Chất lượng nghiên cứu khoa
học ở Việt Nam qua chỉ số trích dẫn
Nguyễn Văn Tuấn
Nguyễn Đình Nguyên
Trên bình diện quốc gia, hai chỉ tiêu thường được sử dụng để
đánh giá năng suất khoa học của một nước là số lượng bài báo
khoa học được công bố trên các tập san khoa học quốc tế có hệ
thống bình duyệt (peer reviewed journals), và số lần trích dẫn
(citations) của những bài báo khoa học. Số lượng bài báo phản
ảnh “sản lượng” nghiên cứu khoa học và mức độ đóng góp vào tri
thức toàn cầu của một nước. Đánh giá chất lượng các công trình
nghiên cứu khoa học rất khó, vì cộng đồng khoa học vẫn chưa nhất
trí một chuẩn mực thống nhất cho tất cả các lĩnh vực nghiên
cứu. Tuy nhiên, hai chỉ số thường được sử dụng để ước định chất
lượng của một công trình nghiên cứu khoa học là hệ số ảnh hưởng
(còn gọi là impact factor), và số lần trích dẫn (citation
index). Theo định nghĩa được công nhận, hệ số ảnh hưởng là số
lần trích dẫn hay tham khảo trung bình các bài báo mà tạp chí đã
công bố hai năm trước [1]. Do đó, những công trình nghiên cứu
được công bố trên các tạp chí có hệ số ảnh hưởng cao cũng có thể
đồng nghĩa với chất lượng cao của công trình nghiên cứu. Chẳng
hạn như một nghiên cứu được công bố trên các tạp chí như
Science, Nature, Cell, PNAS, New England Journal of Medicine,
Lancet, v.v… chắc chắn phải có chất lượng cao hơn các nghiên
cứu công bố trên các tạp chí ở Á châu, Âu châu hay tạp chí
chuyên ngành ở Mĩ. Tuy nhiên, hệ số ảnh hưởng
của tạp chí cũng tùy thuộc vào bộ môn khoa học (chẳng hạn như
các tập san thuộc bộ môn khoa học thực nghiệm thường có hệ số
tác dụng cao hơn các tập san trong các ngành khoa học tự nhiên
và toán học).
Nhưng hệ số ảnh hưởng chỉ phản ánh uy tín của
tạp chí chứ không hẳn phản ảnh chất lượng của một bài báo cụ
thể. Vì thế, một cách đánh giá chất lượng khác công bằng hơn là
tính số lần các nhà khoa học khác trích dẫn bài báo mà nhà khoa
học đã công bố. Có thể nói ví von rằng số lần trích dẫn là âm
vang của một công trình nghiên cứu. Một công trình nghiên cứu
có chất lượng có khả năng gây ảnh hưởng trong chuyên ngành, và
được nhiều đồng nghiệp trên thế giới trích dẫn. Do đó, chỉ số
trích dẫn phản ảnh khá chính xác chất lượng một công trình
nghiên cứu khoa học.
Chỉ số ảnh hưởng và chỉ số trích dẫn có thật sự
phản ảnh chất lượng khoa học? Câu trả lời ngắn là "có". Một
nghiên cứu trong thập niên 1970s về tần số trích dẫn các nghiên
cứu công bố trước khi các nhà khoa học được trao giải Nobel cho
thấy tính trung bình, số lần trích dẫn là 62 (so với tần số
trung bình của tất cả các nhà khoa học là 6 lần). Do đó, dù có
vài biệt lệ và khiếm khuyết, số lần trích dẫn và hệ số ảnh hưởng
của tạp chí phản ảnh chất lượng nghiên cứu.
Liên quan đến Việt Nam, theo chúng
tôi biết vẫn chưa có một phân tích về chất lượng nghiên cứu khoa
học qua số lần trích dẫn một cách chi tiết và so sánh với các
nước khác trong vùng. Vì thế, chúng tôi tiến hành một phân tích
về chất lượng các báo cáo khoa học trên các tập san khoa học
quốc tế. Hai câu hỏi mà chúng tôi muốn tìm câu trả lời là: thứ
nhất, chất lượng nghiên cứu khoa học đang ở vị trí nào; và thứ
hai, có sự khác biệt gì giữa chất lượng nghiên cứu khoa học giữa
các bộ môn và giữa các công trình "nội lực" và hợp tác với đồng
nghiệp nước ngoài. Hi vọng qua kết quả trả lời hai câu hỏi
trên, các nhà chức trách có thể tìm cách để nâng cao chất lượng
nghiên cứu khoa học ở nước ta.
Trong bài viết này, chúng tôi sử
dụng hệ thống "Web of Science" của Viện thông tin khoa học
(Institute of Scientific Information) để thu thập tần số trích
dẫn cho từng bài báo từ Việt Nam được công bố trong thời gian
2000-2001. Chúng tôi chọn thời gian này vì hai lí do chính :
(a) một bài báo khi đã công bố đòi hỏi thời gian để cộng đồng
khoa học thẩm định và tham khảo, và qua kinh nghiệm, chúng tôi
chọn thời gian 5 năm sau công bố để tính số lần trích dẫn vì
thời gian 5 năm có thể nói là "đủ" để một công trình nghiên cứu
có khả năng gây tác động ; và (b) số lượng bài báo hàng năm từ
Việt Nam còn thấp (dao động khoảng 330 đến 350 bài), cho nên nếu
làm phân tích số bài báo trong vòng một năm e rằng không đủ số
liệu để phân tích theo chuyên ngành, và vì thế chúng tôi quyết
định chọn thời gian 2 năm để tăng số lượng bài báo và qua đó
tăng độ tin cậy thống kê của các ước số [2].
"Sản lượng" nghiên cứu khoa học
Trước khi trả lời hai câu hỏi trên,
chúng tôi điểm qua sản lượng nghiên cứu khoa học ở Việt Nam và
so sánh với các nước trong vùng. Để làm việc này, chúng tôi mở
rộng thời gian tham khảo đến 10 năm, tính từ 1996 đến 2005.
Trong thời gian 10 năm (1996–2005), có 3.456 bài báo khoa học
trên các tập san khoa học quốc tế xuất phát từ Việt Nam. Tính
trung bình, con số sản lượng khoa học của chúng tôi cũng phù hợp
với một phân tích trước đây của giáo sư Phạm Duy Hiển [3].
Con số sản lượng khoa học từ Việt Nam, khi so
sánh với các nước trong vùng, cho thấy công suất khoa học ở nước
ta thuộc vào hàng thấp nhất: chỉ bằng khoảng 1/5 số bài báo từ
Thái Lan (n = 14.594), 1/3 Mã Lai (n = 9742), 1/14 Singapore (n
= 45.633), và thấp hơn Nam Dương (n = 4.389) và Phi Luật Tân (n
= 3901).
