu vụ dịch, theo thông tin báo chí, các giới
chức y tế cho rằng có đến 70-80% số bệnh nhân có tiền sử ăn mắm
tôm, và từ đó quy kết từ nghi phạm đến thành thủ phạm của vụ
“dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm” đang diễn ra, tất cả các thông
tin này đều là các phát biểu của các quan chức y tế trên phương
tiện thông tin đại chúng.
Chúng tôi đă truy cập trang nhà của Bộ Y tế, mục Vệ sinh pḥng
dịch không có thông tin, trang nhà của Vệ sinh an toàn thực phẩm
(http://vfa.gov.vn)
th́ không truy cập được. Và cho đến thời điểm này, không có một
con số báo cáo khoa học nào được phổ biến trên các trang nhà
liên đới. Do đó chúng tôi chấp nhận một giả định là cơ sở khoa
học để Bộ Y tế đi đến ra quyết định “Hướng dẫn xử lư tiêu hủy
mắm tôm ô nhiễm mầm bệnh tiêu chảy cấp nguy hiểm” là dựa trên
con số trên đây.
T́nh huống đặt ra dựa theo suy luận trên có nghĩa rằng chấp nhận
mắm tôm là thủ phạm của tiêu chảy cấp. Nhưng thực tế con số này
nó chỉ vỏn vẹn nói lên một điều rằng trong số những bệnh nhân
mắc bệnh tiêu chảy cấp, có 80% trong số họ, tức 878 người có ăn
mắm tôm.
Chấp nhận giả thuyết mắm tôm là thủ phạm của tiêu chảy cấp
tính th́ câu hỏi cần phải trả lời là có bao nhiêu người ăn mắm
tôm bị tiêu chảy cấp tính?
Để trả lời câu hỏi này cần phải biết được tỷ lệ người dân trong
các vùng hiện đang có bệnh đó, bao nhiêu phần trăm dân số sử
dụng mắm tôm. Chúng tôi tạm giả định là 20% - 30% số người lớn
(tính từ 15 tuổi trở lên).
Theo số liệu của Tổng cục thống kê cung cấp (www.gso.gov.vn)
tại 11 tỉnh thành có dịch tiêu chảy, tổng dân số là 22 535 500.
V́ không có phân loại theo tuổi chúng tôi sử dụng
ước tính của dân số TP HCM, có khoảng 24% dân số dưới 15
tuổi. Do vậy con số ước tính dân số 15 tuổi trở lên tại 11 tỉnh
thành này là 17 126 980 người.
V́ hiện có tất cả 1097 người mắc bệnh nên con số không mắc bệnh
sẽ là 17 125 883 người.
Do đó chúng ta dễ dàng suy ra có khoảng 3 424 518 người có ăn
mắm tôm mà không mắc bệnh tiêu chảy, tính theo tỷ lệ 20% ăn mắm
tôm và có 5 137 216 người ăn mắm tôm mà không mắc bệnh tiêu chảy
cấp, tính theo tỷ lệ 30%. Hay ngắn gọn, tại thời điểm này, tính
trên toàn dân số từ 15 tuổi trở lên có khoảng 3-5 triệu người có
ăn mắm tôm mà không bị tiêu chảy.
Để trả lời câu hỏi tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy do ăn mắm tôm là
bao nhiêu, rất đơn giản là có khoảng 17 đến 26 người trên 100
000 dân.
Nếu dựa vào cách tính toán trên th́ câu phát biểu: “cả họ cả
tổng ăn mắm tôm mà có bị sao đâu” của một bà nông dân sản xuất
mắm tôm quả có lư!
Sáng hôm nay,
8/11/07, trong một trả lời phỏng vấn của
Tuổi trẻ, ông Thứ trưởng Y tế Trịnh Quân Huấn lại có một
thông tin khác. Phóng viên hỏi: “Thưa
ông, các xét nghiệm vừa qua cho thấy nhiều mẫu mắm tôm âm tính
với vi khuẩn, việc chống dịch có đi... nhầm đường không?
