|
Tản mạn:
Mắm tôm, nguyên nhân và hệ quả
Nguyễn Văn Tuấn
Bệnh tả và dịch tiêu chảy cấp tính coi như đă
được khống chế, nhưng các giới chức y tế vẫn chưa nhất trí
nguyên nhân bộc phát của bệnh. Ngay từ những ngày bệnh mới phát
sinh ở qui mô quần thể, các quan chức trong Bộ Y tế đă khẳng
định mắm tôm là một “thủ phạm”. Nhưng qua gần 4 tuần điều tra
và xét nghiệm mắm tôm được “minh oan”. Chiều ngày 21/11, Thứ
trưởng Bộ Y tế Trịnh Quân Huấn kết luận: “Thịt chó, mắm tôm
không phải là nguyên nhân gây bệnh trong vụ dịch này nữa. Mà
nguyên nhân là thực phẩm tươi sống, thực phẩm nguội và nguồn
nước đang bị ô nhiễm nặng nề”. (báo Pháp Luật TPHCM). Trước
đó một ngày, phát biểu trên báo chí Tiến sĩ Nguyễn Trần Hiển
cũng cho biết mắm tôm không phải là nguyên nhân gây bệnh tả: “Mắm
tôm không phải là nguyên nhân gây dịch bệnh tiêu chảy lần này.”
Tuy nhiên, phát biểu trên
Tuổi Trẻ, cục trưởng
Cục An toàn vệ sinh thực phẩm (Bộ Y tế), Tiến sĩ Trần Đáng khẳng
định ngược lại: “mắm tôm là thức ăn nguyên nhân, là nguồn
lây nhiễm bệnh trong giai đoạn đầu của vụ dịch tiêu chảy cấp
nguy hiểm ở miền Bắc từ cuối tháng mười đến cuối tháng mười một
vừa qua.” Theo ông cục trưởng, kết luận này dựa vào lời khai
của 61 bệnh nhân trước khi mắc bệnh đều có ăn mắm tôm.
Trước những tuyên bố đầy tính khẳng định của các
quan chức như trên, chúng ta biết tin ai? Bài viết này sẽ giải
thích thế nào là nguyên nhân, và thế nào là yếu tố nguy cơ của
bệnh, với hi vọng sẽ làm sáng tỏ và minh oan cho mắm tôm. Những
lí giải của tôi rất cơ bản, v́ đó là những sự thật trong sách
giáo khoa (mà tôi rất ngại viết ra v́ khá nhàm), và v́ thế, hi
vọng rằng trong tương lai chúng ta cũng không cần đến những lí
giải cơ bản này nữa khi bàn đến những vấn đề y tế công cộng mang
tính “đại sự”.
Trước khi bàn chuyện nghiêm chỉnh, tôi muốn chia sẻ
với các bạn một kinh nghiệm cá nhân (hôm nay là ngày cuối năm
rồi, chúng ta cần vài phút thư thái, nhẹ nhàng!) Hồi c̣n nhỏ,
tôi sống ở trong quê, và ở quê th́ không thể thiếu tiếng gà
gáy. Tiếng gà gáy thánh thót nhưng cũng có lúc năo nùng đó
người thành thị không thể nào cảm nhận được. Thử tưởng tượng:
mỗi sáng gà gáy ó o và vài giây hay phút sau đó mặt trời mọc.
Thời đó, trong sự tưởng tượng phong phú của trẻ thơ, tôi thầm
nghĩ con gà khiêm tốn như vậy mà lại “ngon lành”, có khả năng
điều khiển cả mặt trời! Con cóc nữa: mỗi lần nó nghiến răng là
có trời mưa, nên người ta hay nói “con cóc là cậu ông trời”.
Mấy con vật nhỏ nhoi như vậy nhưng xem ra có khả năng phi
thường!
Thời gian là người thầy tuyệt vời. Khi có dịp đọc sách triết
học và khoa học tôi mới thấy những nhận định của ḿnh lúc c̣n
trẻ thơ “có vấn đề”, v́ sự nhầm lẫn giữa nguyên nhân và hệ quả.
