|
Nhân chuyện dịch tả nhớ lại
John Snow
Nguyễn Văn Tuấn
Phát biểu trên báo
Pháp Luật TPHCM, viện
trưởng Viện vệ sinh dịch tễ trung ương, Tiến sĩ Nguyễn Trần Hiển
nói: “Tôi từng nhắc ông Triệu (Nguyễn Quốc Triệu, Bộ trưởng Bộ Y
tế - PV) bài học kinh điển của dịch tả trở thành bài giảng của y
văn thế giới: Vào cuối thế kỷ 17, dịch tả bùng phát ở Luân
Đôn, có quá nhiều người chết mà không rơ nguyên nhân. Một bác sĩ
đă chấm vị trí những người chết lên bản đồ thành phố Luân Đôn và
phát hiện ra họ sống quanh một ṿi nước. Trong khi ṿi nước khác
lại không có người chết. Từ đó, vị bác sĩ phát hiện thêm rằng
các ṿi nước ở đây do hai công ty cung cấp: một lấy đầu nguồn
sông Thames, một lấy cuối nguồn sông. Ṿi nước có nhiều người
chết được lấy từ cuối ḍng sông Thames.”
Thật ra thời điểm dịch tả mà ông viện trưởng đề cập đến không
phải xảy ra vào thế kỉ 17 mà thế kỉ 19. Nói chính xác hơn,
có ba đợt dịch tả xảy ra ở London: 1831-1832, 1848-1849, và
1853-1854.
Vị bác sĩ mà ông viện trưởng nhắc đến là John Snow.
Các bạn nào từng theo học môn dịch tễ học trong những năm làm
“nghề” học tṛ trong các trường y chắc phải biết đến cái tên
John Snow. Ông là ai? Có liên quan ǵ đến câu chuyện
bệnh tả mà chúng ta đang thảo luận? Bài viết ngắn này nhắc
lại thân thế và sự nghiệp của ông cũng như một số bài học mà tôi
thấy chúng ta cần phải học từ ông và cách suy nghĩa của ông.
***
John Snow là một bác sĩ ngoại khoa, nhưng ngày nay, ông được xem
là ông tổ của bộ môn dịch tễ học hiện đại (modern epidemiology)
và gây mê (anesthetics). Ông sinh năm ngày 16/3/1813 ở
York (Anh) trong một gia đ́nh thuộc giai cấp lao động (cha ông
là một công nhân mỏ than), nhưng sau này khi khá lên gia đ́nh
ông bắt đầu mua được đất đai và trở thành địa chủ. Ngay từ
lúc c̣n bé, ông đă tỏ ra là một đứa trẻ ham học, có khiếu ghi
chép cẩn thận và tư chất thông minh, cho nên mẹ ông dùng tiền
thừa hưởng từ ông bà ngoại để gửi ông theo học tại một trường
tư. Trong trường học ông càng chứng tỏ trí thông minh của
ḿnh, lúc nào cũng dẫn đầu lớp học.
Từ nhỏ ông đă có mộng hành nghề thầy thuốc. Năm 14 tuổi, ông
được nhận vào học nghề (apprentice) với bác sĩ William
Hardcastle ở Newcastle-upon-Tyne. Trong thời gian học nghề, ông
ghi chép rất cẩn thận những ǵ ḿnh quan sát và viết ra những ư
tưởng liên quan đến khoa học và y khoa.
|
 |
|
Đây là ảnh của bác sĩ John Snow
chụp vào khoảng 1857 lúc ông tṛn 44 tuổi (trước khi ông
qua đời 1 năm). Đây là ảnh phổ biến nhất trong các sách
giáo khoa dịch tễ học và gây mê. Không rơ người chụp
ảnh là ai. |
Đối phó với
dịch tả lần 1: 1831-1832
Năm 1831 (tức năm ông 18 tuổi) một trận dịch tả xảy ra ở
London. Dịch này đă từng giết hàng trăm ngàn người ở Âu châu,
lan truyền sang miền Bắc và đến Newcastle-upon-Tyne vào tháng 10
cùng năm. Bác sĩ Hardcastle có quá nhiều bệnh nhân với bệnh tả
mà ông không thể nào phụ trách nổi, nên ông gửi Snow đến các mỏ
than để điều trị công nhân mỏ. Nhưng thời đó, Snow cũng chẳng
làm ǵ được nhiều, v́ liệu pháp điều trị chỉ quanh quẩn với
trích máu, thuốc nhuận tràng, thuốc phiện, bạc hà, và rượu mạnh
(cognac) và các liệu pháp này cũng chẳng giúp ích ǵ cho bệnh
nhân. Nhưng Snow vẫn điều trị bệnh nhân với các phương pháp “cổ
điển” này. Đến tháng 2 năm 1832 th́ nạn dịch chấm dứt một cách
bí mật. Dịch đến cũng như đi đều đột ngột và bí mật!
Trong thời gian 1833 – 1836 ông trở thành phụ tá (assistant) cho
các bác sĩ trong vùng Burnopfield và Pateley Bridge. Năm 1836,
ông ghi danh theo học trường y Hunterian ở London. Năm 1838,
ông được nhận vào thực tập trong bệnh viện Westminster và trở
thành hội viên của Royal College of Surgeons (hiệp hội của các
bác sĩ giải phẫu). Năm 1844, ông tốt nghiệp bác sĩ y khoa. Năm
1850, ông được kết nạp thành hội viên của Royal College of
Physicians (hiệp hội của các bác sĩ nội khoa).
John Snow suốt đời sống độc thân, không vợ, không con. Ông là
người ăn chay trường và không bao giờ uống rượu. Suốt đời ông
chỉ la cà trong các hội y khoa để bàn chuyện khoa học và thảo
luận về những ư tưởng của ông. Tuy vậy, ông là một người không
có khiếu nói trước công chúng, giọng th́ khàn khàn rất khó
nghe. Mặt khác, v́ ông xuất thân từ giai cấp lao động, nên ít
ai chú ư đến ư tưởng của ông, nếu không muốn nói là khinh miệt
ông ra mặt.