Thứ trưởng Trịnh Quân Huấn:
“Chúng tôi đă đi đúng hướng. Thời điểm
đầu tiên, 100% bệnh nhân có ăn mắm tôm dương tính với bệnh,
nhưng nay nguồn bệnh đă lây lan sang nhiều thức ăn khác.”
Một trăm phần trăm (100%) bệnh nhân có ăn mắm tôm dương tính với
bệnh!!! Không biết con số dịch tễ học này ở đâu ra??? Như vậy
theo ông Thứ trưởng, tính cho đến ngày hôm nay, chỉ có 1097
người trên 11 tỉnh có dịch bệnh ăn mắm tôm mà thôi. Thế báo
chí lại nói sai, là “dù dịch bệnh đă lan tràn mà các cữa hàng
thịt chó vẫn đầy mắm tôm, các chợ vẫn bán đầy mắm tôm”. Có ai ăn
đâu!
Thôi th́ chấp nhận câu nói chính xác ông Thứ trưởng muốn bày tỏ
là: “Trong số các bệnh nhân dương tính với bệnh (bệnh ǵ? Tả?),
th́ 100% họ đều ăn mắm tôm.
Nếu chấp nhận giả định này. Ta lại có một con số thống kê khác.
Câu hỏi đặt ra, có bao nhiêu người ăn mắm tôm sẽ bị mắc bệnh Tả
được xác định bằng xét nghiệm?
Trong số 1097 người bị bệnh tiêu chảy cấp th́ có 15% dương tính
với Tả th́ sẽ có 165 bệnh nhân bị bệnh Tả được xác định bằng xét
nghiệm. Và dĩ nhiên là có 165 người này đều ăn mắm tôm (100%).
Lại lấy phép tính trên, dễ dàng suy ra là chỉ có 3-5
người/100 000 người dân ăn mắm tôm bị bệnh Tả khi làm xét nghiệm
dương tính mà thôi (tính trên tỷ lệ của 11 tỉnh có 20 đến
30% dân số ăn mắm tôm).
Như vậy lập luận rút ra từ con số chỉ v́ có 70-80% hay thậm chí
100% bệnh nhân bị tiêu chảy do ăn mắm tôm mà phải đi tiêu huỷ
mắm tôm “để nhằm cắt đứt đường lây lan bệnh tiêu chảy cấp nguy
hiểm” (VNExpress)
rơ ràng là cực kỳ bất hợp lư, nếu dựa theo các tính toán này.
Nhưng kỳ thực mắm tôm cũng chỉ có thể là một yếu tố nguy cơ
trong quá tŕnh kích phát mầm bệnh mà thôi, cũng giống như nhiều
yếu tố nguy cơ khác từ các loại thức ăn hoặc nguồn nước sinh
hoạt ô nhiễm khác mà thôi chứ không phải là nguyên nhân. Không
có mối quan hệ nhân-quả nào trong mắt xích ‘yếu tố nguy cơ và
bệnh tiêu chảy do vi khuẩn Tả hay các vi khuẩn khác’, mà nguyên
nhân phải là vi khuẩn Tả hay một tác nhân vi sinh học nào khác.
V́ thế, câu hỏi kế tiếp? Nguyên nhân tiêu chảy nào mà chúng
ta cần phải t́m ở trong mắm tôm? Cho đến nay giới chức y tế vẫn
không xác định đâu là nguyên nhân chính của dịch tiêu chảy cấp
mà chỉ nêu chung chung “dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm”, và mở
rộng thêm chỉ có 15% t́m thấy vi khuẩn Tả. (Nhưng đi t́m tác
nhân nào trong mắm tôm? Và quyết định cũng không ghi rơ)
Đành chấp nhận giả thuyết mới đó là vi khuẩn Tả, tại sao? V́
logic là chỉ có vi khuẩn Tả là vi khuẩn gây tiêu chảy cấp tính
nguy hiểm nhất ở người.
Chấp nhận 100% các bệnh nhân bị “dương tính với bệnh” theo ông
Thứ trưởng (Tả?), th́ trong số 165 bệnh nhân đó, các câu hỏi đặt
ra là:
Đă thu thập được 165 mẫu mắm tôm mà các bệnh nhân này đă sử dụng
hoặc đă mua từ một nguồn nào đó chưa?