Khi theo học môn dịch tễ học, thầy tôi -- một ông giáo sư có
tuổi cực ḱ khó tính (chẳng bao giờ thấy ông cười) -- giảng thao
thao bất tuyệt về những nhầm lẫn về hai thuật ngữ “causation” và
“association” với những ví dụ chỉ có thể nói là cười ra nước mắt
(nhưng ông không cười). Chẳng hạn như ông đưa ra ví dụ trong
thời thế chiến thứ II, giới quân sự chú ư rằng các phi công
chiến đấu cơ thường bắn không chính xác khi bầu trời sáng
sủa; hay qua phân tích thống kê giới xă hội học nhận thấy khi
phụ nữ trẻ mặc quần áo ngắn (tươi mát) là lúc t́nh h́nh kinh tế
đang phát triển, và ngược lại khi phụ nữ mặc đồ dài thùy mị là
lúc kinh tế có xu hướng xuống dốc; v.v… Các ví dụ trên cho thấy
trời trong sáng không phải là nguyên nhân của sự thiếu chính xác
khi bỏ bom, bởi v́ vào lúc đó phi cơ đối phương cũng bay lên tác
chiến và gây ra t́nh trạng nhiễu sóng dẫn đến sai sót mục tiêu.
Tương tự, kích thước quần áo của phụ nữ không phải là nguyên
nhân của phát triển (hay suy thoái) kinh tế, nhưng có thể kích
thước quần áo họ mặc là một “marker” phản ảnh gián tiếp t́nh
h́nh kinh tế: trong thời ḱ kinh tế khó khăn, phụ nữ khó kiếm
việc làm hơn đàn ông, và phải ở nhà chăm sóc con cái, nên thường
ăn mặc nghiêm chỉnh; và khi t́nh h́nh kinh tế phát triển, họ
không cần đến sự hỗ trợ kinh tế của đàn ông (v́ họ cũng t́m được
việc làm dễ dàng), nhưng họ khó t́m chồng, nên họ cần phải có
cách thu hút đàn ông qua ăn mặc củn cỡn một chút.
Bài học quan trọng qua các ví dụ trên là: cần phải
phân biệt mối quan hệ nhân quả (cause-effect relationship) và
mối liên quan (association). Gà gáy không phải là nguyên nhân
làm cho mặt trời mọc và cóc nghiến răng không phải là nguyên
nhân làm cho trời đổ cơn mưa; chúng ta do đó chỉ có thể nói có
sự liên quan giữa gà gáy và mặt trời mọc, hay giữa cóc
nghiến răng và trời mưa. Tương tự, nếu chúng ta thấy phần lớn
những người mắc bệnh tả từng ăn mắm tôm, điều đó không có nghĩa
rằng mắm tôm là nguyên nhân bệnh tả, mà chỉ có thể phát
biểu rằng có mối liên quan giữa hai sự kiện.
Nguyên nhân
Chính v́ thế mà tôi cảm thấy phân vân với hai chữ
“nguyên nhân” gắn ghép với mắm tôm trong câu phát biểu của ông
cục trưởng ... Ở đây, tôi sẽ không bàn đến cách hiểu “nguyên
nhân” của những triết gia v́ như thế sẽ làm cho câu chuyện thêm
rối rắm. Chúng ta biết rằng mối liên hệ giữa nguyên nhân và hệ
quả (hay mối liên hệ “nhân quả”) đóng vai tṛ cực ḱ quan trọng
trong y khoa, bởi v́ biết được nguyên nhân của bệnh sẽ dẫn đến
điều trị hợp lí, và xác định sai nguyên nhân sẽ dẫn đến sai lầm
trong điều trị. Tương tự, đối với y tế cộng đồng, khẳng định
sai nguyên nhân có thể làm tác động (hay nói đúng hơn là tác
hại) đến nhiều người. Thành ra, xác định nguyên nhân trong y tế
công cộng đóng vai tṛ cực ḱ quan trọng cho việc hoạch định
chính sách y tế cho một quần thể.