Ông suy nghĩ nhiều về các nguyên
nhân khả dĩ của bệnh tả, và đi đến kết luận rằng bệnh có thể
phát sinh từ các kí sinh vật vô h́nh. Thật ra, suy nghĩ này
cũng không phải là mới, nhưng vẫn được xem là phi chính thống
vào thời đó. Giả thuyết vi trùng (germ theory) này từng được đề
nghị từ thời Trung cổ, nhưng chẳng ai biết “sinh vật vô h́nh” đó
là ǵ, chẳng ai biết làm sao chứng minh sinh vật đó hiện hữu,
nên chẳng ai dám tin đó là giả thuyết đúng. Vào thời đó, đại đa
số giới y sĩ tin rằng nguyên nhân của bệnh tả là một loại “khí
độc” (miasma) nào đó xuất phát từ các cống rănh, đầm lầy, đống
rác, nghỉa trang, v.v…
Nhưng Snow cảm thấy “giả thuyết
khí độc” không thể giải thích được tại sao một số bệnh, kể cả
bệnh tả, có thể lan truyền. Trong nạn dịch năm 1831, ông để ư
đến các công nhân mỏ mắc bệnh tả trong khi làm việc dưới ḷng
đất, nơi không có cống rănh hay đầm lầy. Thành ra, ông càng
thấy giả thuyết kí sinh trùng của ḿnh mang tính thuyết phục hơn
giả thuyết ám khí.
Đối phó với dịch tả lần 2: 1848-1849
Tháng 9 năm 1848 (lúc đó ông đă
35 tuổi), một nạn dịch tả khác xảy ra ở London. Ông quyết tâm
truy t́m cho được nguồn gốc của trận dịch này cho đến nơi đến
chốn. Ông được biết nạn nhân đầu tiên, John Harnold, một người
buôn bán đường biển từ Hamburg đến London vào ngày 22/9/1848.
Khi đến London, Harnold mướn một căn hộ thuộc vùng Horsleydown,
nơi mà ông bị bệnh tả và chết vài ngày sau đó. Snow t́m hiểu
bệnh lí của Harnold qua nói chuyện với bác sĩ riêng của bệnh
nhân. Bác sĩ cho ông biết chỉ vài ngày sau khi Harnold qua đời,
Snow lại đi điều trị cho một người khác (tên là Blenkinsopp)
cũng ở ngay tại căn hộ mà Harnold từng ở, và bệnh nhân này cũng
qua đời sau 8 ngày mắc bệnh. Lúc này, Snow cảm thấy cái chết
thứ hai là bằng chứng ban đầu cho thấy bệnh tả có thể lan
truyền. Ông nghi rằng căn hộ đó chưa được làm sạch sau khi
Harnold qua đời và có thể một số kí sinh trùng con sống trong
chăn gối và lây bệnh cho nạn nhân thứ hai.
Khi càng ngày càng có nhiều bệnh
nhân, Snow chú ư rằng tất cả đều có những triệu chứng liên quan
đến đường tiêu hóa. Snow lí giải rằng đây là bằng chứng “chứng
minh” rằng bệnh bắt nguồn từ thức ăn bị nhiễm hay nguồn nước bị
nhiễm. Nếu bệnh nhân tiếp thu kí sinh trùng từ ám khí (như “giả
thuyết độc khí” ám chỉ) th́ triệu chứng đầu tiên ắt phải biểu
hiện qua mũi hay phổi – chứ đâu thể qua đường tiêu hóa. Ông bàn
với đồng nghiệp về giả thuyết kí sinh trùng nhưng chẳng ai lắng
nghe.
Tháng 8 năm 1849, nạn dịch tả
bước vào năm thứ hai. Snow cảm thấy ông phải chia sẻ giả thuyết
và bằng chứng của ông (mà ông cho là thuyết phục nhất) rằng bệnh
tả phát sinh là do nguồn nước bị nhiễm. Ông bỏ tiền túi để xuất
bản một cuốn sách nhỏ gồm 39 trang (thật ra là một tờ rơi,
leaflet) có tựa đề là “On the Mode of Communication of
Cholera” (Bàn về mô h́nh lan truyền của bệnh tả). Trong
sách, ông tŕnh bày nhiều số liệu thống kê và bằng chứng cá nhân
để biện minh và lí giải cho giả thuyết của ông. Ông mô tả một
trường hợp mà trong đó có hai dăy nhà đối diện nhau, một bên th́
có nhiều bệnh nhân bệnh tả, c̣n một bên th́ th́ chỉ có một bệnh
nhân, và khác biệt giữa hai dăy nhà này là họ sử dụng hai nguồn
nước khác nhau. Để tránh bị các đồng nghiệp tấn công giả thuyết
này, ông cẩn thận chọn chữ sao cho có vẻ phù hợp với niềm tin
đương thời. Ông viết rằng có một độc tố (dùng chữ “poison”) có
khả năng phát triển theo cấp số nhân trong hệ thống tiêu hóa của
bệnh nhân trước khi lan truyền sang các nạn nhân khác qua đường
nước hay thức ăn bị nhiễm trùng.
Nhưng cuốn sách của ông chẳng
gây ảnh hưởng ǵ đáng kể. Thậm chí có người c̣n giễu cợt giả
thuyết của ông. Tuy nhiên, một bài tổng quan y văn trên tập san
London Medical Journal xuất bản vào tháng 9/1849 khen
Snow rằng ông đă có công cố làm sáng tỏ một vấn đề bí ẩn của
bệnh tả, nhưng người viết bài này c̣n “phang” một câu “các
nguyên nhân khác, bất kể là nước hay thức ăn, có thể là nguyên
nhân chính " và rằng " bác sĩ Snow chưa cung cấp đủ bằng
chứng để yểm trợ cho quan điểm của ông."