Về lĩnh vực nghiên cứu,
Bảng 1 sau đây cho thấy một số xu hướng đáng chú ý giữa các
nước. Chẳng hạn như Thái Lan khá mạnh về lĩnh vực y sinh học
(số bài báo trong lĩnh vực này chiếm gần 43% tổng số bài báo
khoa học từ Thái Lan), trong khi đó Singapore thì mạnh về các
lĩnh vực kĩ thuật (chiếm 40% tổng số bài báo khoa học). Phi
Luật Tân là nước có nhiều bài báo về nông nghiệp (chiếm gần 29%
tổng số bài báo khoa học), tức gần gấp hai hay ba lần Việt Nam,
Nam Dương, Mã Lai hay Thái Lan.
Số lượng bài báo khoa học liên quan đến ngành
toán và vật lí từ Việt Nam chiếm gần một phần tư tổng số bài báo
khoa học, nhưng ở các nước như Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương và
Phi Luật Tân con số này chỉ dao động từ 0,5% đến 4%. Ngay cả ở
Singapore, các bài báo toán học và vật lí học cộng lại chỉ
khoảng 11%, chưa bằng tỉ lệ của một ngành toán ở Việt Nam. Các
kết quả này cho thấy ngành toán và vật lí là hai ngành "mạnh" ở
nước ta. Tuy nhiên, khi so sánh với các lĩnh vực khác trong
nước thì số lượng bài báo từ ngành y sinh học chiếm đến 24% (tức
gấp hai lần số bài về toán hay vật lí) tổng số bài báo khoa
học.
Mã Lai tuy rất khiêm tốn về toán,
nhưng tỉ lệ bài báo liên quan đến ngành kĩ thuật và hóa học thì
cao gần gấp hai tỉ lệ của Việt Nam và các nước trong vùng. Điều
đáng ngạc nhiên là công nghệ sinh học thuần túy còn rất khiêm
tốn ở trong vùng, với số lượng bài báo khoa học chỉ dao động
trong khoảng 1-4%.
|
Bảng 1.
Phần trăm các bài báo khoa học 1996-2005 tính cho
từng nước và phân chia theo lĩnh vực nghiên cứu
|
|
Lĩnh vực nghiên cứu |
Việt Nam |
Thái
Lan |
Mã
Lai |
Nam Dương |
Phi Luật Tân |
Singapore |
|
Y
sinh học |
24,3 |
42,8 |
22,4 |
29,5 |
25,0 |
16,6 |
|
Toán
|
11,0 |
0,8 |
2,3 |
0,5 |
2,1 |
3,8 |
|
Vật
lí |
12,9 |
1,5 |
2,0 |
4,4 |
2,1 |
6,8 |
|
Kĩ
thuật |
10,5 |
16,4 |
22,2 |
14,8 |
9,3 |
40,4 |
|
Nông
nghiệp |
12,6 |
9,2 |
10,0 |
14,7 |
28,7 |
0,9 |
|
Hóa
học |
12,9 |
13,6 |
20,0 |
13,0 |
5,0 |
11,9 |
|
Vật
liệu |
5,8 |
5,1 |
10,9 |
3,6 |
2,8 |
11,4 |
|
Môi
trường |
4,0 |
5,3 |
3,7 |
11,9 |
14,5 |
1,8 |
|
Kinh
tế |
2,5 |
1,2 |
2,5 |
4,0 |
3,5 |
3,4 |
|
Công
nghệ sinh học |
1,3 |
2,3 |
2,2 |
1,7 |
3,8 |
0,9 |
|
Khoa
học xã hội |
1,6 |
1,3 |
1,4 |
1,3 |
2,7 |
1,7 |
|
Tổng cộng |
100
(n=3456) |
100
(n=14594) |
100 (n=9742) |
100 (n=4389) |
100
(n=3901) |
100 (n=45633) |
|
Chú thích: Vì làm chẵn,
cho nên khi cộng lại tổng số có thể trên hay dưới
100%; n là tổng số bài báo trong thời gian
1996-2005. |
Nội lực và hợp tác. Một điều
đáng quan tâm hơn là phần lớn các nghiên cứu khoa học từ Việt
Nam còn phụ thuộc vào các “ngoại lực” quá nhiều. Theo một phân
tích trước đây của giáo sư Phạm Duy Hiển [2], có đến 75% các
công trình khoa học từ Việt Nam do đứng tên chung hoặc hợp tác
với các đồng nghiệp nước ngoài.
Trong phân tích này, chúng tôi ghi nhận khoảng
20% các bài báo công bố trong thời gian 2000-2001 là do nội lực
(tức không hợp tác với đồng nghiệp nước ngoài). Tuy nhiên tỉ lệ
nội lực dao động rất lớn giữa các ngành (Biểu đồ 1).
Chẳng hạn như trong ngành y sinh học, một ngành tương đối thế
mạnh và ổn định ở nước ta, trong số 164 bài báo được công bố
trên các tập san quốc tế, chỉ có 5 bài (3%) là do nội lực, nhưng
các ngành có tỉ lệ nội lực cao là toán (66%), kĩ thuật (~40%) và
kinh tế học (41%). Riêng 11 bài báo liên quan đến ngành công
nghệ sinh học, 100% là do hợp tác với nước ngoài. Chúng tôi
chưa có dữ liệu về các công trình nội lực và hợp tác cho các
nước trong vùng, nên chưa thể so sánh với nước ta.
 |
|
Biểu đồ 1. Phần trăm bài
báo hoàn toàn do nội lực. Ghi chú: YS=y sinh
học, KT=kĩ thuật, NN=nông nghiệp, VL=vật liệu,
MT=môi trường, KTế=kinh tế, CNSH=công nghệ sinh học,
KHXH=khoa học xã hội. |
Chất lượng nghiên cứu khoa học
So sánh chỉ số trích dẫn với các nước trong
vùng. Trong thời gian 2000-2001, có
675 bài báo khoa học từ Việt Nam được công bố trên các tập san
quốc tế. Tổng số lần trích dẫn trong thời gian 2001 đến 2006 là
6576 lần ; do đó, chỉ số trích dẫn trung bình là 9,74 lần cho
mỗi bài báo. So sánh với các nước trong vùng cho thấy chỉ số
trích dẫn các bài báo Việt Nam cao nhất so với Thái Lan (9,09),
Singapore (9,26), Nam Dương (9,47) và Phi Luật Tân (9,33) (Bảng
2).