Trong y học nói riêng, và khoa học nói chung, xác định nguyên
nhân một bệnh hay một sự kiện không phải là điều dễ dàng chút
nào, v́ nó đ̣i hỏi nghiên cứu nghiêm chỉnh và thời gian. Nói
một cách ngắn gọn, một vi khuẩn (hay một yếu tố sinh học) là
nguyên nhân gây bệnh nếu hội đủ 4 tiêu chuẩn (hay bốn bước) sau
đây:
·
thứ nhất, vi khuẩn đó phải tồn tại ở số lượng lớn
trong tất cả bệnh nhân, nhưng không tồn tại trong những
người không mắc bệnh;
·
thứ hai, vi khuẩn đó phải được tách ra từ cơ thể
bệnh nhân và có thể nuôi dưỡng trong môi trường thí nghiệm (mẻ
cấy vi khuẩn);
·
thứ ba, khi vi khuẩn nuôi trong môi trường thí
nghiệm cấy vào con người b́nh thường sẽ làm cho người đó mắc
bệnh; và
·
thứ tư, khi vi khuẩn cấy vào người và gây bệnh
được tách ra phải chính là vi khuẩn được tách ra ở bước 2 (tức
là khi cấy vào con người ở bước ba vi khuẩn không đột biến thay
đổi).
Dựa vào các tiêu chuẩn trên, vào thế kỉ 19, Robert Koch đă chứng
minh rằng V. cholerae chính là vi khuẩn gây bệnh tả. Ngày
nay chúng ta biết rằng tất cả những người mắc bệnh tả đều bị
nhiễm vi khuẩn, nhưng họ phải hấp thụ trên một triệu vi khuẩn
V. cholerae th́ triệu chứng và bệnh mới phát sinh.
Vi khuẩn tả có thể có mặt trong bất cứ thực phẩm
nào, nhất là các món ăn đồ biển, nhưng rất khó tồn tại trong mắm
tôm. Thật vậy, đă có khá nhiều nghiên cứu trên thế giới chỉ ra
rằng vi khuẩn tả có thể tồn tại và phát triển trong môi trường với
nồng độ muối từ 0,1% đến 4% (cỡ môi trường nước biển hay nước
lợ), nhưng không thể sống nổi trong môi trường mà nồng độ muối
trên 20-30% như trong mắm tôm. Ngoài ra, vi khuẩn tả không thể
tồn tại trong môi trường pH<3. Các nghiên cứu khoa học trong y
văn cũng cho biết chỉ cần khử trùng bằng một trái chanh, trong
ṿng 5 phút, 99,9% số vi khuẩn tả đều bị tiêu diệt; sau 2 giờ
khử trùng, không c̣n một vi khuẩn nào tồn tại.
Do đó, không ai ngạc nhiên khi thấy tất cả các mẫu mắm tôm trên
cả nước được đem đi xét nghiệm đều có kết quả âm tính với vi
khuẩn tả. Tính đến nay đă có 138 mẫu mắm tôm được xét nghiệm
(50 ở Hà Nội, 24 ở Thành phố Hồ Chí Minh, 32 mẫu ở Thanh Hóa, 35
mẫu ở Hải Pḥng, Hải Dương, và Nghệ An) và tất cả đều không hàm
chứa vi khuẩn tả.
Và, cũng không ngạc nhiên khi báo chí cho biết có
nhiều người không ăn mắm tôm nhưng cũng mắc bệnh tả và tiêu
chảy. Báo
Sài G̣n Tiếp Thị cho chúng ta biết một trường hợp rất
thú vị và có liên quan đến vấn đề chúng ta đang bàn như sau: “Ông
Nguyễn Xuân Mịch, 73 tuổi. Ông Mịch từ Thanh Tŕ, Hà Nội, xuống
Ninh B́nh ăn cỗ. Mâm cỗ có thịt chó, mắm tôm, nhưng ông Mịch
khai rằng ông là người duy nhất trong bàn ăn hôm đó không ăn mắm
tôm. Cho tới nay, những người ngồi cùng mâm và có ăn mắm tôm th́
không ai mắc dịch, trừ một người không ăn, ông Mịch.”