Trong 165 mẫu đó, xét nghiệm có phân lập được vi khuẩn gây bệnh
là Tả có đặc tính sinh học giống hệt như mẫu vi khuẩn Tả phân
lập được ở mẫu bệnh phẩm của bệnh nhân hay không?
Ngoài mắm tôm ra, bệnh nhân c̣n sử dụng thức ăn nào khác, có xét
nghiệm được không?
Nguồn nước sinh hoạt xung quanh nơi bệnh nhân ở có t́m thấy mầm
bệnh không?
Có lẽ chúng ta chưa có câu trả lời lúc này.
Thế nhưng ông Thứ trưởng khẳng định
“Chúng tôi đă đi đúng hướng. Thời
điểm đầu tiên, 100% bệnh nhân có ăn mắm tôm dương tính với bệnh,
nhưng nay nguồn bệnh đă lây lan sang nhiều thức ăn khác.”
Lại tiếp tục tạm giả định luôn là mẫu mắm tôm của 165 bệnh nhân
Tả thu được, có vi khuẩn Tả (Thực tế th́ không có báo cáo nào
cho thấy mẫu mắm tôm đă xác định được sự hiện diện của vi khuẩn
Tả). Thế nhưng ông lại cho là nay nguồn bệnh đă lây sang nhiều
thức ăn khác. Đă lây sang nhiều thức ăn khác th́ trong quyết
định c̣n để “nhằm cắt đứt mắt xích đường lây là mắm tôm có chứa
mầm bệnh”, có cần thiết nữa không?
Lây sang các thức ăn khác là thức ăn nào? Làm sao biết được là
từ mắm tôm lây sang nguồn khác mà không phải nguồn khác lây vào
mắm tôm (nếu có)?
Nếu đă lây sang nhiều thức ăn khác th́ chỉ tập trung mỗi có mắm
tôm làm sao cắt được “mắt xích lây lan”?
Và nhiều nguồn thức ăn khác đó đă được kiểm tra và xét nghiệm
t́m mầm bệnh chưa?
Và nếu chúng ta tiếp tục chơi tṛ “ú tim” với con số và các nhận
định như thế này, chúng ta sẽ đi đến con đường vô định.
Câu hỏi quyết định: Liệu tiêu huỷ mắm tôm (và các thức ăn
khác nhiễm khuẩn) có cắt được đường lây lan mầm bệnh “tiêu chảy
nguy hiểm” hay không?
Đây lại là một câu hỏi dạng phương tŕnh có hai ẩn số mà chúng
ta chưa có một thông số cho trước nào. Cần ít nhất là phải biết
mầm bệnh gây tiêu chảy nguy hiểm là ǵ th́ mới có thể trả lời
được. Do đó câu hỏi này không thể trả lời được, và trở thành vô
nghĩa. Cho nên, cần phải chấp nhận một giả định nguyên nhân đó
là vi khuẩn Tả, lư do như đă nêu trên.
Và chúng ta cần phải quay về với đặc điểm dịch tễ học của bệnh
lư nhiễm trùng và lây lan của bệnh Tả.
Nguồn phát bệnh và nguồn lây lan bệnh của bệnh Tả
Nguồn phát bệnh
|

Click để phóng lớn |
|
Sơ đồ phát bệnh và lây lan dịch Tả.
- Thời gian đầu c̣n một số ca lẻ tẻ, điều tra dịch tễ
học nhằm mục đích xác định nguyên nhân gây bệnh. Cần t́m
kiếm từ các nguồn tiếp xúc đầu tiên (1). Khâu số (1) chỉ
có giá trị giúp chẩn đoán nguyên nhân.
- Một khi đă xác định được nguyên nhân Tả, th́ chắc chắn
đường lây truyền sẽ gián tiếp qua đường số (2). Cắt khâu
số (2) để ngăn nhiễm mới (là bao trùm luôn cả khâu 1).