|
Bảng 2. Số
lượng bài báo từ một số nước Đông Nam Á công bố trên
các tập san khoa học quốc tế trong thời gian
2000-2001, và số lần trích dẫn từ 2001 đến 2006
|
|
Nước |
Số lượng bài báo 2000-2001 |
Tổng số lần trích dẫn 2001-2006 |
Số lần trích dẫn trung bình trên mỗi bài báo |
Chỉ số trích dẫn tương đối [4] |
|
Việt
Nam |
675 |
6576 |
9,74 |
0,59 |
|
Thái
Lan |
2.590 |
23.550 |
9,09 |
0,55 |
|
Mã
Lai |
1.810 |
11.681 |
6,45 |
0,39 |
|
Nam
Dương |
954 |
9036 |
9,47 |
0,58 |
|
Phi
Luật Tân |
717 |
6.688 |
9,33 |
0,57 |
|
Singapore |
7.605 |
70.393 |
9,26 |
0,56 |
Số lần trích dẫn bao nhiêu là cao? Không có câu
trả lời cụ thể cho câu hỏi này, nhưng theo phân tích của ISI,
trong tất cả các bài báo khoa học công bố trên thế giới, có
khoảng 55% không bao giờ được ai (kể cả chính tác giả) trích dẫn
hay tham khảo sau 5 năm công bố [4]. Trong các ngành như kĩ
thuật tần số không trích dẫn lên đến 70%. Ngay cả được trích
dẫn và tham khảo, con số cũng rất khiêm tốn : chỉ có trên dưới
1% bài báo khoa học được trích dẫn hơn 6 lần mà thôi (trong vòng
5 năm). Do đó, có người đề nghị là một bài báo được trích dẫn
một cách độc lập (tức không phải chính tác giả tự trích dẫn) hơn
5 lần được xem là "có ảnh hưởng". Những công trình có ảnh hưởng
lớn thường có số lần trích dẫn 100 lần trở lên.
Nếu tính theo số lần trích dẫn trên
5 lần trong vòng 5 năm thì có thể nói rằng chất lượng các nghiên
cứu từ Việt Nam cũng có phần khả quan. Tính trung bình, khoảng
42% các bài báo từ Việt Nam được trích dẫn trên 5 lần, tức là
cao hơn số trung bình trên thế giới. Các ngành khoa học Việt
Nam có trích dẫn cao thường là các ngành khoa học thực nghiệm
như y sinh học, hóa học, nông nghiệp, môi trường và công nghệ
sinh học. Riêng hai ngành toán và kĩ thuật số lần trích dẫn
không cao và có thể chẳng có ảnh hưởng gì lớn trên thế giới.
Điều đáng quan tâm là 41% các bài báo về kĩ thuật từ Việt Nam
chưa bao giờ được trích dẫn sau 5 năm công bố.
Một cách khác để gián tiếp đánh giá chất lượng
là xem xét tỉ lệ các bài báo chưa bao giờ được trích dẫn.
Có khoảng 1/5 các bài báo khoa học từ Việt Nam chưa bao giờ được
trích dẫn sau 5 năm công bố. Đây cũng là tình trạng chung ở các
nước trong vùng, với tỉ lệ chưa bao giờ trích dẫn (trong vòng 5
năm) được ghi nhận tại Thái Lan (15%), Mã Lai (19%), Nam Dương
(19%), Phi Luật Tân (13%), và Singapore (17%).
Ở nước ta, tỉ lệ bài báo chưa bao giờ trích dẫn
dao động giữa các ngành khoa học. Chẳng hạn như ngành y sinh
học có tỉ lệ không trích dẫn thấp nhất (8,5%). Ngược lại khoảng
41% các bài báo về kĩ thuật (kể cả cơ học) từ Việt Nam chưa bao
giờ được trích dẫn sau 5 năm công bố. Các ngành khác có tỉ lệ
không trích dẫn khá cao là vật lí (28%), khoa học xã hội (27%),
công nghệ sinh học (27%), vật liệu (23%) và toán học (20%).
Một cách so sánh có ý nghĩa hơn là ước tính
chỉ số trích dẫn tương đối (relative citation index hay RCI)
[5], vì chỉ số này phản ảnh một phần chất lượng nghiên cứu khoa
học của một nước và mức độ ảnh hưởng trên thế giới. Tính theo
chỉ số này, chất lượng và ảnh hưởng của nghiên cứu khoa học Việt
Nam thuộc vào hàng cao nhất trong vùng, với RCI = 0,59. Mã Lai
là nước tuy có nhiều bài báo khoa học hơn nước ta, nhưng số lần
trích dẫn không cao và cũng chẳng gây ảnh hưởng lớn trên trường
quốc tế, do đó chỉ số RCI chỉ 0,39. Ngay cả các nước khác có
sản lượng khoa học cao như Singapore và Thái Lan cũng có hệ số
RCI thấp hơn Việt Nam. Sở dĩ có kết quả này là vì trong năm
2000-2001, có hai công trình y sinh học từ Việt Nam với hơn 200
lần trích dẫn, và làm tăng số lần trích dẫn trung bình cho nước
ta. Tuy nhiên, nếu chúng tôi loại bỏ hai bài báo này ra khỏi
phương trình tính toán thì hệ số RCI của Việt Nam vẫn thuộc vào
hạng cao nhất trong vùng.
Một chỉ số khác có nười cho rằng khách quan hơn
là chỉ số h [6]. Chỉ số h, nói một cách
ngắn gọn, phản ảnh số bài báo có số lần trích dẫn cao. Trong số
các bài báo khoa học từ Việt Nam công bố trong thời gian
2000-2001, có 33 bài được trích dẫn ít nhất là 33 lần trong 5
năm sau đó (h = 33). Vì số lượng bài báo của Việt
Nam thấp, cho nên chỉ số h cũng thấp so với các nước
trong vùng : Singapore (h = 75), Thái Lan (h =
50), Mã Lai (h = 37), Nam Dương (h = 36), và Phi
Luật Tân (h = 32). Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng chỉ số
này chưa phản ảnh khách quan tình trạng khoa học của một nước
hay một cá nhân (nhất là các nhà khoa học trẻ) bởi vì nó phụ
thuộc vào con số bài báo khoa học.
Chất lượng của công trình hợp tác và nội
lực. Tính trung bình, các công trình
nội lực có chất lượng thấp hơn các công trình hợp tác với nước
ngoài. Mỗi công trình nội lực được trích dẫn trung bình là 3,2
lần, trong khi đó công trình hợp tác có chỉ số trích dẫn trung
bình là 11,6 lần. Xu hướng này thể hiện gần như trong tất cả
các ngành khoa học (Biểu đồ 2).
Ngành y sinh học có số lần trích dẫn cao nhất,
kế đến là ngành vật lí, hóa học và môi trường học. Nhưng phân
tích theo nội lực và hợp tác cho chúng ta một “bức tranh” hoàn
toàn khác: các công trình y học được trích dẫn nhiều là những
công trình hợp tác với nước ngoài (chỉ số trích dẫn trung bình
là 16) chứ không phải công trình nội lực (chỉ số trích dẫn chỉ
3,6 lần). Sự chênh lệch thiên về các công trình hợp tác như thế
cũng thấy trong các ngành như vật lí (12 so với 4,5), hóa học
(10,8 so với 3,4), và kĩ thuật (9,3 so với 1,5).
