|
Tai nạn y khoa trong bệnh
viện
Nguyễn Văn Tuấn
(Ghi
chú: Bài đă đăng trên
Tuổi Trẻ 3/1/07. Đây là bản gốc của bài viết đó)
Một bài viết
với tựa đề khá sốc “Bệnh
do... bác sĩ”.
Một bệnh nhân chết sau khi trải qua một phẫu thuật phức tạp
(cắt bỏ đại tràng), nhưng các chuyên gia không nhất trí về
nguyên nhân tử vong và đổ lỗi cho bác sĩ. Phải đau ḷng mà chấp
nhận một thực tế là những trường hợp như thế này sẽ c̣n xảy ra
trong tương lai. Vấn đề không phải là qui kết lỗi lầm cá nhân,
mà là t́m hiểu nguyên nhân của hệ thống vận hành, và tiến đến
một phương án an toàn hơn trong bệnh viện.
Bất định
trong y khoa
Chăm sóc sức khỏe là một ngành nghề đặc biệt, v́ sự liên hệ đến
cá nhân và sự ḱ vọng cao của người bệnh vào người thầy thuốc.
Trong văn hóa Đông phương chúng ta có 3 người thầy: người cha,
người thầy dạy học, và người thầy chữa bệnh. V́ vai tṛ đặc
biệt này mà có khi người thầy thuốc được gọi là “quan”: quan
đốc. Công chúng có quyền ḱ vọng vào người thầy thuốc phải thực
hành nghề nghiệp một cách cẩn thận và có trách nhiệm, không gây
tác hại hay tổn hại cho bệnh nhân.
Nhưng y khoa là một ngành nghề đầy những bất định và rủi ro. Sự
bất định xuất phát từ một thực tế là y khoa học ngành nghề có
50% là nghệ thuật và 50% là khoa học.
Nghệ thuật liên quan đến cảm nhận cá nhân của người thầy thuốc,
và những cảm nhận này rất khác nhau giữa những người thầy
thuốc. Chẳng hạn như chữa trị ung thư tuyến tiền liệt tùy thuộc
vào bác sĩ nào mà bệnh nhân đến khám. Ở Mỹ, một
nghiên cứu cho thấy 80% các bác sĩ niệu học (urologist)
khuyên giải phẫu tuyến tiền liệt, nhưng 90% các bác sĩ ung thư
và quang tuyến đề nghị chữa trị bằng quang tuyến. Một nghiên
cứu qui mô khác ở Mỹ cho thấy tỉ lệ tử vong sau phẫu thuật tim
can thiệp ở bệnh nhân tại các bệnh viện thuộc bang Texas cao hơn
tỉ lệ ở các bệnh viện bang new York khoảng 55%. Tương tự, tỉ lệ
tử vong bệnh tai biến mạch máu năo ở các bệnh nhân điều trị tại
các bệnh viện thuộc bang Mississippi cao hơn tỉ lệ ở bệnh nhân
bang Colorado khoảng 50%.
Đối với khoa học, rất ít có những chân lí y khoa vĩnh cữu hay
những qui luật xác định như trong toán học; thay vào đó là những
kiến thức liên tiếp thay đổi theo thời gian. Chẩn đoán bệnh và
diễn giải kết quả xét nghiệm là một vấn đề xác suất. William
Osler, một ông tổ y học hiện đại, từng nói: y khoa là một khoa
học của sự bất định, và một nghệ thuật của xác suất. Một thuật
điều trị được xem là chuẩn vàng hôm nay có thể sẽ trở thành nguy
hiểm trong tương lai.
Chính v́ thế mà trong bài diễn văn khai mạc năm học đầu tiên của
sinh viên y khoa thuộc Đại học Yale, ông khoa trưởng khoa y
thường lặp đi lặp lại câu nói: những ǵ các giáo sư sắp dạy cho
các anh chị có đến 50% là sai, nhưng khổ thay chúng tôi không
biết 50% nào là đúng!
