Viết văn có thể
chữa nhiều loại bệnh
Nguyễn Văn Tuấn
Đă từ lâu tôi vẫn nghĩ rằng
một trong những đề tài phong phú cho văn học là nỗi đau khổ của
con người, nhưng lại là đề tài ít được giới cầm bút khai thác.
Nói “đau khổ” ở đây, tôi không có ư đề cập đến những nỗi đau
trừu tượng, triết lí, kiểu như “thân phận lạc loài”, cô đơn,
hoài niệm, bâng khuâng, v.v... mà là sự đau khổ của thân xác do
bệnh tật gây nên. Đó là những nỗi đau gần gũi nhất với một cá
nhân, là cái mà cá nhân con người có thể cảm được, kinh nghiệm
qua được. Ấy thế mà kiểm lại số lượng tác phẩm và tác giả viết
về đề tài này trong nền văn học Việt Nam, chúng ta thấy sự có
mặt của thể loại văn học này cực ḱ khiêm tốn. Ngoại trừ trường
hợp của Hàn Mặc Tử (hay ở một khía cạnh nào đó, Nguyễn Đ́nh
Chiểu), hầu như không mấy ai phơi bày và gửi gắm nỗi đau khổ của
thân xác và bệnh tật trên trang giấy
Có ư kiến cho rằng so với các dân
tộc Tây phương, người Việt không có thói quen viết hồi kí, và
điều này có thể là một yếu tố đưa đến t́nh trạng nghèo nàn của
nền văn học Việt Nam. Dùng cách nói này, có lẽ chúng ta cũng có
lí do để cho rằng sự có mặt khiêm tốn của “văn học đau khổ” có
thể là một trong những yếu tố làm cho văn học Việt Nam thiếu
tính phong phú.
Trong cuốn
Illness narrative – Kể chuyện bệnh tật, tác giả
Arthur Kleinman nhận xét rằng trong khoa học và y học lâm sàng,
không có một chỗ nào để mô tả sự đau đớn, và cũng không có một
phương cách nào để ghi chép cái khía cạnh rất nhân tính này của
bệnh nhân và gia đ́nh bệnh nhân. Những thước đo dùng để đánh giá
chất lượng cuộc sống, triệu chứng, hay mức độ bệnh tật đều thất
bại một cách thê thảm, bởi v́ những chỉ số lâm sàng này không
bao giờ phản ảnh được những sự chịu đựng mang tính chất rất
riêng tư và rất nội tâm của người bị bệnh. Làm giảm áp suất máu
5 hay 10 mmHg có thể xem là một thành công trên mặt lâm sàng,
nhưng có chắc bệnh nhân có cảm nhận “thành công” đó hay không?
Kéo dài cuộc sống của một bệnh nhân được 6 tháng đang trong t́nh
trạng cuối cùng của căn bệnh có thể là một chiến thắng của y
học, nhưng chưa hẳn là chiến thắng của người bệnh v́ 6 tháng đó
có thể là 6 tháng sống đoạ đày trong đau đớn cùng cực.
Trong số báo
ra ngày 14 tháng Tư năm 1999, Tập san Hiệp hội Y khoa Mĩ
(Journal of the American Medical Association) công bố kết quả
thử nghiệm về tác dụng của viết văn đến các triệu chứng liên
quan đến bệnh suyễn và viêm khớp xương [1]. Trong cuộc nghiên
cứu hi hữu này, các nhà nghiên cứu yêu cầu bệnh nhân viết văn
khoảng 20 phút mỗi ngày, trong ba ngày liên tiếp mỗi tuần. Các
bệnh nhân được chia thành hai nhóm: trong nhóm một, đề tài viết
là những kinh nghiệm của bệnh nhân trong việc đấu tranh chống
trả với bệnh tật, hay những câu chuyện mà bệnh nhân cho là căng
thẳng trong cuộc sống của họ; trong nhóm hai, các nhà nghiên cứu
chỉ yêu cầu bệnh nhân viết ra những kế hoạch làm việc trong
ngày. Sau 4 tháng thử nghiệm, t́nh trạng sức khỏe của bệnh nhân
thuộc nhóm một trở nên tốt hơn một cách đáng kể, trong khi sức
khỏe của các bệnh nhân nhóm hai không thay đổi [1]. Tác giả của
công tŕnh nghiên cứu này cho rằng đây là một bằng chứng khoa
học đầu tiên cho thấy viết văn có tác dụng tích cực đến sức
khỏe. Kết quả này gây cảm hứng cho một nhà nghiên cứu khác viết
một bài xă luận trên tập san y học danh tiếng này [2].
 |
| |
Thực ra, kết quả của cuộc thử nghiệm trên đây không phải là bằng
chứng đầu tiên về lợi ích của viết văn đối với sức khỏe bệnh
nhân. Trước đó, một số nhà nghiên cứu trên cũng đă từng tiến
hành một loạt thử nghiệm về ảnh hưởng của viết văn đến sức khỏe,
và kết quả có thể tóm lược như sau: viết văn đem lại lợi ích cho
nhiều thành phần xă hội, thuộc mọi sắc dân, với bất cứ tŕnh độ
học vấn nào, mà không chỉ trong những người có năng khiếu về văn
chương. Ảnh hưởng tích cực của viết văn đến sức khỏe và thái độ
ứng xử được ghi nhận trong các tù nhân, sinh viên y khoa, nạn
nhân của những vụ bạo hành trong gia đ́nh, bệnh nhân bị bệnh
viêm khớp xương và các bệnh măn tính, đàn ông bị mất việc làm,
và phụ nữ mới sinh con. Những ảnh hưởng này thường được biểu
hiện qua các thông số về hệ thống miễn nhiễm, giảm đau, giảm số
lần đi tham vấn bác sĩ gia đ́nh, và gia tăng chất lượng cuộc
sống. Những sinh viên tham dự vào các cuộc thử nghiệm như thế
cho biết họ cảm thấy viết văn có giá trị lớn đối với cuộc sống
của họ. Một số sinh viên, ngày thường tỏ ra rất vô t́nh, lộn
xộn, nhưng khi viết về những kinh nghiệm đau buồn trong đời, họ
lại viết rất khúc chiết, mạch lạc và ít lỗi văn phạm!