- Đường tăng sinh, tăng phóng thích vi trùng Tả là qua
phân và chất nôn của bệnh nhân và người lành vào môi
trường làm ô nhiễm nguồn nước (3). Cắt khâu số (3) để
ngăn lây la. |
Về nguyên tắc căn bản của nghiên cứu dịch tễ học trong mùa bệnh
dịch, cụ thể đối với một dịch tiêu chảy cấp tính. Ngay từ những
ca đầu tiên, việc khai thác tiền sử ăn uống và tiếp xúc là điều
hết sức quan trọng để có thể phát hiện nơi xuất phát mầm bệnh.
Một trong những quy định về giám sát bệnh tiêu chảy cấp tính,
một khi có một bệnh nhân từ 5 tuổi trở lên có biểu hiện kiệt
nước nặng hoặc tử vong xảy ra sau một đợt tiêu chảy cấp tính th́
trường hợp đó cần được nghi ngờ là tiêu chảy do vi khuẩn Tả. V́
vi khuẩn Tả là vi khuẩn gây tiêu chảy cấp tính nguy hiểm nhất
cho bệnh nhân và cho cộng đồng (c̣n nguy hiểm th́ tác nhân gây
tiêu chảy nào cũng có thể gây nguy hiểm cả), và có thể lây lan
nhanh chóng qua nguồn nước, kể cả nước biển, sống rất dai trong
nguồn nước (không phải vi trùng nào cũng có đặc tính này).
Cho nên, giai đoạn đầu của vụ dịch, khi c̣n một số ca lẻ tẻ,
việc xác định nguồn phát bệnh tại điểm phát dịch đầu tiên là
quan trọng nhằm:
1-
Quan trọng nhất là để t́m nguyên nhân gây bệnh có phải
là Tả hay không.
2-
Để ngăn chận bớt các ca mắc bệnh đầu tiên.
Việc khai thác các yếu tố dịch tễ này bao gồm phải xác định ít
nhất trong ṿng 1 tuần lễ hay 10 ngày vừa qua (thời gian ủ bệnh
của Tả) đă đi những đâu, ăn uống những ǵ, đặc biệt hỏi các loại
thức ăn tươi sống, ăn ở đâu, có ăn cùng với ai.
Những yếu tố mấu chốt này sẽ giúp cho chúng ta khu trú và khoanh
vùng để có thể t́m dấu vết. Tất cả những thức ăn hoặc mẫu nghi
ngờ (nguồn nước sinh hoạt) quanh vùng bệnh nhân sinh hoạt phải
được xét nghiệm đặc hiệu để t́m vi khuẩn Tả.
Về phía bệnh nhân cũng phải được xét nghiệm t́m vi khuẩn Tả.
Như vậy sẽ có hai t́nh huống có thể thấy vi khuẩn Tả hoặc là
trong mẫu xét nghiệm lấy ở ngoài bệnh nhân hoặc trong phân bệnh
nhân.
Trường hợp thứ nhất, nếu thấy trong môi trường có vi khuẩn Tả,
cần phải xử lư khử khuẩn môi trường này để ngăn ngừa bớt trước
hết là mắc mới và sau đó là lây lan. Nguồn này bao gồm cả thức
ăn, thực phẩm bị nhiễm, và quan trọng hơn hết là môi trường, v́
mầm bệnh phải đến từ môi trường.
Trường hợp thứ hai, bệnh nhân xét nghiệm có Tả, nhưng không t́m
thấy trong môi trường.
Dù cả hai trường hợp th́ việc phát lệnh cấp tốc cho dân chúng
trong vùng đă t́m thấy mầm bệnh tả hoặc có bệnh nhân tả thực
hiện nghiêm ngặt (nhiều khi như một pháp lệnh) về việc rửa tay
sạch, ăn chín, uống sôi để tránh nhiễm thêm.
Mặt khác phải thanh tẩy nguồn nước trong vùng bị nhiễm và chất
thải bệnh nhân, cách ly triệt để bệnh nhân nhằm hạn chế việc lây
lan tác nhân Tả. tạo cơ hội tái nhiễm vào người khác, nơi khác.