Sai sót y
khoa
Trong cái thế giới hỗn độn của bệnh viện, và trong môi trường
tri thức bất định như vừa tŕnh bày, các sai sót xảy ra ở bệnh
viện là điều khó tránh khỏi. Thật ra, phải nói là: sai sót y
khoa không thể tránh khỏi.
Thế nào là một sai sót y khoa? Viện Y khoa Mỹ (Institute of
Medicine) định nghĩa sai sót y khoa là “thất bại trong việc
thực hiện một việc làm (không theo như ư định được vạch ra lúc
ban đầu), hay sai lầm trong lúc lên kế họach hành động để hoàn
tất một mục tiêu”. Nói cách khác, sai sót xảy ra trong khi
hoạch định và trong lúc thực thi một kế hoạch hành động. Những
sai sót này có thể tóm lược và phân loại trong Bảng 1
dưới đây. Chẳng hạn như sự cố do phản ứng của thuốc, truyền
dịch không đúng, tổn thương do giải phẫu gây ra, và giải phẫu
sai vị trí, tự tử, những tổn thương hay tử vong do sự kiềm chế
quá đáng trong khi thực thi một ca mổ, té, bỏng, điều trị sai
bệnh nhân v́ lầm tên họ, v.v… được xem là sai sót y khoa.
|
Bảng
1. Những loại sai sót lâm sàng
Chẩn đoán
-
Chẩn đoán sai sót hay chậm trễ.
-
Không sử dụng các xét nghiệm được chỉ định.
-
Xét nghiệm không thích hợp.
-
Thiếu hành động thích hợp khi có kết quả xét
nghiệm.
Điều trị
-
Sai sót trong việc thực hiện một thuật điều trị hay
giải phẫu.
-
Sai sót trong việc cho uống thuốc.
-
Sai sót về liều lượng thuốc.
-
Chậm trễ trong việc điều trị.
Pḥng ngừa
-
Không tiến hành can thiệp để pḥng ngừa bệnh.
-
Thiếu theo dơi bệnh nhân hay theo dơi không đầy đủ.
Các sai sót khác
-
Cung cấp thông tin sai cho bệnh nhân.
-
Thiết bị sử dụng bị hư hỏng và ảnh hưởng đến bệnh.
-
Sai sót mang tính hệ thống.
|
Dựa vào các định nghĩa trên, giới y khoa phương Tây chia các sai
sót y tế thành hai nhóm: nhóm có thể pḥng ngừa được và nhóm
không thể pḥng ngừa được. Trong các sai sót có thể pḥng ngừa
được, các sai sót thường liên quan đến sai lầm cá nhân (error)
và cẩu thả hay sơ suất (negligence).
Hệ quả của
sai sót y khoa
Các nước phương Tây rất quan tâm đến sai sót y khoa, và đưa vấn
đề vào trong chương tŕnh nghị sự của Quốc hội. Tổng thống
Clinton từng trực tiếp chỉ đạo và điều hành các cuộc nghiên cứu
khoa học về sai sót y khoa. Qua các nghiên cứu khoa học, chúng
ta biết rằng sai sót y khoa trong bệnh viện có qui mô rất lớn và
hệ quả cũng rất nghiêm trọng.
Theo một nghiên cứu nổi tiếng vào giữa thập niên 1980s trong 51
bệnh viện trên khắp nước Mỹ, khoảng 3,7% bệnh nhân là nạn nhân
của các sai sót y khoa; trong số 3.7% này, gần một phần ba là do
cẩu thả, sơ suất trong khi điều trị và 70% là do lỗi lầm của các
nhân viên y tế (bác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng, v.v…). Hệ quả là ở
Mỹ hàng năm có khoảng 100.000 người bệnh chết v́ lỗi lầm của bác
sĩ và nhân viên y tế. Thật vậy, sai sót y khoa là nguyên nhân
lón nhất (so với bất cứ bệnh nào, kể cả tai nạn giao thông) gây
ra nhiều cái chết cho người Mỹ!