Trong thời gian tính cuối năm
1849 đến cuối năm 1853, có ít ca bệnh tả được báo cáo. Tuy
nhiên, Snow vẫn kiên tŕ theo đuổi giả thuyết rằng nước là nguồn
lây lan bệnh tả. Trong thời gian này, ông thu thập số liệu
trong trận dịch 1848-49 và cho thấy một xu hướng rơ ràng rằng
bệnh có thể truy t́m từ các nguồn cung cấp nước trong thành
phố.
|
Số liệu liên quan đến
bệnh tả do John Snow thu thập tại London trong thời gian
8/1853 – 1/1854.
|
|
Quận (district) |
Công ti cung cấp nước |
Số hộ trong vùng |
Số người chết v́ bệnh
tả |
Tỉ lệ tính trên 1000
hộ |
|
1 |
Southwark & Vauxhall |
40.046 |
1.263 |
315 |
|
2 |
Lambeth |
26.107 |
98 |
37 |
|
3 |
Cả hai công ti |
256.423 |
1.422 |
59 |
|
Nguồn: Trích từ cuốn “On
the Mode of Communication of Cholera, Second
Edition, 1854” của John Snow. Cuốn này tái xuất bản vào
năm 1936. Trong sách ông mô tả bảng số liệu này như
sau: "Dựa vào số liệu tử vong trong thời gian 8/1853 đến
1/1854 của Nha Đăng Bạ tôi đă cộng tất cả số tử vong xảy
ra trong các quận phía nam sông Thames, nơi mà nước được
công ti Southwark & Vauxhall và Lambeth cung cấp. Tôi
tŕnh bày các số liệu này trong bảng ... sắp xếp theo ba
nhóm...." |
Trong thời gia này ông c̣n tiếp
tục theo đuổi các nghiên cứu về ảnh hưởng và tác dụng của ether
và chloroform cho gây mê. Tuy các đồng nghiệp ông đều không tin
vào giả thuyết kí sinh trùng và bệnh tả của ông, nhưng họ đều ấn
tượng với các nghiên cứu về gây mê. Ngày 7/4/1853 ông sử dụng
chloroform để đở đẻ cho Nữ hoàng Victoria khi bà hạ sinh người
con thứ 8, đó là hoàng tử Leopold.
Dịch tả
lần 3: 1853-1854
Mùa hè năm 1853, dịch tả lại xảy ra ở ngoại ô London nơi ông làm
việc. Ông nghi rằng sự bộc phát của bệnh là do nguồn nước từ
sông Thames bị ô nhiễm. Ông truy t́m tất cả các hồ sơ từ các
quận lị chung quanh và phát hiện có hai công ti cung cấp nước.
Một công ti có tên là “Southwark & Vauxhall Water Company” lấy
nước từ một vùng dọc theo sông Thames, và nguồn này có nhiều
cống rănh bị ô nhiễm; một công ti khác, Lambeth Water Company,
lấy nước từ nguồn cách xa cống rănh. Snow quyết định so sánh tỉ
lệ tử vong ở khách hàng của hai công ti. Khi biết rằng cả hai
công ti đặt ống nước dưới đường lộ, ông thấy ḿnh có thề làm một
thí nghiệm mà ông cho là “ở qui mô vĩ đại nhất” (on the grandest
scale.) Bày tỏ sự hào hứng trước thí nghiệm này, ông viết trong
nhật kí:
“Có ít nhất là 300 ngàn người nam và nữ ở bất cứ độ tuổi nào
và nghành nghề nào, từ người quí tộc đến người nghèo khó, được
chia thành hai nhóm mà họ không thể chọn lựa, và, trong phần lớn
trường hợp, họ cũng không biết; một nhóm được cung cấp nước chứa
chất thải từ cống rănh, và một nhóm khác nhận nước tinh khiết”
Snow bắt đầu với 2 quận phía Nam London: quận Lambeth và
Kennington. Hai quận này từng ghi nhận 44 ca tử vong trước ngày
12/8. Nhưng xác định trong các ca này, ai từng nhận nước từ
công ti nào không phải là điều dễ dàng. Phần lớn cư dân không
biết nguồn nước họ đă sử dụng. Snow quyết định làm một việc mà
ngày nay chúng ta gọi là “field work” (điền giả): ông ghé thăm
từng nhà để t́m hiểu, và qua đó ông xác định được 38
trong số 44 ca tử vong đă xảy ra trong các hộ do công ti
Southwark & Vauxhall cung cấp nước – công ti lấy nước từ nguồn
bị ô nhiễm.
Thế rồi, ông quyết định mở rộng cuộc điều tra dịch tễ học lịch
sử này. Nhưng một ḿnh không có khả năng làm, nên ông phải nhờ
sự giúp đỡ của bác sĩ Joseph J. Whiting để ghé phân nửa số hộ,
c̣n ông ghé phân nửa c̣n lại. Khi hai người ngồi xuống làm
thống kê, họ phát hiển rằng trong ṿng 4 tuần (8/7 đến 5/8) có
286 trong số 334 ca tử vong đă sử dụng nước của công ti
Southwark & Vauxhall, trong khi đó chỉ có 14 ca tử vong sử dụng
nước của ông ti Lambeth.
Snow thu thập số liệu về dân số của các quận, rồi tính toán, và
phát hiện rằng tỉ lệ tử vong từ khách hàng của công ti Southwark
& Vauxhall so với công ti Lambeth là 71:5. Với kết quả này,
Snow rất hào hứng v́ ông cho rằng đây là bằng chứng rất mạnh cho
thấy nguồn nước uống có ảnh hưởng lớn đến sự bộc phát của bệnh
tả.