Do đó, tôi e rằng kết luận mắm tôm là nguyên nhân
của bệnh tả và tiêu chảy có phần quá dễ dăi, không phù hợp với y
văn thế giới, và cũng không phù hợp với bằng chứng thực tế.
Yếu tố nguy cơ
Nhưng sự thật (hăy cứ cho là “sự thật” = fact) rằng 61 bệnh nhân
từng có tiền sử ăn mắm tôm th́ phải được diễn giải như thế nào
đây? Bởi v́ mắm tôm, cho dù có pha loăng với nồng độ muối giảm
xuống c̣n 10-15% đi nữa th́ khả năng vi khuẩn sống sót rất
thấp. Mà, cho dù có vài vi khuẩn sống sót đi nữa,
th́ với một lát
chanh (thậm chí chỉ một trái cà chua), vi khuẩn cũng không
thể nào tồn tại được. Đó là lí do sinh học rất thực tế, c̣n về
mặt logic, sự thật "61 bệnh nhân từng có tiền
sử ăn mắm tôm" đó không cho phép chúng ta phát biểu ǵ về
nguyên nhân của bệnh tả cả. Thật là sai lầm nếu lí giải rằng
“v́ 100% bệnh nhân từng bị phơi nhiễm yếu tố X, suy ra X là
nguyên nhân của bệnh”. Bất cứ ai làm trong ngành loăng xương
đều biết rằng khoảng 90% bệnh nhân găy cổ xương đùi là do té,
nhưng không ai dám can đảm nói rằng té là nguyên nhân dẫn đến
găy cổ xương đùi, bởi v́ chỉ có 3-5% người té sẽ bị găy xương.
Do đó, số liệu mà chúng ta cần biết thêm là: trong số những
những người ăn mắm tôm, có bao nhiêu người mắc bệnh tả? (Câu
hỏi này dĩ nhiên là khác với câu hỏi trong số những người mắc
bệnh tả, có bao nhiêu người ăn mắm tôm).
Đến đây th́ chúng ta cần phải phân biệt hai khái niệm rất quan
trọng trong dịch tễ học và y khoa: nguyên nhân (cause) và yếu tố
nguy cơ (risk factor). Nguyên nhân là yếu tố sinh học trực tiếp
gây bệnh, như vi khuẩn V. cholerae gây bệnh tả. Yếu tố
nguy cơ là những yếu tố -- qua các cơ chế gián tiếp hay trực
tiếp -- làm tăng nguy cơ mắc bệnh của một cá nhân. Chẳng hạn
như nước bị ô nhiễm có thể là một yếu tố nguy cơ của bệnh tả v́
nước có thể hàm chứa vi khuẩn tả; nhưng nước không phải là
nguyên nhân gây bệnh tả bởi v́ không phải ai uống nước ô nhiễm
cũng đều mắc bệnh, họ chỉ có nguy cơ mắc bệnh cao hơn người
không uống nước ô nhiễm. Theo quan điểm của dịch tễ học, một
yếu tố nguy cơ được xem là nguyên nhân nếu hội đủ 5 điều kiện
sau đây:
·
mối liên hệ “yếu tố nguy cơ - bệnh” phải có cơ sở
sinh học;
·
phơi nhiễm yếu tố nguy cơ phải xảy ra trước khi
bệnh xảy ra;
·
người bị phơi nhiễm yếu tố nguy cơ càng cao có
nguy cơ mắc bệnh càng cao;
·
mối liên hệ phải được “chứng minh” trong nhiều
quần thể và nhiều nghiên cứu độc lập, chứ không phải chỉ một
quần thể hay một nghiên cứu; và
·
nếu can thiệp làm thay đổi mức độ phơi nhiễm yếu
tố nguy cơ làm thay đổi nguy cơ mắc bệnh.