Úc là một nước rất tự hào về an toàn y khoa, nhưng khi kết quả
của một nghiên cứu vào giữa thập niên 1990s làm cho cả nước và
giới y khoa bàng hoàng. Theo nghiên cứu này, 8% bệnh nhân nằm
viện trải qua ít nhất là một sai sót y khoa. Các nhà nghiên cứu
c̣n ước tính rằng mỗi năm, có khoảng 18.000 người Úc bị thiệt
mạng và 50.000 người bị thương tật vĩnh viễn do những lỗi lầm
trong bệnh viện gây ra và những lỗi lầm này có thể pḥng ngừa.
Dân số Úc lúc đó là 17 triệu.
Ở nước ta, chưa có những nghiên cứu tương tự để biết qui mô của
vấn đề. Tuy nhiên, nếu chấp nhận tỉ lệ tai nạn 7% (tần số trung
b́nh ở Mỹ, Úc, Canada và Âu châu), với tổng số bệnh nhân điều
trị nội trú 7.050.000 (số liệu Bộ Y tế năm 2003), chúng ta có
thể ước tính rằng hàng năm con số bệnh nhân trải qua “tai nạn” y
khoa ở nước ta là 493.500 trường hợp. Và, vẫn theo kinh nghiệm
ở Mỹ (khoảng 14% “tai nạn” y khoa dẫn đến tử vong) có thể ước
tính rằng nước ta có khoảng 67.000 bệnh nhân bị chết “oan” hàng
năm và 15.300 người bị thương tật vĩnh viễn. Đó là một con số
tử vong rất lớn, chiếm khoảng 15% tổng số tử vong của cả nước
(khoảng 437.000 tử vong). Tuy nhiên, các ước tính này thấp hơn
thực tế, v́ chưa tính đến số bệnh nhân được điều trị ngoại trú
(khoảng 5.511.000 bệnh nhân).
Tiếp cận vấn
đề từ quan điểm hệ thống
Một trong những nghịch lí trong y học ngày nay là y khoa càng
ngày càng hiểu nhiều về bệnh lí và cách điều trị, th́ lại càng
không biết nhiều về cách tự chữa lấy lỗi lầm của chính ḿnh!
Điều này đúng v́ một quan điểm có tính truyền thống trong y khoa
cho rằng sai sót là tội lỗi. Trong các trường y, sinh viên
thường được dạy không được nhầm lẫn, v́ giới y khoa Tây phương
cho rằng nhầm lẫn là tội lỗi, là sự thiếu sót về đạo đức nghề
nghiệp. Điều này cũng có nghĩa là người thầy thuốc không muốn,
hay không có can đảm, nói về nhầm lẫn của ḿnh hay đồng nghiệp,
bởi v́ nó quá đau ḷng. Cố nhiên, đó là một quan niệm rất ư là
thụ động, sai lầm, và có khi nguy hiểm.
Hiện nay, mỗi khi có sai sót và sự cố xảy ra, người ta thường
nhắm đến cá nhân. Cách giải quyết này chú trọng vào cá nhân
(bác sĩ, nhà giải phẫu, y tá, dược sĩ, v.v...) và cho rằng lỗi
lầm là do sự sai lệch trong quá tŕnh suy tính, như lăng quên,
thiếu chú ư, thiếu động cơ thúc đẩy, bất cẩn, cẩu thả, và liều
lĩnh. Cách làm giảm những hành động này, do đó, thường tập
trung vào việc trừng phạt (cảnh cáo, cách chức kiện cáo). Nói
cho cùng, người ta thích khiển trách, đổ thừa cho nhau, v́ việc
làm đó thường mang lại cho họ một sự thỏa măn cá nhân. Anh phạm
lỗi, tôi không phạm lỗi; suy ra, tôi là người tốt, giỏi hơn anh.