Nhưng các đồng nghiệp ông vẫn chưa thấy thuyết phục! Họ vẫn cho
rằng bệnh tả là do “ám khí”, chứ không phải vi trùng hay nước bị
nhiễm, và họ thêm rằng dù cho có kí sinh trùng th́ cái sông
khổng lồ Thames làm loăng hết cả! Theo họ, nước chẳng có dính
dáng ǵ đến bệnh tả. Bác sĩ Edmund A. Parkes viết: "Mấy thứ
bằng chứng này không chứng minh rằng nước bị nhiễm." Thật ra,
theo tiêu chuẩn ngày nay, người ta đă phải hành động trước bằng
chứng của Snow, nhưng thời đó, niềm tin c̣n quan trọng hơn bằng
chứng thực tế.
Cuối tháng 8 năm 1853, bệnh dịch tả lại đột nhiên bộc phát tại
London, chỉ cách nhà của ông 5 phút đi bộ, và lần này càng
nghiêm trọng hơn các lần trước. Snow lập tức theo dơi. Dịch
bộc phát vào ngày Chủ Nhật 3/9, nhưng có lẽ đă xảy ra trước đó
vài ngày thứ Năm hay thứ Sáu. Đến khi ông ghé thăm láng giềng
th́ phần lớn những người mắc bệnh đă chết. Một lá cờ vàng được
treo trên đường Berwick để cảnh báo cư dân rằng bệnh tả đang tấn
công. Cư dân bỏ nhà lánh nạn, để mặc cho người chết được nhà
chức trách chở đi chôn bằng xe ngựa.
Chiều ngày Chủ Nhật, Snow lấy một mẫu nước từ cây nước công cộng
trên đường Broad v́ phần lớn các ca tử vong ở gần cây nước này.
Ông biết rằng các công ti cung cấp nước đến cây nước này lấy từ
nguồn nước sạch, nhưng ông nghi ngờ rằng giếng dưới cây nước có
thể bị nhiễm trùng từ đường cống chung quanh hay gần đó. Mẫu
nước có vẻ rất sạch (dù ông ḱ vọng rằng sẽ thấy nước bẩn). Để
so sánh, ông lấy các mẫu nước từ 4 cây nước gần đó trên đường
Warwick, Bridle, Vigo, Marlborough. Tất cả các mẫu nước đều
không có ǵ khác biệt đáng kể; tất cả đều có vẻ sạch sẽ.
Không đầu hàng, đến ngày kế tiếp, ông lại lấy mẫu nước từ cây
nước trên đường Broad và đem lại cho Tiến sĩ Arthur Hill
Hassall, một nhà khoa học có kính hiển vi, để “xét nghiệm”.
Tiến sĩ Hassall báo cáo rằng ông t́m thấy rất nhiều “vật hữu cơ”
trong nước, nhưng ông thêm rằng điều này không có ǵ quá bất
thường. Nói tóm lại, bằng chứng từ sinh học không thế cho phép
ông kết luận ǵ được. Thế là quay sang thống kê học. Ông thu
thập số liệu và bản đồ nơi các ca tử vong từng sinh sống và
nguồn nước họ sử dụng lúc c̣n sống.
Ngày hôm sau, ông ghé qua Nha Đăng Bộ (General Register Office)
nới ông sao chép hồ sơ của từng cá nhân trong số 83 ca tử vong.
Ông ghi tên họ, địa chỉ của từng ca tử vong. Ông quay lại
đường Broad, đi quanh các con đường mà nạn nhân từng sinh sống,
và tính toán khoảng cách từ nhà của từng nạn nhân đến cây nước
gần nhất. Ông phát hiện rằng 73 (trong số 83 nạn nhân) từng
sống trong các hộ gần cây nước đường Broad hơn là các cây nước
khác. Sau đó, ông ghé thăm nhà của 10 nạn nhân những người sống
gần cây nước, ông được biết 8/10 nạn nhân từng uống nước từ cây
nước trên đường Broad, một số thích uống nước từ cây nước đó và
trẻ em uống nước từ cây nước đo trên đường đi học.
Trong số 73 nạn nhân sống gần cây nước trên đường Broad, ông c̣n
biết rằng 61 người từng uống nước từ cây nước đó. Ông tính toán
rằng nếu những người sống gần cây nước đó có tỉ lệ tử vong tương
đương với tỉ lệ tử vong trong toàn thảnh phồ London, th́ con số
tử vong ḱ vọng (expected number of deaths) cho vùng chỉ 14. Do
đó, ông kết luận rằng con số tử vong thực tế xảy ra (73) cao hơn
con số ḱ vọng quá cao, và tử vong chắc chắn phải có liên quan
đến cây nước trên đường Broad.
|
 |
|
Bản
đồ chỉ các địa điểm chung quanh cây nước trên đường
Broad. Các dấu chấm là ca tử vong. Chỗ có chữ P và dấu
chấm lớn là cây nước định mệnh. John Snow thu thập bằng
chứng thống kê cho thấy tỉ lệ tử vong v́ bệnh tả cao
trong các hộ và cơ sở thương mại cách cây nước chỉ vài
phút đi bộ. Các điểm màu đen chỉ số nạn nhân chết v́
bệnh tả.
Nguồn:
Đại học York. |
Ngày Thứ Năm 6/9, Snow tham dự buổi họp phường, tŕnh bày bằng
chứng ông vừa thu thập được, và đề nghị tháo bỏ cái cán nước để
cư dân không uống nước được và tránh bị nhiễm trùng. Nhưng
chính quyền phường dù không cảm thấy thuyết phục trước bằng
chứng của ông, nhưng đồng ư tháo gở cán nước như là một biện
pháp pḥng ngừa.
Sau khi cán nước được tháo gở và trái chanh được đem ra sử dụng
phổ biến, nạn dịch tả nhanh chóng kết thúc.
|
|
|
Biểu đồ
cho thấy sau khi cán nước được tháo gở vào ngày
8/9/1854, số ca bệnh tả giảm và dịch tả nhanh chóng kết
thúc. [John Snow data.pdf] |
Điều tra
nguyên nhân dịch tả
V́ giới chức y tế lúc bấy giờ vẫn tin rằng ám khí là thủ phạm
của dịch tả, nên Sở Y tế London bổ nhiệm một số thanh tra y tế
để t́m hiểu điều khiện không khí trong các vùng dịch bộc phát.