|
 |
|
Biểu đồ 2. Số lần trích dẫn
trung bình cho mỗi bài báo công bố trong thời gian
2000-2001 phân tích theo hợp tác (ô đặc) và nội lực
(ô chéo). Ghi chú: YS=y sinh học, KT=kĩ thuật,
NN=nông nghiệp, VL=vật liệu, MT=môi trường, KTế=kinh
tế, CNSH=công nghệ sinh học, KHXH=khoa học xã hội. |
Bảng 3 dưới đây trình bày tỉ
lệ bài báo chưa bao giờ được trích dẫn phân chia theo các công
trình nội lực và hợp tác. Nói chung, như có thể suy luận được
qua Biểu đồ 2, các công trình nội lực thường có tỉ lệ chưa trích
dẫn cao hơn các công trình hợp tác. Trong số 38 bài báo từ Việt
Nam được trích dẫn trên 30 lần trong thời gian 2001-2006, không
một công trình bào là do nội lực. Bài báo nội lực có số lần
trích dẫn cao nhất (26 lần) là công trình của tiến sĩ Phạm Đức
Chính (Viện cơ học) đăng trên Physical Review B năm 2000). Công
trình hợp tác có số lần trích dẫn cao nhất (348 lần) là công
trình giải mã gien Salmonella enteria serova (nhóm Đại học
Oxford thực hiện) đăng trên tập san Nature năm 2001. Trong các
ngành như nông nghiệp, vật liệu, kĩ thuật, khoảng 40-61% các bài
báo chưa được trích dẫn lần nào (so với 16-28% các công trình
hợp tác) (Bảng 3). Chỉ số RCI của 145 công trình hoàn
toàn do nội lực của Việt Nam là 0,45.
|
Bảng 3. Số
lần trích dẫn (hay không trích dẫn) của các bài báo
khoa học từ Việt Nam phân tích theo lĩnh vực nghiên
cứu |
|
Lĩnh vực nghiên cứu |
Số bài báo trong thời gian 2000-2001 |
Tỉ lệ bài báo chưa được trích dẫn lần nào |
|
Tổng số |
Hợp tác |
Nội lực |
|
Y
sinh học |
164 |
8,5 |
8,2 |
20,0 |
|
Toán
|
74 |
20,3 |
32,0 |
14,3 |
|
Vật
lí |
87 |
27,6 |
25,9 |
31,0 |
|
Kĩ
thuật |
71 |
40,8 |
27,9 |
60,7 |
|
Nông
nghiệp |
85 |
17,7 |
16,3 |
40,0 |
|
Hóa
học |
87 |
12,6 |
10,1 |
37,5 |
|
Vật
liệu |
39 |
23,1 |
15,6 |
57,1 |
|
Môi
trường |
27 |
14,8 |
17,4 |
- |
|
Kinh
tế |
17 |
11,8 |
10,0 |
14,3 |
|
Công
nghệ sinh học |
11 |
27,3 |
27,3 |
- |
|
Khoa
học xã hội |
11 |
27,3 |
12,5 |
- |
|
Tổng cộng |
675 |
19,1 |
15,7 |
31,7 |
Vài nhận xét
Có thể rút ra những nhận xét gì qua các phân
tích và so sánh trên đây ? Thứ nhất, "sản lượng" khoa học của
nước ta vẫn còn rất khiêm tốn so với các nước trong vùng (chứ
chưa nói đến thế giới). Hiện nay, số lượng bài báo khoa học từ
Việt Nam vẫn cón thấp nhất so với các nước trong vùng. Nếu (xin
nhấn mạnh "nếu") mức độ tăng trưởng số bài báo khoa học của Việt
Nam là 41 bài / năm (như ước tính từ phân tích này) và theo hàm
số đường thẳng, và chúng ta bắt đầu với 202 bài năm 1996, thì
phải cần đến 60 năm sau chúng ta mới bắt kịp số lượng bài báo
của Thái Lan vào năm 2005!
Tuy nhiên, so với các nước trong
vùng, chất lượng nghiên cứu khoa học từ nước ta không thấp, nếu
không muốn nói là cao hơn. Nếu dựa vào chỉ số RCI để đánh giá
chất lượng và ảnh hưởng của nghiên cứu khoa học, Việt Nam có chỉ
số RCI (0,59) cao nhất trong vùng. Ngay cả Trung Quốc hàng năm
"sản xuất" trên 20.000 bài báo khoa học trên các tập san trong
danh bạ ISI, nhưng chỉ số RCI chỉ 0,27 [7].
Tuy chỉ số RCI của Việt Nam cao hơn các nước
trong vùng, nhưng vẫn còn quá thấp so với trung bình trên thế
giới. Thật vậy, chỉ số RCI = 0,59 của Việt Nam cho biết chất
lượng và tầm ảnh hưởng của các nghiên cứu khoa học Việt Nam thấp
hơn mức độ trung bình trên thế giới khoảng 40%. Ở các nước có
nền khoa học tiên tiến như Mĩ và Tây phương, chỉ số RCI thường
cao hơn 1 (cao hơn trung bình thế giới) (Bảng 4 [7]).
|
Bảng 4. Chỉ số trích dẫn tương đối của
một số nước trên thế giới.
|
|
Nước |
Chỉ số RCI |
|
Mĩ |
1,42 |
|
Anh |
1,14 |
|
Nhật |
0,78 |
|
Đức |
0,86 |
|
Pháp |
0,87 |
|
Canada |
1,00 |
|
Úc |
0,97 |
|
Ý |
0,75 |
|
Hà Lan |
1,10 |
|
Thụy Điển |
1,24 |
|
Thụy Sĩ |
1,16 |
|
Trung Quốc |
0,27 |
Khi tính bằng số lần trích dẫn trung bình trên
mỗi bài báo và mỗi năm, chỉ số trích dẫn các bài báo từ Việt Nam
vẫn khá cao so với ngay cả các nước tiên tiến trên thế giới (Biểu
đồ 3). Thật vậy, chỉ số trích dẫn trung bình các công trình
khoa học từ Việt Nam cao gấp 2 lần so với Trung Quốc, Đài Loan,
và các nước tiên tiến, và tương đương với các công trình từ Hà
Lan, Thụy Sĩ.
|
 |
|
Biểu đồ 3. Số lần trích dẫn
trung bình cho mỗi bài báo và mỗi năm của một số
nước trên thế giới. |
Tại sao số lượng bài báo khoa học từ
nước ta thấp hơn, nhưng chỉ số RCI cao hơn, các nước trong vùng
Đông Nam À và vài nơi trên thế giới? Chúng tôi nghĩ đến hai giả
thuyết để giải thích cho tình trạng vừa nêu. Thứ nhất, các nước
như Singapore và Thái Lan có một số tập san nội địa xuất bản
bằng tiếng Anh được công nhận và nằm trong danh bạ của ISI,
nhưng các tập san này thường công bố những công trình nghiên cứu
có chất lượng thấp (hiểu theo nghĩa ít người quan tâm và ít
trích dẫn). Có khả năng là các nhà khoa học địa phương không
thành công đăng bài ở các tập san quốc tế họ đăng ở các tập san
địa phương, và do đó chỉ số trích dẫn cũng như RCI của họ không
cao. Trong khi đó, các nhà khoa học Việt Nam chỉ có một con
đường duy nhất là công bố nghiên cứu của họ trên các tập san bên
Mĩ hay Âu châu, thường có hệ số ảnh hưởng (impact factor) cao
hơn các tập san Singapore hay Thái Lan, nên hệ quả là chỉ số RCI
của Việt Nam khá cao. Thứ hai, các nghiên cứu từ Việt Nam phần
lớn dựa vào hợp tác với các đồng nghiệp nước ngoài (như chúng
tôi vừa trình bày) và các tác giả này có xu hướng công bố trên
các tập san quốc tế có uy tín cao, và do đó chỉ số trích dẫn các
bài báo từ Việt Nam cũng có thể tăng cao. Điều này có thể đúng
vì những nghiên cứu về các bệnh nhiệt đới từ Việt Nam (và chỉ có
thể thực hiện ở các nước như Việt Nam) rất được đồng nghiệp thế
giới chú ý, và qua đó gai tăng hệ số ảnh hưởng trung bình của
các công trình nghiên cứu từ Việt Nam.