V́ tính đơn giản của nó, quan điểm cá nhân trên rất phổ biến
trong mọi ngành nghề, kể cả y khoa, rất lâu đời, thậm chí đă trở
thành truyền thống.
Nhưng cách giải quyết trên thường không đem lại hiệu quả cao.
Một cách giải quyết vấn đế tốt hơn là xem xét đến hệ thống vận
hành của bệnh viện. Theo quan điểm mới, sai sót y khoa là một
hệ quả (thay v́ nguyên nhân), xuất phát không hẳn hoàn toàn từ
con người mà là từ hệ thống tổ chức. V́ thế, theo quan điểm
này, khó mà thay đổi điều kiện con người (tức biến con người
thành một cái máy), và cách giảm lỗi lầm hữu hiệu nhất là thay
đổi guồng máy tổ chức. Và do đó, muốn thay đổi hệ thống chăm
sóc, thay v́ chú trọng vào việc t́m lỗi phải từ cá nhân, các nhà
nghiên cứu lâm sàng đang t́m cách sửa đổi lề lối tổ chức và vận
hành của các bộ phận có quan hệ tới việc chăm sóc, chữa trị các
bệnh nhân với bệnh nặng và khẩn cấp.
Bệnh viện ngày nay đă dần dần biến thành những trung tâm cấp
cứu, chuyên chữa trị những bệnh ngặt nghèo. Điều này có nghĩa là
bệnh nhân nhập viện thường ở trong một t́nh trạng nguy kịch và
nguy cơ bị tử vong cũng cao hơn các nơi khác. Trong những trường
hợp khẩn cấp, kinh nghiệm cho thấy những dấu hiệu lâm sàng quan
trọng có liên hệ đến tính mạng bệnh nhân như sự suy yếu của hệ
thống hô hấp, tuần hoàn có khi bị bỏ lơ , suy diễn sai, hay
không được quản lí tới nơi tới chốn bởi bác sĩ và y tá. Theo
một nghiên cứu vào thập niên 1980s, có đến 60% tới 84% trường
hợp bệnh nhân bị ngừng tim (cardiac arrest) đă có những dấu hiệu
suy giảm về áp huyết, hệ thống hô hấp, và thậm chí hôn mê trước
đó khoảng 8 giờ, nhưng lại không được quan tâm đúng mức và không
có biện pháp ǵ để đối phó với t́nh h́nh nguy kịch đó. Nói một
cách khác, có đến 60% tới 80% trường hợp ngừng tim có thể cứu
được nếu nhân viên y tế theo dơi và có biện pháp cấp cứu kịp
thời. Điều này nói lên sự thiếu nhịp nhàng, thiếu tổ chức trong
các bệnh viện, mà đặc biệt là ở các khu cấp cứu.
Hệ thống y tế, cũng giống như bất cứ hệ thống nào khác, chỉ an
toàn khi nào sai sót được ghi nhận như là một điều không thể
tránh khỏi, và hệ thống y tế được tổ chức sao cho tối thiểu hóa
sai sót và hệ quả. Thay v́ tập trung vào những đổ lỗi cho cá
nhân người thầy thuốc, hay đi t́m những câu trả lời cho những
câu hỏi sai, chúng ta cần tiếp cận vấn đề sai sót y khoa từ quan
điểm hệ thống.
|
Những trường hợp sai sót y khoa
tiêu biểu
Dana Carvey là một danh hài người
Mỹ. Hai tháng sau khi Carvey trải qua một cuộc giải
phẫu cơ tim nhân tạo, bác sĩ cho ông biết rằng bác sĩ đă
thay nhầm động mạch! Thế là người nghệ sĩ danh tiếng 45
tuổi này phải một lần nữa trải qua một cuộc giải phẫu
khẩn cấp để cứu mạng.