Họ cũng kiểm tra t́nh trạng vệ sinh của từng hộ. Trong lúc đó,
một giả thuyết được đề ra trên tờ Times of London rằng
bệnh tả phát sinh từ những cống rănh mới xây: "Các cống rănh
mới xây chắc chắn làm nhiễu loạn đất thấm đẫm xác chết của những
nạn nhân trong nạn dịch 1665 ... một độc khí nguy hiểm bộc phát
. . . làm ô nhiễm bầu không khí chung quan." Với giả thuyết
này, các thanh tra y tế nghĩ là họ sẽ t́m được ám khi là thủ
phạm gây bệnh tả. Thế nhưng khi xem xét tất cả các hộ, họ ngạc
nhiên thấy nhà nào cũng sạch sẽ!
Trong cùng lúc, Snow tự ḿnh làm nghiên cứu. Ông phát hiện
nhiều bằng chứng thú vị:
·
Ông ghé thăm một quán cà phê gần cây nước trên
đường Broad, nơi chủ nhân cho biết bà thường hay lấy nước từ cây
nước đó để nấu nướng, và 9 khách hàng của bà đă qua đời.
·
Snow bắt đầu t́m thêm bằng chứng các hộ chung quan
thật sự có uống nước có thể không phải lấy từ cây nước trên
đường Broad. Ông phát hiện rằng các quán bia địa phương pha
nước với rượu để bán cho khách hàng, và nhiều hàng quán cho một
loại bột vào nước rồi bán dưới nhăn hiệu "nước giải khát."
·
Snow c̣n biết rằng 18 người trong số 200 công nhân
tại một hăng làm mũ chết, và hăng này lấy nước từ cây nước trên
đường Broad cho công nhân uống. Tại một cửa hàng bán đồ làm
răng tất cả 7 công nhân viên đều chết sau khi uống nước từ cây
nước trên đường Broad.
·
Chưa hài ḷng với các bằng chứng trên, ông c̣n
truy t́m những người đă di dời khỏi khu bị bệnh tả trong những
ngày đầu bệnh bộc phát, và thu thập tên họ, địa chỉ của nạn nhân
đă qua đời tại các bệnh viện ngoài vùng ảnh hưởng. Khi ông ngồi
xuống và tính toán, ông phát hiện rằng thay v́ 83 ca tử vong lúc
đầu ông biết, con số thật là 197 ca tử vong, tất cả đều xảy ra ở
những hộ cách cây nước trên đường Broad chỉ 3 phút đi bộ.
·
Snow c̣n thu thập số liệu và bằng chứng về các ca
tử vong thoạt đầu không có dính dáng ǵ đến nạn dịch. Ông được
biết từ một đồng nghiệp, bác sĩ David Fraser (một quan chức
trong Sơ Y tế London), rằng một phụ nữ qua đời nhưng sống cách
cây nước trên đường Broad Street vài cây số cũng có liên quan
đến cây nước đó v́ lúc sinh thời bà đ̣i uống nước từ đó mỗi
ngày. Cô cháu gái ghé thăm bà cũng uống nước từ cây nước đó,
ngă bệnh, và qua đời vài ngày sau khi ghé thăm bà.
·
Snow rất ṭ ṃ về mật độ dân số tại những vùng có
ít ca bệnh tả. Ông phát hiện trong một trại cải tạo chỉ có 5
trong số 535 người chết, một tỉ lệ khá thấp so với các nhà chung
quanh. Các quan chức y tế dựa vào “giả thuyết ám khí” cũng thú
nhận là họ ḱ vọng tỉ lệ tử vong trong trại cải tạo phải cao hơn
ngoài cộng đồng bởi v́ trại thường thiếu vệ sinh, thiếu dinh
dưỡng, và các phức tạp khác – và theo giả thuyết của họ, người
trong trại phải có nguy cơ bị bệnh và tử vong cao hơn trung
b́nh. Tuy nhiên, Snow t́m hiểu thêm và biết rằng trong trại họ
có một cây nước riêng và không dùng nước từ cây nước trên đường
Broad.
Các quan chức y tế cũng ḱ vọng rằng tỉ lệ tử vong phải cao ở
hăng bia Lion Brewery nơi công nhân uống bia hàng ngày – v́ họ
cho rằng uống bia rượu có liên quan đến bệnh tả. Thật ra, không
một công nhân nào trong hăng (gồm 70 công nhân) tử vong. Snow
biết thêm rằng họ chỉ uống bia và không bao giờ đụng đến cây
nước trên trên đường Broad.
Ngày 25/9 các thanh tra y tế kiểm tra gạch xây giếng phía dưới
cây nước trên đường Broad và chắc chắn rằng không có dấu hiệu
nào khả nghi; nước không thể thoát đi được hay nước từ ngoài
không thể thâm nhập được. C̣n cống rănh th́ cách xa đó cả chục
thước và sâu hơn giếng nước. Tất cả sự thật này có vẻ bác bỏ
giả thuyết của Snow. Hài ḷng với giếng nước và cây nước không
bị nhiễm, và nạn dịch cũng đă qua, Sở Y tế cho phép cây nước
hoạt động trở lại. Người dân bỏ nhà nay cũng quay về sinh
sống.
Hợp tác
với linh mục Whitehead
Tháng 11, Linh mục Henry Whitehead mời Snow tham gia vào ủy ban
giáo phận St. James để điều tra nguyên nhân của một nạn dịch mới
bộc phát. Snow rất vui ḷng tham gia vào dự án này. Linh mục
Whitehead dù không chấp nhận giả thuyết của Snow rằng nước là
nguồn gốc của dịch tả nhưng thích tính bộc trực và thành thật
của Snow cũng như phương pháp làm việc của ông.