Chúng tôi nghĩ cả hai giả thuyết
trên đây đều có cơ sở. Gần 80% các bài báo khoa học từ Việt Nam
trong thời gian 2000-2001 là do hợp tác với các đồng nghiệp nước
ngoài. (Con số này, tỉ lệ hợp tác với nước ngoài, ở Anh và Úc
là khoảng 25%). Nhìn chung, các công trình hợp tác với nước
ngoài có chất lượng tương đối cao hơn các công trình do nội
lực. Có đến gần 1/3 (46 / 145) các công trình do nội lực chưa
bao giờ được trích dẫn trong vòng 5 năm, trong khi đó con số này
là 16% (83 / 530) cho các công trình hợp tác. Điều này cho thấy
hợp tác với đồng nghiệp nước ngoài có thể nâng cao chất lượng
nghiên cứu khoa học.
Trong điều kiện thiếu thốn thiết bị nghiên cứu
và thiếu các chuyên gia có trình độ cao, việc hợp tác với các
đồng nghiệp nước ngoài cần được khuyến khích để qua đó có thể
từng bước nâng cao trình độ và khả năng chuyên môn của các
chuyên gia trong nước. Tuy nhiên, hợp tác thế nào để các đồng
nghiệp trong nước không thiệt thòi, để tri thức vẫn thuộc về
Việt Nam là vấn đề cần đặt ra. Kinh nghiệm từ các nước đang
phát triển cho thấy tình trạng "khoa học nhảy dù" [8] mà trong
đó các đồng nghiệp từ nước ngoài thường có xu hướng "dành công"
cho mình dù công trình nghiên cứu được thực hiện ở nội địa và sử
dụng chất liệu từ nước đang phát triển. Theo một nghiên cứu
chưa đầy đủ cho thấy tính từ 1993 đến 1998, tập san British
Medical Journal công bố 59 bài báo với sự hợp tác giữa các
nhà khoa học các nước Tây phương và các nước đang phát triển;
trong số này, 58% bài báo mà tác giả đứng đầu là các nhà khoa
học Tây phương. Tỉ lệ khoa học nhảy dù ở tập san Lancet
là 57% (trong số 82 bài báo). Trong thời gian trên, tập san
Science công bố 6 bài báo hợp tác, và tất cả đều do các nhà
khoa học Tây phương đứng tên tác giả đầu. Tập san có ảnh hưởng
càng cao, tỉ lệ khoa học nhảy dù hay khoa học thuộc địa càng
cao. Nói cách khác, các nhà khoa học Tây phương chỉ “tử tế” với
các nhà khoa học địa phương chỉ khi nào các bài báo đăng trên
các tập san có ảnh hưởng thấp, nhưng với các bài báo trên các
tập san ảnh hưởng lớn thì họ dành quyền đứng tên tác giả đầu.
Trong phân tích này, chúng tôi thấy trong số 17 công trình từ
Việt Nam có số lần trích dẫn cao hơn 50 lần, tất cả đều do các
tác giả nước ngoài đứng tên hay chủ trì.
Tại sao các công trình nghiên cứu do
nội lực có chất lượng thấp (hiểu theo nghĩa chỉ số trích dẫn
thấp) hơn các công trình nghiên cứu do hợp tác ? Những công
trình nghiên cứu có chỉ số trích dẫn thấp thường do một trong
(hay tổng hợp) hai yếu tố : thiếu cái mới trong ý tưởng, phương
pháp nghiên cứu hạn chế, và thiếu kĩ năng trong hoạt động khoa
học. Chúng tôi sẽ giải thích các ý kiến đó như sau :
Ý tưởng thiếu cái mới dẫn đến những công trình
nghiên cứu lặp lại những gì người khác đã làm, và do đó không có
cơ hội được công bố trên các tập san có chỉ số ảnh hưởng cao.
Nguyên nhân chính của thiếu cái mới trong ý tưởng là do thiếu
thông tin và trình độ của nhà khoa học. Ở Việt Nam, tình trạng
thiếu thông tin cực kì trầm trọng. Nhiều thư viện trường đại
học chẳng khác gì một thư viện trung học ở nước ngoài ; chẳng
những thế, không có đủ sách, và ngay cả có sách thì phần lớn đều
lạc hậu. Thư viện trường cũng thiếu các tập san khoa học nghiêm
trọng, dẫn đến vấn đề thiếu cập nhật hóa thông tin, và nhà khoa
học chẳng khác gì người mù đi trong đêm tối, vì không biết được
những gì đã, đang hay sắp xảy ra trong lĩnh vực chuyên môn. Một
giảng viên trẻ bức xúc nói: “Những người muốn làm nghiên cứu
như tôi phải bỏ tiền ra mua. Tôi chi một số tiền tương đối lớn
để làm thành viên của các tổ chức cung cấp tài liệu, để được đọc
các tài liệu. Đáng lẽ những việc như vậy trường có thể hỗ trợ
bằng cách mua.” Trong bối cảnh thiếu thốn thông tin như mô
tả trên đây, thật là không công bằng nếu ta đòi hỏi các nhà khoa
học trong nước phải có những công trình nghiên cứu chất lượng
cao, nghiên cứu tiền phong. Với tình trạng thiếu thông tin như
thế, làm sao chúng ta có thể kì vọng các nhà khoa học nước ta
sánh vai cùng các đồng nghiệp ở các trường lớn trên thế giới.
Ngoài ra, nước ta thiếu các chuyên gia đầu ngành có tầm cỡ quốc
tế, cho nên thiếu những công trình nghiên cứu mang tầm vóc quốc
tế, mà chỉ loay hoay giải quyết các vấn đề đơn giản, địa
phương.