Ông Morson Tarason, 79 tuổi, được
vào bệnh viện Đại học Pennsylvania (bang Philadelphia)
để giải phẫu chữa trị lá phổi bên trái; nhưng thay v́
chữa trị lá phổi bị bệnh đó, các bác sĩ đă cắt nhầm lá
phổi tốt bên phải! Đau ḷng hơn, sau khi các bác sĩ đă
biết được sự nhầm lẫn của ḿnh, họ bèn âm thầm và thản
nhiên hẹn cụ trở lại bệnh viện để làm một ca giải phẫu
thứ hai để chữa trị lá phổi trái!
Tháng 11 năm 1994, hai bệnh nhân nữ
được điều trị tại Viện ung thư Dana-Farber (một trung
tâm y tế danh tiếng của Mỹ ở Boston) và do tính toán
sai, cả hai bệnh nhân “bị” đầu độc với liều lượng hóa
chất quá cao. Cả hai bệnh nhân đều qua đời.
Những trường hợp ra ṭa
Bác sĩ có thể bị kiện ra ṭa và kết
án ngộ sát nếu bệnh nhân dưới sự chăm sóc của bác sĩ bị
chết v́ sự cẩu thả hay sơ suất trong quản lí lâm sàng.
Cẩu thả lâm sàng được định nghĩa là những sơ suất xảy ra
trong khi bác sĩ tỏ ra vô trách nhiệm, xem thường những
nguy cơ nghiêm trọng cho bệnh nhân.
Trường hợp 1. Một bác sĩ gây mê bị
kiện ra ṭa về tội ngộ sát (manslaughter) sau cái chết
của một bé trai 9 tuổi trong một cuộc giải phẫu cắt ruột
thừa. Trong cuộc giải phẩu, vị bác sĩ cài một cái ống
thông khí (nasotracheal tube) qua đường miệng vào khí
quản, và sử dụng một cái băng keo để làm cho ống thông
khí không dao động. Nhưng ống thông khí bị nứt ở chỗ
dán băng keo. Sau khoảng 10 phút, da em bé biến thành
màu xanh, và chết vài phút sau. Vị bác sĩ bị ṭa án kết
tội ngộ sát.
Trường hợp 2. Một bé trai 4 tuổi bị
ung thư năo. Khối u trong năo được cắt bỏ qua giải
phẫu, và bác sĩ cho truyền thuốc methotrexate với liều
lượng 650 mg vào năo. Bệnh nhân bị co giật và chết sau
đó. Liều lượng 650 mg được xem là cao gấp 20 lần liều
lượng chuẩn. Người bác sĩ cho thuốc đă dựa vào một ca
lâm sàng trước để ra liều lượng 650 mg nhưng không biết
rằng liều lượng đó chỉ liên quan đến việc truyền qua
tĩnh mạch. Bác sĩ bị ṭa án kết tội ngộ sát, nhưng sau
khi kháng án th́ được vô tội.
Trường hợp 3 Bệnh
nhân là một trung niên 42 tuổi bị kích động trong khi
được giải phẫu để cắt bỏ một mụn cóc, và bác sĩ tiêm
"diazepam" cho bệnh nhân. Bệnh nhân bị ngất xỉu, được
cho nhập viện khẩn cấp, nhưng chết vài giờ sau đó khi
nhập viện. Khi xét nghiệm máu, người ta phát hiện bệnh
nhân được tiêm methohexitone (một loại thuốc gây mê) chứ
không phải diazepam. Bác sĩ bị kết tội ngộ sát, v́ luật
sư cho rằng đây là một hành động cố ư. Bác sĩ biện minh
rằng ông bị nhầm lẫn do trước đó ông được tiêm một liều
thuốc giảm đau, và rằng hôm đó bệnh nhân giận dữ đ̣i hủy
bỏ cuộc giải phẫu. Vị bác sĩ được ṭa án xử
không có tội.