Thông thường, các bệnh truyền nhiễm hay suy dinh dưỡng chỉ có
một nguyên nhân duy nhất. Chẳng hạn như nguyên nhân của bệnh tả
là vi khuẩn V. cholerae, bệnh lao là vi khuẩn
Mycobacterium tuberculosis, hay bệnh pellagra là do thiếu niacin. Nhưng sự bộc
phát của bệnh truyền nhiễm có thể có nhiều yếu tố nguy cơ. Thế
th́ câu hỏi đặt ra là yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh tả là
ǵ? Rất tiếc là cho đến nay, ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên
cứu về nguy cơ và qui mô bệnh dịch tả được công bố trên các diễn
đàn y học quốc tế, nên chúng ta chưa biết rơ các yếu tố nguy cơ
bệnh dịch tả ở nước ta là ǵ. Có khả năng có nghiên cứu công bố
trên các tập san ở trong nước nên thông tin chưa phổ biến ra
ngoài. Do đó, tôi dựa vào y văn nước ngoài để tŕnh bày trong
phần bàn về các yếu tố nguy cơ của bệnh dịch tả.
Kinh
nghiệm từ các vụ bộc phát bệnh tả tại một số nước trên thế giới
cung cấp cho chúng ta nhiều yếu tố nguy cơ đáng chú ư. Trong
thời gian 2001 đến 2004, bệnh dịch tả bộc phát ở tỉnh
Sistan-va-Baluchestan (Iran), và các nhà nghiên cứu Iran đă làm
một việc có ư nghĩa: họ tiến hành nghiên cứu dịch tễ học để hệ
thống hóa đặc điểm vùng bị nhiễm vi khuẩn và nhận dạng các yếu
tố nguy cơ. Qua kết quả phân tích dữ liệu, các yếu tố nguy cơ
được phát hiện bao gồm:
·
uống nước và bia từ các hàng quán bên lề đường;
·
không rửa tay sau khi đi tiêu hay đi tiểu;
·
không rửa tay trước khi ăn uống;
·
ăn thức ăn c̣n dư lại từ hôm trước; và
·
uống nước giếng / sông không đun sôi.
Ngoài ra, kết quả của họ c̣n cho thấy đàn ông có nguy cơ mắc
bệnh cao hơn phụ nữ đến 3,7 lần, và người mù chữ có nguy cơ mắc
bệnh cao hơn người biết chữ khoảng 6 lần. Năm 1997, bệnh dịch
tả bộc phát tại vài vùng ở Tanzania. Các nhà nghiên cứu tận
dụng “cơ hội” này để tiến hành một nghiên cứu dịch tễ học và kết
quả cung cấp cho chúng ta một số yếu tố nguy cơ có vẻ “gần” với
những đặc điểm sinh sống ở nước ta:
·
dự đám tang gần đây;
·
nhà có vách làm bằng bùn;
·
trần nhà không có tole hay ngói;
·
không có cầu tiêu / nhà xí trong nhà;
·
uống nước không đun sôi;
·
tắm sông;
·
ăn cá khô, tôm khô; và
·
ăn rau cải sống (không nấu chín).
Kết
quả trên một lần nữa cho thấy các yếu tố như nguồn nước uống,
nhà xí, tắm sông là những yếu tố rất quan trọng có liên quan đến
bệnh dịch tả. Chú ư trong danh sách “yếu tố nguy cơ” trên cũng
khá phù hợp với một bản tin gần đây trên báo
Tuổi Trẻ, mà theo đó,
“Tại tỉnh Hải Dương (mới phát hiện có người mắc bệnh khoảng
ba ngày nay) nhưng số bệnh nhân đă xấp xỉ 100 người, phần lớn
trong số này cùng ăn cỗ tại một đám tang, với các thực phẩm
truyền thống như thịt lợn, ḅ, gị chả.” Tất nhiên, dự đám
tang không phải là nguyên nhân, nhưng chỉ là một yếu tố nguy cơ
gián tiếp!