Lúc đó, Snow đang hoàn tất bản in lần thứ 2 của cuốn sách “On
the Mode of Communication of Cholera”, và dù
không có bằng chứng thực thể về cây nước trên đường Broad bị ô
nhiễm, ông cảm thấy thuyết phục rằng cây nước chính là “thủ
phạm” của dịch tả. Ông khuyên ủy ban giáo phận yêu cầu Nha công
chánh (chịu trách nhiệm cây nước) tái kiểm tra phía trong của
giếng. Họ đồng ư kiểm tra và báo cáo rằng "không có lỗ hổng nào
hay đường nức nào trong giếng để nước có thể bị thất thoát hay ô
nhiễm." Trước bằng chứng này, Snow đành phải thú nhận trong
sách của ông là không có bằng chứng trực tiếp về cây nước trên
đường Broad bị ô nhiễm.
Sau khi sách của ông được tái xuất bản, ông phân phối sách cho
từng hội viên của ủy bản giáo phận. Linh mục Whitehead đọc sách
và thấy ấn tượng với các bằng chứng thống kê của Snow, nhưng v́
không có bằng chứng nào cho thấy cây nước bị nhiễm nên ông cũng
không tin vào giả thuyết của Snow. Linh mục lí giải rằng nếu
giả thuyết của Snow đúng, th́ dịch tả ắt phải c̣n kéo dài chứ
không thể đột ngột chấm dứt như thế. Tuy không thấy thuyết phục
với giả thuyết của Snow, linh mục đồng ư giúp đỡ Snow đi t́m câu
trả lời cho một “vấn đề bí ẩn”.
|
 |
 |
|
Ảnh
bên trái: Đường Broad, vào khoảng 1850. Ảnh cho thấy
cây nước lịch sử trước nhà số 40. Ảnh bên phải là cây
nước lịch sử được phóng lớn, h́nh chụp phía trước Viện
bảo tàng John Snow ở London. Nguồn: UCLA |
Tháng 3 năm 1855, linh mục Whitehead đọc các báo cáo từ Sở Đăng
Bạ về t́nh trạng dịch tả từ tuần 3/9/1854 và ông thấy có một
thông tin quan trọng: Tại số 40 đường Broad, vào ngày 2/9, một
trẻ gái 5 tháng tuổi chết v́ tiêu chảy sau khi mắc bệnh 4 ngày.
Whitehead nhớ ca này, nhưng không t́m hiểu thêm ngày mà bé bị
bệnh. Bây giờ th́ ông nhận ra rằng nếu đứa trẻ có triệu chứng
bệnh 4 ngày trước khi chết th́ bé có thể là trường hợp tả đầu
tiên trong khu láng giềng. Ông cũng nhận ra rằng cây nước trên
đường Broad nằm ngay tại trước nhà số 40.
Linh mục Whitehead lập tức ghé thăm Sarah Lewis, mẹ của đứa bé.
Bà mô tả đứa bé mắc bệnh ra sao, bà rửa sạch sẽ tả cho em trong
cái xô nước, và đổ nước xuống hầm chứa phân ngay trước nhà bà.
Whitehead ngạc nhiên khi biết rằng có một cái hầm phân ở đây.
Ông tưởng rằng tất cả các hầm phân trên con đường này đă được
thay thế bằng ống cống cả rồi. Hầm chứa phân mà bà Lewis sử
dụng chỉ cách cây nước đường Broad và giếng nước vài bước. Linh
mục thông báo cho các ủy viên của giáo phận biết, và Snow lập
tức chú ư đến tin này.
Ngày 23/4 các thanh tra y tế đến khai quật hầm phân, rút hết
nước, và xem xét phần nền của giếng nước. Thanh tra y tế khám
phá rằng gạch xây của giếng có dấu hiệu bị phân ră từ phía ngoài
(dù bên trong th́ vẫn không có dấu hiệu bị ảnh hưởng). Hầm chứa
phân được xây để chặn nước không bị tràn vào cống rănh. Tuy
nhiên, hầm được xây quá tồi, gạch không chặt, và khoảng cách từ
hầm phân bị rỉ ra và giếng nước của cây nước chỉ 0,8 m. Đất
giữa hầm phân và giiếng nước có dấu hiệu thấm và nhiễm. Hai
thanh tra trước không phát hiện điều này v́ họ không kiểm tra
đất phía ngoài giếng, và chẳng ai biết rằng có 1 hầm phân chỉ
cách đó vài thước!
Ngày mà xô nước được đổ vào hầm phân đúng và ngày đầu tiên dịch
bộc phát, khi phần lớn nạn nhân mắc bệnh. Sau khi đứa bé chết,
không có xố nước nào đổ vào phần hâm, và dịch tả chấm dứt. Thế
là Whitehead và Snow đă t́m ra “thủ phạm” của dịch tả: nguồn
nước. Ủy ban giáo hội báo cáo cho Sở Y tế, nhưng giám đốc
Sở Y tế bác bỏ kết luận của Whitehead và Snow!
Di sản dịch
tễ học của John Snow
Ngày 16/6/1858, John Snow bị tai biến và qua đời. Cho đến ngày
ông chết, giả thuyết của ông vẫn chưa được chấp nhận. Các quan
chức y tế vẫn tin rằng “ám khí” là nguyên nhân của dịch tả.
|
|
|
Mộ
của John Snow ở London. Trên bia mộ của ḍng chữ ghi
công của ông trong nỗ lực điều tra bệnh tả. Nguyên văn
bia mộ viết như sau: “TO JOHN SNOW, M.D., BORN AT YORK,
MARCH 15, 1818, DIED IN LONDON, JUNE 16TH, 1858. IN
REMEMBRANCE OF HIS GREAT LABOURS IN SCIENCE AND OF THE
EXCELLENCE OF HIS PRIVATE LIFE AND CHARACTER THIS
MONUMENT (WITH THE ASSENT OF MR. WILLIAM SNOW) HAS BEEN
ERECTED OVER HIS GRAVE BY HIS PROFESSIONAL BRETHREN AND
FRIENDS)”
Tạm
dịch:
“Cho John Snow, M.D., sinh tại York, ngày 15/3/1818, từ
trần ngày 16/6/1858 tại London. Để ghi nhớ nỗ lực vĩ đại
cho khoa học và xuất sắc trong đời sống riêng tư và nhân
cách. Bia này được dựng (với sự tán thành của ông
William Snow) trên mộ ông bởi các đồng nghiệp và bạn
hữu”.