Phương pháp nghiên cứu, kể cả thiết
bị, còn hạn chế và lạc hậu. Tình trạng này bắt buộc các nhà
khoa học ta chỉ làm những nghiên cứu đơn giản, không thể đột
phá, và cũng không có giá trị khoa học cao. Thật vậy, khi chúng
tôi xem qua các công trình nghiên cứu y sinh học, một lĩnh vực
mà chúng tôi quen thuộc, phần lớn các nghiên cứu y học nước ta
chỉ tập trung vào các vấn đề y tế công cộng, bệnh truyền nhiễm
và y học nhiệt đới; chỉ có 7% là các công trình liên quan đến
sinh học phân tử. Trong 10 lĩnh vực nghiên cứu hàng đầu không
có các nghiên cứu về gien và di truyền học hay nghiên cứu về nội
khoa và y học lâm sàng. Tuy nhiên, tình trạng này cũng là tình
trạng chung ở các nước như Thái Lan, Malaysia và Indonesia.
Riêng Singapore thì gần như ở một “đẳng cấp” khác, vì phần lớn
nghiên cứu ở đây tập trung vào các công trình mang tính “công
nghệ cao” như sinh học phân tử, sinh hóa, công nghệ sinh học, di
truyền học, thần kinh học, ung thư học và y học lâm sàng.
Một công trình nghiên cứu khi đã
xuất bản hay công bố cũng cần phải được "vận động" để quảng bá
và qua đó tăng chỉ số trích dẫn. Trong hoạt động khoa học,
không thể kì vọng rằng khi đã công bố thì có người trích dẫn
theo suy nghĩ "hữu xạ tự nhiên hương", mà phải có những kĩ năng
"bếp núc" để giới thiệu công trình của mình trong các diễn đàn
khoa học quốc tế. Cách giới thiệu có thể là qua việc viết các
bài tổng quan, xã luận, bình duyệt, thậm chí qua thảo luận trong
các hội nghị. Tuy nhiên, đây là một kĩ năng mà chúng tôi thấy
các đồng nghiệp trong nước chưa quen thuộc hay chưa quan tâm
đúng mức.
Nếu các phân tích trên đây gợi lên
một số ý cho chính sách khoa học, chúng tôi nghĩ đến một số ý
sau đây:
Thứ nhất, cần phải hướng đến việc công bố nghiên
cứu trên các tập san khoa học quốc tế (sẽ gọi tắt là “công bố
quốc tế”) hay đăng kí bằng sáng chế (patent) như là một tiêu
chuẩn để đề bạt vào các chức danh khoa học. Ở các đại học Tây
phương và ngay cả đại học của các nước trong vùng, số lượng và
chất lượng bài báo khoa học là tiêu chuẩn số một trong việc xét
đề bạt lên chức giảng sư hay giáo sư [9]. Đối với cá nhân nhà
khoa học, báo cáo khoa học trên các tập san khoa học quốc tế là
một “đơn vị tiền tệ”, là viên gạch xây dựng sự nghiệp khoa
bảng. Chính vì thế mà trong các đại học tồn tại một văn hóa gọi
là “publish or perish” (xuất bản hay là biến mất). Ngay tại
viện của chúng tôi đang công tác, nếu trong vòng 1 hay 2 năm mà
nhà khoa học hay nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ không có một bài
báo nào đăng trên các tập san khoa học quốc tế, thì sự nghiệp
của họ xem như “có vấn đề”.
Còn ở nước ta, trong thời gian nhiều năm qua,
tiêu chuẩn công bố nghiên cứu trên các tập san khoa học quốc tế
vẫn chưa được công nhận đúng mức. Hệ quả là đến nay chúng ta có
một lực lượng giáo sư, kể cả một số "giáo sư hàng đầu", chưa có
công trình nào đăng trên các tập san khoa học quốc tế. Như một
giáo sư nhận xét gần đây : "Chín vị giáo sư tiến sĩ khoa học là
thành viên của Hội đồng ngành Cơ học VN không có công bố quốc tế
ISI trong 10 năm vừa qua." [10].
Một điều đáng buồn ở nước ta là
những nhà khoa học có công trình đăng trên các tập san quốc tế
nhiều khi phải bị thiệt thòi so với các đồng nghiệp chưa bao giờ
có bài báo đăng trên các tập san khoa học. Chẳng hạn như trường
hợp một tiến sĩ ở Qui Nhơn với hơn 10 công trình đăng trên các
tập san uy tín ở Âu châu và Mĩ, với thành tích như thế anh ấy
đáng lẽ là một phó giáo sư ở nước ngoài, nhưng khi xét đề bạt
giảng viên ở trong nước thì anh ta lại bị đánh giá là chưa đủ
điểm !
Thứ hai, cần phải xem công bố kết quả nghiên cứu
trên các tập san quốc tế là một chỉ tiêu để đánh giá (hay
“nghiệm thu”?) các công trình nghiên cứu do Nhà nước tài trợ. Ở
các nước tiên tiến, công bố các bài báo trên các tập san quốc tế
chính là tiêu chuẩn số 1 để các cơ quan tài trợ xem xét để cung
cấp kinh phí nghiên cứu. Nhưng hiện nay, ở nước ta, các công
trình nghiên cứu sau khi hoàn tất thường được nghiệm thu một
cách khá hình thức. Có rất nhiều nghiên cứu với ngân sách hàng
tỉ đồng được nghiệm thu và đánh giá là "đạt" hay "tốt", nhưng
trong thực tế thì chưa có một bài báo nào trên trường quốc tế,
và do đó không xứng với số tiền đầu tư do người dân đóng góp.
Có nhiều người nhầm lẫn (một cách khá khôi hài) rằng các bài
"abstract" (bản tóm lược khoảng 250 đến 500 chữ) mà họ trình bày
trong các hội nghị quốc tế là "bài báo quốc tế" ! Đó là một sự
lãng phí khó chấp nhận được.
Có người viện dẫn lí do rằng chỉ có khoa học cơ
bản mới công bố quốc tế, còn họ làm nghiên cứu ứng dụng nên
không cần. Thật mà khó chấp nhận cách giải trình này. Ngoài lí
do mang liên quan đến quốc phòng và an ninh quốc gia, không có
lí do gì để biện minh rằng công bố quốc tế chỉ áp dụng cho
nghiên cứu khoa học cơ bản hay cho các nước đã phát triển. Thật
ra, nước ta có nhiều công trình nghiên cứu rất xứng đáng được
chia sẻ với cộng đồng khoa học thế giới, nhưng rất tiếc, cho đến
nay các công trình đó vẫn loanh quanh trong các báo cáo nghiệm
thu, và hệ quả là làm thiệt thòi cho khoa học nước nhà.
Thứ ba, cần phải khuyến khích các
nghiên cứu sinh tiến sĩ công bố ít nhất một bài báo khoa học
trên các tập san quốc tế trước khi bảo vệ luận án. Đây cũng
chẳng phải là một đòi hỏi gì cao siêu hay khắt khe, mà chỉ là
một tiêu chuẩn, một yêu cầu phổ biến ở các đại học trong vùng và
phương Tây. Dự thảo về đào tạo tiến sĩ của Bộ Giáo dục và Đào
tạo mới đây cũng có qui định một nghiên cứu sinh tiến sĩ nên có
công trình nghiên cứu khoa học được đăng trên các tập san quốc
tế (có bình duyệt nghiêm chỉnh) trước khi bảo về luận án. Nếu
tiêu chuẩn hay qui định này được thực hiện tốt, có thể kì vọng
rằng sự có mặt của khoa học Việt Nam trên trường quốc tế sẽ được
nâng cao trong vài năm tới.