Và hệ quả …
Các lí giải trên tuy quan trọng, nhưng mang tính … hàn lâm. Hệ
quả thực tế c̣n đáng quan tâm hơn. Do những phán xét vội vă của
Bộ Y tế về mắm tôm trong thời gian qua, một bộ phận doanh nghiệp
mắm tôm đă bị tổn thất về kinh tế. Theo
Người lao động,
ngày 19/12, 13 tấn mắm tôm lấy từ Thành phố Hồ Chí Minh đă được
thiêu hủy. Điều đáng nói là việc làm này xảy ra sau khi các
quan chức của Bộ Y tế xác nhận mắm tôm không phải là nguyên nhân
gây bệnh tả. Điều đáng chú ư hơn nữa là các mẫu mắm tôm bị tịch
thu này đă được xét nghiệm, về kết quả không thấy có mầm bệnh.
Do đó, việc thiêu hủy số lượng lớn mắm tôm như thế chẳng những
không phù hợp với công văn của Bộ Y tế (trong đó có giải thích
rơ rằng thiêu hủy chỉ áp dụng đối với
sản phẩm mắm tôm đă được xác định ô nhiễm mầm bệnh, có liên quan
đến truyền bệnh), mà c̣n thiếu nhất quán với các kết luận mới
nhất của Bộ Y tế. Ai đứng ra bồi thường cho các doanh
nghiệp bị ảnh hưởng? Và, cũng không một lời xin lỗi từ bất cứ
một giới chức y tế nào.
Tưởng cần nhắc lại rằng trong y khoa, văn hóa xin lỗi đóng vai
tṛ rất quan trọng trong mối liên hệ giữa công chúng, bác sĩ và
giới chức y tế. Văn hóa xin lỗi đă được viết thành nhiều sách
và là chủ đề nghiên cứu của giới y khoa từ năm mươi năm qua.
Trong cuốn “Healing Words: The Power of Apology in Medicine”
(cuốn sách thành loại “sách gối đầu giường” của các quan chức y
tế bên Mĩ), hai tác giả bác sĩ Michael Woods và Jason Star cung
cấp cho chúng ta nhiều trường hợp và ví dụ về ảnh hưởng của hành
vi “xin lỗi” làm nền tảng cho văn hóa y khoa. Một lời xin lỗi
chẳng những hàn gắn mối liên hệ giữa các thành viên trong xă hội
(trong trường hợp này là giữa các quan chức y tế và công chúng),
nhưng c̣n nâng cao mối liên hệ đến một tầm cao hơn.
Xin lỗi, do đó, không chỉ là một cách hành xử văn minh mà c̣n là
một cách hành xử nhân văn rất cần thiết cho các quan chức và cơ
quan y tế của nhà nước cũng như tư nhân. Ở Sydney vài năm trước
đây, khi Bộ Y tế bang New South Wales do lỗi kĩ thuật để lộ hồ
sơ cá nhân của bác sĩ trên mạng, và dù chưa gây thiệt hại đến
ai, nhưng Bộ trưởng phải lên đài truyền h́nh, và qua báo chí
cũng như internet xin lỗi thành khẩn. Khi thủ tướng Úc bị cảnh
sát phạt v́ ông không đeo dây nịch ngồi trên xe ôtô (do tài xế
riêng của ông lái), nhưng ông cũng phải xin lỗi công chúng về sự
sai sót rất cá nhân đó, và giới báo chí b́nh luận rằng một lời
xin lỗi như thế làm cho quần chúng tin vào sự lănh đạo của ông
hơn.
Cần nghiên cứu và công bố quốc tế
Câu chuyện về sự bất đồng ư kiến về nguyên nhân bệnh tả làm tôi
nhớ đến câu chuyện bệnh tả bên Anh vào thế kỉ 19. Vào khoảng
giữa thế kỉ 19 ở London xảy ra ba nạn dịch tả với hàng chục ngàn
người chết (v́ lúc đó chưa có vắcxin chữa bệnh), các quan chức y
tế thành phố London một mực tin rằng nạn dịch bộc phát là do
“khí độc”. Bao nhiêu bằng chứng từ bác sĩ John Snow về mối liên
hệ giữa nguồn nước bị ô nhiễm và bệnh tả đều bị bỏ ngoài tai.