Trong các ca bệnh đầu tiên đều tuân thủ theo nguyên tắc này,
nhưng cho đến khi bệnh dịch đă lây lan ra trong cộng đồng bệnh
nhân sinh sống và ngoài cộng đồng bệnh nhân sinh sống, có nghĩa
là có nhiều người đều bị bệnh tiêu chảy ồ ạt như bệnh nhân đă
được xác định dương tính với vi khuẩn Tả, th́ tất cả các bệnh
nhân này đều được coi là bị tiêu chảy do Tả và cần phải được
điều trị và quản lư như bệnh Tả mà không cần phải xét nghiệm.
Việc xét nghiệm lúc đó chỉ thực hiện trên một tỷ lệ nào đó để
giám sát dịch.
Nguồn lây lan bệnh
Đối với Tả, việc phát bệnh có thể do ngẫu nhiên, đối với một cơ
thể nào đó họ bị mẫn cảm nhanh hơn với tác nhân, họ bị nhiễm vi
trùng tả, chứ không phải ai nhiễm vi trùng Tả cũng phát bệnh.
Khi vào cơ thể họ, vi trùng Tả nhân lên rất nhanh, rất nhiều,
đạt đến con số mắc bệnh rồi th́ người đó mới mắc. Với mật độ vi
trùng tả đă được nhân lên rất rất nhiều lần trong cơ thể bệnh
nhân rồi phóng xuất ra ngoài môi trường trở thành nguồn phát tán
mới có khả năng trở thành dịch. Nói cách khác, cơ thể của
bệnh nhân mắc bệnh Tả là nhà máy sản xuất vi trùng Tả để lây
lan, chứ không phải mầm bệnh ban đầu, nơi xuất phát bệnh nguyên
thuỷ ban đầu.
Do đó một khi bệnh đă lây lan ra cộng đồng xung quanh, số lượng
vi trùng tả đó đă được phóng thích ra từ những bệnh nhân và
nghiêm trọng hơn là chất thải của những người nhiễm vi trùng Tả
mà không có biểu hiện bênh, con số này được ước tính là 75%. Nếu
tính một cách ngây thơ (naïve), th́ với 1097 người mắc tiêu chảy
cấp tính hiện nay (bất luận xét nghiệm có dương tính với Tả hay
không) th́ chí ít cũng có hơn 1400 người đang mang mầm bệnh Tả
này mà không biết họ là ai.
Cho nên, một khi bệnh đă lây lan việc đi t́m ổ xuất phát mầm
bệnh ban đầu một khi dịch tiêu chảy do Tả đă lây lan là việc làm
không cần thiết và không có ư nghĩa nữa. Mà nguồn lây lan ban
đầu đó cũng có ǵ khác là các thức ăn sống chưa chế biến, chỉ
cần thực hiện ăn chín uống sôi là có thể ngăn được nhiễm.
Nói một cách nôm na, nguồn xuất phát bệnh ban đầu là một mồi
lửa, khi lửa mới cất lên, việc cắt nguồn phát lửa là quan trọng.
Nếu được th́ nguy cơ đám cháy lan sẽ ít hơn. Nhưng một khi đám
cháy đă lan rộng rồi, th́ phải t́m cách ngăn chận đám cháy, chứ
nỗ lực dập nguồn phát cháy làm ǵ nữa. Quy tŕnh nhiễm bệnh và
lây lan trong dịch Tả cũng giống như vậy.
Khi đó việc quản lư bệnh nhân; tẩy uế môi trường, nguồn nước
sinh hoạt; ban hành chế độ vệ sinh cá nhân nghiêm ngặt, đặc biệt
là chỉ ăn chin uống sôi (việc rửa tay sạch là một chế độ thường
quy, nhưng nhắc lại là thiết yếu) là mấu chốt quan trọng nhất
trong việc ngăn ngừa lây lan (mục 2 và 3 trên sơ đồ).