Một vấn đề khác tuy nhỏ, nhưng có ý
nghĩa quốc gia, cần phải đề cập đến ở đây là một số (nếu không
muốn nói là nhiều) nghiên cứu sinh từ Việt Nam sang nghiên cứu
hay làm luận án ở nước ngoài và khi công bố ấn phẩm khoa học
thường không ghi địa chỉ từ Việt Nam, mà chỉ ghi địa chỉ nơi họ
đang theo học. Tình trạng này chẳng những không hợp lí (vì cá
nhân nghiên cứu sinh xuất phát từ Việt Nam) mà còn làm ảnh hưởng
đến năng suất khoa học của Việt Nam trên trường quốc tế. Vấn đề
này thoạt đầu mới nghe qua như là chuyện nhỏ, nhưng các đại học
Tây phương xem là chuyện quan trọng đến nổi lãnh đạo trường có
hẳn những văn bản và điều lệ chính thức yêu cầu các nhà nghiên
cứu phải ghi rõ địa chỉ đại học hay viện nghiên cứu mà họ đang
công tác hay đang giữ những chức vụ kiêm nhiệm. Do đó, các đại
học Việt Nam cần phải khuyến khích, hay nói đúng hơn là yêu cầu,
các nghiên cứu sinh của trường ở nước ngoài khi công bố bài báo
trên các tập san quốc tế, ngoài địa chỉ của trường họ đang theo
học, cần phải đề tên trường Việt Nam vào phần địa chỉ tác giả
của bài báo.
Thứ tư, cần có chính sách đãi ngộ và
tưởng thưởng các nhà khoa học trẻ có công trình công bố quốc
tế. Để nâng cao khả năng cạnh tranh trong nghiên cứu y sinh học
tầm quốc tế, các đại học và trung tâm nghiên cứu cần phải tuyển
dụng các chuyên gia, giáo sư, hay giảng viên trẻ có tài năng
thật sự, và tạo điều kiện cho họ (như thời gian và phương tiện
nghiên cứu) và trao cho họ quyền tự do theo đuổi những ý tưởng
nghiên cứu mà họ thích và có khả năng thực hiện. Cần phải có
những hình thức khuyến khích tài chính cho các nhà khoa học có
công trình trên các tập san quốc tế. Ở một số đại học tại các
nước như Singapore, Thái Lan, Hồng Kông, v.v… người ta thưởng
khá nhiều tiền (lên đến hàng ngàn USD) cho các tác giả có công
trình công bố trên các tập san quốc tế có uy tín cao. Ngay cả
tại Úc, một số trường sẵn sàng tặng hàng ngàn đô-la cho các nhà
nghiên cứu có công trình đăng trên các tập san với hệ số ảnh
hưởng trên 10.
Thứ năm, cần phải khuyến khích các
tập san khoa học Việt Nam vươn đến
tầm quốc tế. Một trong những lí do mà Thái Lan và Singapore có
nhiều bài báo khoa học hơn Việt Nam là hai nước này có các tập
san khoa học, kể cả tập san y sinh học địa phương, được viết
bằng tiếng Anh, có hệ thống bình duyệt và được ISI công
nhận. Chẳng hạn như Thái Lan có tập san Journal of the
Medical Association of Thailand (tập san y học của
hội y học Thái Lan), tập san ScienceAsia, và Singapore có
tập san Annals Academy of Medicine Singapore là diễn đàn
của các bác sĩ và nhà khoa học địa phương. Vì các tập san này
được ISI công nhận, cho nên các bài báo ở đây được tính trong hệ
thống của PubMed. Ngược lại, ở nước ta, con số các tập san được
quốc tế công nhận chỉ “đếm đầu ngón tay”, và hệ quả là con số
bài báo công bố trên các tập san Việt Nam không hề được công
nhận. Ở đây, chúng tôi chưa nói đến vấn đề chất lượng, nhưng
chỉ bàn đến vấn đề chấn chỉnh các tập san sao cho phù hợp với
qui trình làm việc của các tập san quốc tế.
Trong thời gian gần đây, kinh tế nước ta đã và
đang phát triển nhanh chóng, nhưng hoạt động khoa học vẫn chưa
theo kịp tốc độ phát triển kinh tế. Thật ra, hoạt động khoa học
Việt Nam cần một cuộc cải cách lớn. Nếu không, chúng ta sẽ
tiếp tục tụt hậu và thua kém các nước trong vòng. Xin nhắc
lại: nếu tốc độ hiện hành, chúng ta đã đi sau Thái Lan đến hơn
nửa thế kỉ. Với Singapore, chúng tôi không dám so sánh trực
tiếp vì e rằng sẽ mất ý nghĩa của thống kê. Trong khi chúng ta
đang loay hoay bàn về những vấn đề to tát (như triết lí giáo
dục) và đặt ra những chuẩn mực cứng nhắc và có phần không phù
hợp với các chuẩn mực quốc tế, thì các nước trong vùng đang phát
triển nhanh. Đã đến lúc chúng ta cần phải mạnh dạn nhìn thật kĩ
những thiếu sót, những bất cập, những hủ tục và “văn hóa khoa
học” đang tồn tại trong hoạt động khoa học để xóa bỏ chúng trước
khi đi tiến đến một cuộc cải cách lớn.
Chúng tôi muốn nhắc lại một phát biểu trước đây
như là lời kết của bài viết ngắn này : Cần phải khẳng định một
thực tế rằng, Việt Nam không thể cạnh tranh với các cường quốc
khoa học như Mĩ, Nhật hay một cường quốc khoa học đang trên
đường hình thành như Trung Quốc, nhưng điều mà chúng ta có thể
làm được là đảm bảo chất lượng nghiên cứu khoa học ở những lĩnh
vực thuộc vào thế mạnh để nâng cao vị thế khoa học Việt Nam trên
trường quốc tế. Thiết nghĩ Nhà nước ngoài việc nâng cao hiệu
suất đầu tư cho khoa học và công nghệ và cải cách hệ thống hoạt
động nghiên cứu khoa học, cần phải bắt đầu phát triển các chuẩn
mực cho các nhà khoa học, kể cả tiêu chuẩn giáo sư, sao cho phù
phù hợp với các chuẩn mực quốc tế và không quá xa rời thực tế ở
nước ta.