Chú ư:
bia này viết sai ngày sinh của ông. Bia ghi là ngày
sinh là 15/3/1818, nhưng sự thật là ông sinh ngày
15/3/1813. |
John Snow qua đời mà không biết rằng đến năm 1854 một nhà giải
phẫu người Ư,
Fillipo
Pacini, dùng kính hiển vi và phát hiện vi khuẩn trong
vành ruột là nguyên nhân gây bệnh tả. Lúc đó, Pacini không biết
gọi vi khuẩn là ǵ, và cũng không chứng minh được rằng vi khuẩn
mà ông khám phá là nguyên nhân của bệnh tả. Do đó, công tŕnh
của ông trở nên lu mờ, và ngay cả báo cáo của ông cũng không
được dịch sang tiếng Anh.
Giả thuyết vi khuẩn gây bệnh tả chưa được chấp nhận cho đến thập
niên 1860s khi Louis Pasteur chứng minh bằng thí nghiệm rằng các
vi sinh vật có thể gây bệnh. Đến năm 1884, giả thuyết của John
Snow được minh chứng khi nhà vi sinh học người Đức, Robert Koch,
phát hiện vi khuẩn tả Vibrio cholerae.
|
 |
|
Vi khuẩn Vibrio Cholerea h́nh dấy phẩy. Nguồn: Từ điển
bách khoa
Britannica |
V́ những nỗ lực kiên tŕ của ông trong việc xác định nguồn gốc
bệnh tả và mô h́nh bệnh lan truyền cũng như phương pháp lí giải
thống kê của ông, John Snow được xem là cha đẻ của bộ môn dịch
tễ học hiện đại.
Những bài
học cho chúng ta
Cuộc đời và nhất là sự nghiệp của John Snow như vừa tŕnh bày
cung cấp cho các nhà dịch tễ học rất nhiều bài học trong công
việc pḥng chống bệnh tả ở nước ta. Theo tôi, có 5 bài học
chính qua theo dơi và t́m hiểu việc làm của ông tổ ngành dịch tễ
học này như sau:
Thứ nhất là cẩn thận trong suy luận. Dù nghi ngờ cây nước
trên đường Broad là “thủ phạm” gây dịch tả, nhưng ông vẫn phải
so sánh với các cây nước khác để t́m hiểu xem có sự khác biệt
nào về tỉ lệ tử vong giữa hai nhóm. Chẳng những thế, ông c̣n cố
công thu thập số liệu để so sánh tỉ lệ tử vong ở khách hàng của
hai công ti cung cấp nước. Đây là bài học quan trọng v́ suy
luận khoa học không thể chỉ dựa vào một nhóm bệnh nhân hay một
nhóm đối tượng được. Muốn có một bức tranh y tế công cộng chính
xác, khoa học cần hai nhóm: nhóm bệnh và nhóm chứng.
Bài học này quan trọng, bởi v́ trong vụ bộc phát bệnh tả ở nước
ta trong thời gian qua, các quan chức y tế chỉ tập trung vào một
nhóm duy nhất: đó là nhóm bệnh có tiền sử từng ăn mắm tôm. Từ
con số 93% bệnh nhân báo cáo rằng họ từng ăn mắm tôm, các quan
chức y tế qui kết mắm tôm là “thủ phạm số 1”, là “nguyên nhân”
gây bệnh! Suy luận này không theo một logic dịch tễ học nào, và
như chúng ta thấy đă sai lầm và gây tổn hại cho một thành phần
kinh tế trong xă hội.
Thứ hai là dựa vào bằng chứng khách quan. Y học thực chứng
(evidence-based medicine) đ̣i hỏi hoạch định các chính sách Y tế
công cộng phải dựa vào bằng chứng thực tế mang tính khoa học.
Trước khi học thuyết y học thực chứng ra đời, John Snow đă hành
động theo bằng chứng. (Chính v́ thế mà năm 2003 tạp chí
Hospital Doctors bầu ông là bác sĩ vĩ đại nhất trong mọi
thời đại, v́ ông đă đi trước thời đại!) Ông xây dựng giả thuyết
(cũng có thể nói là “lí thuyết”) dựa trên quan sát nguồn nước và
số cư dân sống chung quanh cây nước trên đường Broad.
Khác với các quan chức y tế nước ta chỉ vi hành ngắn và “thị
sát” t́nh h́nh bệnh tả, ông đích thân đi “điền dă” thăm
từng nhà, nói chuyện với chủ nhân từng hộ, thu thập cẩn
thận dữ liệu, vẽ bản đồ, phân tích số liệu và đi đến kết luận.
Tuy nhiên, khi bằng chứng thực tế không phù hợp với giả thuyết
của ông, ông cũng trung thực tŕnh bày rơ ràng trong sách mà
không hề tỏ ra lúng túng hay xấu hổ. Thật là một thái độ khoa
học đáng quí rất khó t́m ngày nay.
Thứ ba là thua thập số liệu chi tiết. Một bài học quan
trọng trong các nghiên cứu cá nhân của John Snow là ông thu thập
dữ liệu cực ḱ chi tiết. Sách ông ghi lại từng trường hợp tử
vong với các thông tin như tên họ, địa chỉ, nghề nghiệp, địa
điểm làm việc, và hàng loạt thông tin về cá nhân cũng như môi
trường. Chính các thông tin này giúp cho ông xây dựng một bảng
thống kê rất quí thời đó.