V́ tin vào giả thuyết khí độc, các quan chức y tế ra lệnh cho
cán bộ y tế đến từng hộ trong vùng bị ảnh hưởng dịch tả để xem
xét t́nh trạng vệ sinh, nhưng họ thấy tất cả các nhà đều sạch
sẽ! Măi đến khi bác sĩ John Snow đă qua đời vài năm, và qua sự
phát hiện vi khuẩn tả Vibrio cholerae chính là nguyên
nhân gây bệnh, các giới chức y tế Anh mới chịu công nhận giả
thuyết ám khí là sai và John Snow đă đúng.
Ngày nay, ở nước ta có người tin vào “giả thuyết mắm
tôm” để giải thích sự bộc phát của bệnh tả vào đầu tháng 10 vừa
qua. Ai cũng có thể đề ra (và tin vào) giả thuyết, nhưng một
giả thuyết chỉ mang tính khoa học nếu có dữ liệu khoa học làm cơ
sở cho phát biểu. Dữ liệu phải được thu thập một cách có hệ
thống từ những nghiên cứu lâm sàng, nghiên cứu dịch tễ học hay
nghiên cứu cơ bản, chứ không phải những dữ liệu được phát biểu
trên báo chí đại chúng mà không một chuyên gia nào có thể thẩm
định tính khoa học của nó. Tất cả những ư kiến cá nhân, cho dù
cá nhân là một giáo sư tiến sĩ, có giá trị khoa học thấp nhất
trong hệ thống y học thực chứng (evidence-based medicine).
Nh́n lại y văn quốc tế, chúng ta dễ dàng nhận thấy dù đă có
nhiều nạn dịch xảy ra ở nước ta trong quá khứ, nhưng dữ liệu từ
Việt Nam trong kho tàng y khoa quốc tế c̣n cực ḱ khiêm tốn. Đó
là hậu quả của văn hóa xuất bản (hay nói đúng hơn là “văn hóa
không công bố quốc tế”) mà một số nhà khoa học nước ta vẫn c̣n
quan niệm. V́ không có dữ liệu khoa học, chúng ta vẫn c̣n tranh
luận trong sự bất định và trong t́nh trạng thiếu thông tin.
T́nh trạng thiếu thông tin dẫn đến một số phán xét thiếu chính
xác, gây tổn thất cho một bộ phận doanh nghiệp, và làm suy giảm
niềm tin của công chúng vào hệ thống quản lí y tế và thực phẩm
của Nhà nước.
Trong y khoa xác định nguyên nhân bệnh là một việc làm rất khó
khăn, nhưng đối với y tế cộng đồng xác định nguyên nhân một sự
bộc phát bệnh càng khó khăn gấp bội. Điều này đúng, bởi v́
trong lâm sàng chúng ta đối phó với một bệnh nhân, nhưng trong y
tế cộng đồng chúng ta phải phân tích một quần thể, và quần thể
th́ lúc nào cũng phức tạp hơn một cá thể. Phân biệt được nguyên
nhân và yếu tố nguy cơ có thể giúp cho chúng ta tránh khỏi những
sai lầm trong chính sách y tế công cộng.
Như đă có lần
phát biểu trước đây, trong một môi
trường bất định của y học, chúng ta không thể loại bỏ những sai
sót, nhưng chỉ có thể tối thiểu hóa sai sót bằng cách lí giải và
áp dụng thông tin khoa học tốt hơn. Một cách xử lí sai sót sau
khi đă xảy ra là ứng dụng văn hóa xin lỗi trong y khoa. Chúng
ta vẫn nói “lời nói không mất tiền mua”, một lời xin lỗi về sai
lầm trong quá khứ chẳng những có ảnh hưởng tích cực đến tâm lí
và sự tin tưởng của công chúng đến cơ quan y tế, mà c̣n giúp
nâng cao mối liên hệ giữa các quan chức y tế và công chúng.
Upload
30 Jun 2008 |