Việc đi t́m hiểu nguồn xuất phát bệnh chỉ thực hiện trở lại cho
những điểm dịch mới, xuất hiện những ca đầu tiên, lập lại chu
tŕnh rà soát dịch tễ học như trên. Cần phải tiến hành điều tra
dịch tể học nguồn lây trở lại bao gồm tất cả các thức ăn, nguồn
nước, nơi chốn mà bệnh nhân đă từng tiếp xúc (trong ṿng 10
ngày), nhằm để phát hiện ổ dịch mới, như các bước trên. Chứ
không thể lấy một yếu tố nguy cơ của một điểm dịch trước là mắm
tôm [nhưng thực sự chưa chứng minh được], đem nhân rộng và áp
dụng cho toàn quốc, đi xét nghiệm mắm tôm, để t́m thấy tiêu huỷ
nhằm cắt “mắt xích lây lan” là một việc làm gần như không đem
lại kết quả thiết thực.
Tóm lại, nguồn phát tán vi trùng Tả nguy hiểm nhất, sau khi
đă có bệnh nhân được xác định Tả chính là từ chất thải của bệnh
nhân và những người lành mang bệnh. Phương tiện để vận chuyển số
lượng bội vi trùng Tả đó đến để lây lan cho người khác, cộng
đồng khác, vùng địa dư khác đó chính là nước.
Dịch Tả là một bệnh lư gần như là một bệnh lư nhiễm trùng có thể
gây thành dịch và đại dịch nguy hiểm kinh điển và chúng ta hiểu
biết tương đối rơ. Dịch Tả tưởng chừng như đă lắng sâu trong
tiềm thức nhân loại, nhưng những thập niên cuối cùng của thế kỷ
XX, nó lại bùng lên nhiều nơi. Cho dù đặc điểm sinh học của
chúng có thay đổi như thế nào th́ cho đến nay đường mắc bệnh,
phóng thích mầm bệnh và phương thức lây lan không có ǵ thay
đổi, khoa học chưa t́m được thêm một cơ chế nào mới.
Chỉ có thanh tẩy nguồn nước sinh hoạt trong vùng dịch, quản lư
bệnh nhân và chất thải bệnh nhân là mới có thể ngăn chặn được
quá tŕnh lây lan. Điều này c̣n đặc biệt quan trọng khi nước ta
c̣n đang trong cơn băo lụt, một nguy cơ gần như lớn nhất cho
bệnh dịch Tả hoành hành. Cần phải giữ ǵn vệ sinh cá nhân, rửa
tay sạch sau khi đi vệ sinh, trước khi ăn, ăn chín uống sôi là
có thể giảm đi rất nhiều nguy cơ mắc bệnh. Một cộng đồng khác
cần phải bảo vệ đó là những người đang ở trong vùng băo lụt,
không có điều kiện ăn chín uống sôi, rửa tay sạch, kiểm soát
chất phóng uế; họ cần ǵ nếu không phải là vắc-xin?
Trong khi Bộ Y tế vẫn quán triệt trong mùa dịch tiêu chảy cấp
này là “Ăn chin. Uống sôi. Bàn tay sạch”. Khẩu hiệu đơn giản,
ngắn gọn này đă nói lên tất cả, với mắm tôm, chỉ cần nấu chín
là có thể sử dụng được, hà cớ ǵ phải đi t́m và tiêu huỷ mắm
tôm!
Tuy nhiên, quy tŕnh giám sát và kiểm soát dịch tễ học trên đây
là chỉ áp dụng cụ thể cho dịch tiêu chảy cấp do Tả, c̣n các
nguyên nhân khác nữa th́ chưa đề cập đến, có thể c̣n phải thêm
bớt tuỳ nguyên nhân. Đối với chúng ta hiện nay chỉ biết “mầm
bệnh gây tiêu chảy cấp nguy hiểm”, chứ chưa biết nguyên nhân là
ǵ cả!
Như vậy quyết định phải tiêu huỷ mắm tôm là nguồn chứa mầm bệnh
“tiêu chảy nguy hiểm” nhằm để cắt đứt nguồn lây lan mà ông Thứ
trưởng Trịnh Quân Huấn cho là “chúng tôi đă đi đúng hướng” liệu
có tính thuyết phục và có thể “nghiệm thu” được không?
08/11/2007
Nguyễn Đ́nh Nguyên |