Điều này cũng rất tương phản với các quan chức y tế nước ta.
Tôi nhớ đến lúc đầu họ khẳng định mắm tôm là “thủ phạm sô 1” gây
bệnh, nhưng chúng ta không biết “ăn mắm tôm” có nghĩa là ǵ, và
họ thu thập thông tin đó ra sao. C̣n các yếu tố khác như nguồn
nước, thói quen ăn rau sống, vệ sinh và môi trường, v.v… chúng
ta cũng không được biết.
Thứ tư là công bố số liệu để đồng nghiệp kiểm tra. Khoa học
cần phải có phản nghiệm, và cách phản nghiệm hay nhất là công bố
số liệu để đồng nghiệp b́nh luận và phê phán. John Snow là một
tấm gương sáng chói về lĩnh vực này. Dù biết rằng giả thuyết
của ḿnh khó được đồng nghiệp chấp nhận, nhưng ông vẫn kiên tŕ
công bố số liệu để đồng nghiệp xem xét cẩn thận và phản biện.
Tôi
thấy đây là một bài học quan trọng cho các quan chức y tế nước
ta. Trong thời gian dịch bệnh bộc phát, các quan chức không
công bố số liệu cụ thể để đồng nghiệp xem xét. Thay vào đó, họ
chỉ lặp đi lặp lại con số 93% (có khi th́ 80%, khi khác 90%, lại
có khi 100%) bệnh nhân có tiền sử ăn mắm tôm mà không cho chúng
ta biết mẫu số là bao nhiêu. Họ cho chúng ta biết rằng họ đă
“nghiên cứu” về các yếu tố nguy cơ phát bệnh, nhưng chúng ta
cũng không có dữ liệu nào ngoài những câu chữ của họ. Thiết
tưởng, đó không phải là một thái độ khoa học.
Thứ năm là làm việc hợp tác. Trong quá tŕnh nghiên cứu
nguyên nhân bệnh tả, John Snow phải cộng tác với đồng nghiệp
trong nghề y và người ngoài nghề y. Thật vậy, chính linh mục
Whitehead mới là người giúp ông phát hiện nguồn nước chính là
“thủ phạm” gây nên nạn dịch tả ở Anh.
Ngày nay, hợp tác trong nghiên cứu khoa học không c̣n là cái ǵ
mới nữa, bởi v́ một dự án nghiên cứu lớn và phức tạp đ̣i hỏi
kiến thức chuyên môn từ nhiều ngành khác nhau. Trong điều tra
dịch tả, các chuyên gia như dịch tễ học, thống kê học, vi sinh
học, dân số học, và lâm sàng đóng vai tṛ rất quan trọng để đảm
bảo thành công của nghiên cứu. Đối chiếu với t́nh h́nh ở nước
ta, các hợp tác khoa học cũng có nhưng h́nh như chỉ giới hạn với
các nhóm thuộc Tổ chức Y tế Thế giới (thể hiện hiện tượng “Bụt ở
ngoài linh thiêng hơn”) và đó là một điều đáng tiếc. Đáng lẽ
hợp tác phải rộng răi hơn và đa ngành hơn. Một dự án nghiên cứu
lớn có nhiều dự án nhỏ và cần đến chuyên gia chuyên sâu để thực
hiện các dự án như thế.

Trong cuộc đời tương đối ngắn ngủi của ông, Snow để lại cho đời
82 bài báo khoa học. Danh sách các bài báo có thể tham khảo tại
trang nhà của
Đại học California Los Angeles.
Xem qua các bài báo này cộng với câu chuyện về cuộc đời và việc
làm của bác sĩ John Snow tôi thấy ông cho chúng ta nhiều bài học
vẫn c̣n mang tính thời sự ở nước ta. Để kết thúc bài này, tôi
mượn phát biểu của bác sĩ Gro Harlem Brundtland, cựu tổng giám
đốc Tổ chức Y tế Thế giới nói về sự nghiệp của Snow: “Trong lịch
sử y học, sự giao phối giữa khoa học và y tế là một hiện tượng
tương đối mới. Cách đây không lâu, dị đoan, bùa phép, và chiêm
tinh là những vũ khí duy nhất của tổ tiên chúng ta để chống trả
bệnh tật và dịch bệnh vốn đă ám ảnh thế giới. Thời xưa, bệnh và
dịch bệnh được xem là sự trừng phạt của thánh thần hay tác động
xấu của một thế lực nào trên trời … Chúng ta ghi ơn các nhà dịch
tễ học, vi trùng học và dược học như Louis Pasteur, Robert Koch,
John Snow, Alexander Fleming và Paul Erlich – và các khám
phá của họ đă uốn nắn y học hiện đại cũng như chính sách y tế
ngày nay. Họ cứu vớt nền văn minh của chúng ta ra khỏi thời tâm
tối, thời của những biến cố không tên thành những sự việc có tên
như bệnh dịch, bệnh tả hay giang mai.” (Diễn văn đọc năm 1998
tại WHO, Geneva).
Tài liệu
tham khảo: Phần lớn các dữ liệu về cuộc đời và các
nạn dịch đượclược dịch từ bài viết “Father of modern
epidemiology” của David Vachon trên Website:
http://www.ph.ucla.edu/epi/snow/fatherofepidemiology.html.
Các tài liệu khác th́ dựa vào
cuốn sách “The
Medical Detective: John Snow and the Mystery of Cholera” của
Sandra Hempel. Ngoài ra, tài liệu
Map-making and myth-making in
Broad Street: the London cholera epidemic, 1854.
The Lancet, Volume 356, Issue
9223, Pages 64-68 H. Brody, M. Rip, P. Vinten-Johansen, N.
Paneth, S. Rachman
|