Chú thích và tài liệu tham khảo:
[1]
Garfield E. The
impact factor [internet] Current Contents 1994 20;3-7 (cited 16
August 2002). Cách tính
hệ số ảnh hưởng của ISI rất đơn giản, và có thể minh họa bằng
một ví dụ cụ thể như sau: Chẳng hạn như trong 2 năm 1981 và
1982, Tập san Lancet công bố 470 bài báo khoa học gốc
(original papers); trong năm 1983 có 10.011 bài báo khác trên
các tất cả các tập san (kể cả Lancet) có tham khảo hay
trích dẫn đến 470 bài báo đó; và hệ số ảnh hưởng là: 10.011 /
470 = 21,3. Nói cách khác, tính trung bình mỗi bài báo gốc trên
tạp chí Lancet có khoảng 21 lần được tham khảo đến hay
trích dẫn. Hệ số ảnh hưởng cũng không phải là một chỉ số hoàn
hảo phản ảnh chất lượng, nhưng cho đến nay vẫn chưa có chỉ số
nào tốt hơn, cho nên giới khoa học vẫn phải sử dụng hệ số ảnh
hưởng cho việc đề bạt giáo sư, tài trợ nghiên cứu, và đánh giá
uy tín của một nhà khoa học. Ở Úc, khi ứng viên xin được đề
bạt, ngoài danh sách bài báo khoa học, ứng viên còn phải cung
cấp hệ số ảnh hưởng của tạp và số lần trích dẫn cho mỗi
bài báo.
[2] Chúng tôi sử dụng cơ sở dữ
liệu (database) của công ti Thomson Scientific Information
(trước đây có tên là Institute of Scientific Information hay
ISI). Cơ sở dữ liệu của ISI bao gồm SCI-Expanded, SSCI, và
A&HCI. Công cụ để thu thập thông tin là phần mềm Web of Science
thuộc hệ thống ISI Web of Knowledge v3.0, với từ khoá mã nước là
“Vietnam” OR “Viet Nam”, “Indonesia”, “Malaysia”, “Philippines”,
“Singapore”. “Thailand”. Trong phân tích này chúng tôi chỉ giới
hạn các bài báo nguyên thủy (original contribution), không tính
các bài tổng quan (review) và các bản tóm tắt (abstracts) hay
bài báo trong hội nghị (conference papers). Ngôn ngữ là tiếng
Anh. Thông tin từ tất cả các bài báo khoa học được thu thập từ
2000 đến 2001. Chúng tôi phân nhóm các bài báo khoa học vào 12
lĩnh vực nghiên cứu như sau: y sinh học (kể cả thú y, tâm lí học
lâm sàng, dinh dưỡng học, di truyền, sinh hóa), toán học, vật lí
học, kĩ thuật, nông nghiệp (kể cả thủy sản, thực phẩm, thực vật
học), hóa học, khoa học vật liệu, khoa học môi trường, kinh tế
học (kể cả quản lí kinh doanh, kế hoạch và phát triển), công
nghệ sinh học, khoa học xã hội, và khoa học đa ngành. Sau khi
thu thập thông tin liên quan đến bài báo (như tên tác giả, thể
loại, tập san, năm xuất bản, số lần trích dẫn, v.v…) chúng tôi
lưu trữ dữ liệu trong một cơ sở dữ liệu và sử dụng ngôn ngữ
thống kê (phần mềm) R để phân tích dữ liệu.
[3] Xem bài “Nhìn lại
10 năm công bố ấn phẩm khoa học Việt Nam: các nhà khoa học nghĩ
gì qua những bài báo đăng trên tạp chí quốc tế?” của Phạm Duy
Hiển, Tạp chí Hoạt động Khoa học, số tháng 1 năm 2006,
web:
http://www.tchdkh.org.vn/tchitiet.asp?code=2033.
[4] Phelan TJ. A compendium of
issues for citation analysis. Scientometrics 1999; 45:117-36.
Theo một
nghiên cứu khác, có đến 90% các bài báo khoa học công bố không
bao giờ được trích dẫn hay tham khảo (xem L. I. Meho, The rise
and rise of citation analysis, Physics World). Tuy
nhiên, tôi nghĩ con số 90% này được tính cả những bản tóm tắt
(abstract) trong các hội nghị và các conference papers. Do đó,
con số 55% chính xác hơn.
[5] Chỉ số trích dẫn
tương đối (relative citation index – RCI) phản ảnh mức độ ảnh
hưởng trung bình của một nước. Gọi n_i là số bài báo xuất phát
từ nước i, và c_i là số lần trích dẫn (citations)
từ những bài báo đó. Gọi N là tổng số bài báo của tất cả các
nước trên thế giới, C là tổng số trích dẫn của tất cả các
bài báo trên thế giới. Chúng ta có thể ước tính tỉ số bài báo
cho từng nước p_i (so với tổng số trên thế giới): p_i = n_i / N,
và tỉ số lần trích dẫn cho từng nước q_i như sau: q_i / c_i /
C. Chỉ số trích dẫn tương đối (relative citation index hay RCI)
được ước tính như sau: RCI_i = p_i / q_i. Như có thể thấy qua
công thức này, chỉ số RCI_i = 1 có nghĩa là chất lượng và ảnh
hưởng của nghiên cứu khoa học của nước đó tương đương với chất
lượng trung bình trên thế giới ; nếu RCI_i > 1 hay RCI_i < 1 có
nghĩa là chất lượng và ảnh hưởng của nghiên cứu khoa học nước đo
cao hơn hay thấp hơn trung bình thế giới. Một nước có thể công
bố nhiều bài báo khoa học (như Trung Quốc chẳng hạn), nhưng ít
ai trích dẫn hay quan tâm, và do đó chỉ số RCI rất thấp (0,27).
[6] Chỉ số h do một nhà
vật lí học đề nghị, và tài liệu tham khảo là:
Hirsch, Jorge E.,
(2005), "An index to quantify an individual's scientific
research output," Proc Natl Acad Sci USA
2005;102(46):16569-16572. Bài báo này có thể download hoàn toàn
miễn phí từ địa chỉ sau đây:
http://www.pnas.org/cgi/content/abstract/102/46/16569.
[7] May RM. The scientific
wealth of nations. Science 1997; 275:793-796.
[8] Xem bài “Làm
khoa học kiểu nhảy dù” của Nguyễn Văn Tuấn, Tia Sáng,
số tháng 6 năm 2007.
[9] Trong ngành y
khoa, để xét đề bạt giáo sư trong các đại học Tây phương, ngoài
các tiêu chuẩn về giảng dạy, tài trợ nghiên cứu và phục vụ xã
hội, một tiêu chuẩn quan trọng số 1 là số lượng và chất lượng
bài báo khoa học của ứng viên. Theo một qui định gần như “bất
thành văn”, muốn được đề bạt lên “assistant professor” (giáo sư
dự khuyết) ứng viên phải có từ 3-5 bài báo khoa học; một
associate professor (phó giáo sư) phải có từ 15 bài báo khoa học
trở lên (trong số này 5 bài phải là tác giả đầu); và một
professor (giáo sư) phải có từ 50 bài báo trở lên (và trong số
này phải là tác giả đầu của 20 bài). Đây chỉ là những tiêu
chuẩn rất chung chung và có thể nói là tối thiểu. Cố nhiên, các
tiêu chuẩn này còn tùy thuộc vào trường đại học và chuyên môn,
cho nên không ai có thể đưa ra một qui định chính xác được.
|