Trường hợp 4 Bệnh
nhân nam, 33 tuổi, được nhập viện cấp cứu sau khia trải
qua một cuộc giải phẫu. Khi áp suất máu của bệnh nhân
giảm xuống quá thấp, ông được truyền dopamine qua tĩnh
mạch, nhưng v́ việc truyền thuốc quá nhanh hay không
được kiểm soát kĩ nên dẫn đến triệu chứng loạn nhịp
tim. Bệnh nhiên sau đó được truyền verapamil và
b-adrenoceptor
antagonist một
loại hỗn hợp thuốc có khả năng gây làm tắc nghẽn tim.
Bệnh nhân chết sau vài phút truyền thuốc, nhưng hồ sơ
bệnh lí bị thay đổi sau khi ông chết. Bác sĩ phụ trách
bị kết tội thay đổi hồ sơ bệnh lí, và tội giết người có
ư thức. Tuy nhiên, sau khi ra ṭa, bác sĩ chỉ bị phại
v́ tội thứ nhất, c̣n tội cố sát được trắng án.
Trường hợp 5. Một bệnh nhân nam
33 tuổi trải qua một cuộc giải phẫu vơng mạc. Trong lúc
giải phẩu tim ông ngừng đập (cardiac arrest). Sáu tháng
sau giải phẫu, ông qua đời. Sự cố tim ngừng đập trong
khi giải phẫu là do giảm oxy mô (hypoxia), và hiện tượng
này xảy ra khi ống dẫn khí mất nguồn cung cấp oxy. Bác
sĩ gây mê trong ca mổ chỉ để ư đến vấn đề này khi máy
theo dơi áp suất máu báo động 4,5 phút sau khi nguồn oxy
bị gián đoạn. Thoạt đầu ông nghĩ rằng máy theo dơi áp
suất máu bị hỏng; tuy nhiên, một trong những bác sĩ giải
phẫu hôm đó nhận ra vấn đề. Vị bác sĩ gây mê bị kết tội
ngộ sát, và bị phạt tù.
Trường hợp 6. Bệnh nhân nữ, 55 tuổi,
chết trong khi được gây mê cho khám nội soi ở thanh quản
và thực quản. Một ống dẫn khí rất nhỏ được nối với b́nh
khí oxy, nhưng không nối đến máy quạt. Bệnh nhân được
truyền hơn 1000 lít oxy trong ṿng vài phút, và bà bị
ph́nh ra như (theo lời mô tả của nhân chứng) "nhân vật
ph́nh quảng cáo cho vỏ xe hiệu Michelin." Bác sĩ gây mê
chịu trách nhiệm hôm đó bị kết tội ngộ sát, phạt 8 tháng
tù, và rút bằng hành nghề 18 tháng.
Trường hợp 7. Bệnh nhân là một tù nhân
23 tuổi được chuyển đến một trại tù mới gần một đồn cạnh
sát, sau 8 tuần bị giam giữ ở một nơi khác. Trong thời
gian chuyển trại tù nhân đă được cai nghiện á phiện, và
cuộc chuyển trại được xem là không có vấn đề ǵ. Tù nhân
được hai bác sĩ cảnh sát khám và trong thời gian 11 ngày
sau đó được cho uống temazepam (160 mg vào ban đêm),
diazepam (80 mg hàng ngày), chlorpromazine
(300 mg hàng ngày), co-proxamol (2 viên mỗi ngày),
và methadone (30 mg hàng ngày). Sau đó tù nhân trở
nên lảo đảo, loạng quạng, và mắt mờ, thất thần. Khi tù
nhân được cho nhập viện, khám kĩ và xuất viện. Nhưng tù
nhân bị ngả quị vài ngày sau khi xuất viện và chết trên
trường nhập viện. Các bác sĩ cảnh sát bị kết tội ngộ
sát và bị phạt tù, nhưng sau đó có một bác sĩ kháng án
và được giảm phạt.
|
Uploaded
30 June, 2008 |