So với lĩnh vực nghiên cứu sinh học
và lâm sàng, các nghiên cứu về mối liên hệ giữa viết văn và sức
khỏe vẫn c̣n khiêm tốn. Tuy nhiên, bằng chứng trong ṿng một
thập niên qua cho thấy một cách nhất quán là việc thuật lại
những câu chuyện mang tính cách cá nhân hay đau buồn bằng cách
viết văn hay bằng lời nói có ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất con
người. Nhưng câu hỏi được đặt ra ngay là “tại sao?” Tại sao viết
văn có thể đem lại lợi ích cho sức khỏe? Để giải thích mối liên
hệ này, giới nghiên cứu y khoa có thể đề nghị một số mô h́nh
sinh lí liên quan đến mối tương
tác giữa tinh thần và thể xác con người, một mối quan hệ
mà giới y khoa chính thống đă bỏ quên trong nhiều thập niên. Tuy
nhiên, thay v́ giải thích bằng mô h́nh sinh lí học, tôi muốn đề
nghị một mô h́nh khác liên quan đến chữ nghĩa và triệu chứng của
căn bệnh, đến cái có thể thấy được và cái không thể thấy được,
một mối quan hệ dựa vào y học và ngôn ngữ diễn đạt, huyền thoại,
và thể văn tường thuật trong việc trị liệu.
Ngôn ngữ và xúc cảm
Một giải thích có thể đề nghị ra
ngay là qua diễn đạt lại những cảm xúc người ta trở nên có ư
thức về sức khỏe hơn và từ đó thay đổi thái độ và cách sống hàng
ngày. Tuy nhiên, chưa có bằng chứng khoa học nào phù hợp với giả
thiết này. Thực ra, một vài nghiên cứu cho thấy sau khi viết lại
những câu chuyện đau buồn trong đời, người ta vẫn không thay đổi
cách sống một cách đáng kể. Người hút thuốc vẫn hút thuốc, người
nghiện rượu vẫn tiếp tục dùng rượu.
Một giả thiết thứ hai là viết văn tự
nó là một việc làm tự phát biểu. Giới tâm lí học vẫn tin rằng
những biểu hiện bằng vũ điệu, nhạc, và mĩ thuật có giá trị trị
liệu. Tương tự người ta có thể cho rằng quá tŕnh viết văn là
một hành động tự biểu hiện của một cá nhân. Thực vậy, trong một
nghiên cứu, mà trong đó các nhà nghiên cứu ghi nhận rằng sự phục
hồi tinh thần trong những người diễn tả lại những câu chuyện đau
buồn bằng cách viết văn cao hơn sự phục hồi tinh thần trong
những người diễn tả lại những câu chuyện đau buồn bằng tay chân.
Do đó, chỉ đơn thuần mô tả một kinh nghiệm bằng cơ thể không có
hiệu quả cho sức khỏe bằng cách mô tả những kinh nghiệm đó thành
chữ viết.
Giả thiết thứ ba về mối quan hệ giữa
viết văn và sức khỏe cho rằng viết văn là một quá tŕnh biến đổi
những cảm xúc và h́nh ảnh vào ngôn từ, và chính cái quá tŕnh
chuyển hóa này làm thay đổi suy nghĩ và nhận thức của người viết
về những kinh nghiệm đó. Ở đây cần phải nói thêm là một phần của
những nỗi đau khổ của một cá nhân không hẳn do một sự kiện nào
đó gây nên, mà c̣n do chính phản ứng cảm tính của cá nhân đó
trước sự kiện. Qua việc sắp xếp các ư nghĩ và cảm tưởng, người
ta có thể xây dựng hay tái xây dựng câu chuyện một cách có hệ
thống. Một khi câu chuyện đă được h́nh thành, nó được tổng kết,
dự trữ, và dễ quên sau đó.
Kể chuyện và đi t́m ư nghĩa
cuộc sống
Theo giới nghiên cứu tâm lí học, con
người – và có thể nói là phần lớn các sinh vật khác – luôn muốn
t́m hiểu những sự kiện và hiện tượng chung quanh. Nếu một người
cảm thấy đau hay nghe một tiếng động lạ, người đó lập tức t́m
cách hiểu nguyên nhân của những sự kiện này. Một khi người ta
hiểu được tại sao và những sự kiện đó xảy ra thế nào, người ta
sẽ sẵn sàng đối phó với chúng nếu chúng xảy ra một lần nữa. Do
đó, chúng ta bị thúc đẩy đi t́m hiểu những sự kiện có hậu quả
mạnh mẽ, dù tiêu cực hay tích cực, hơn là đi t́m hiểu những sự
kiện có thể tiên đoán được và không có ảnh hưởng ǵ lớn đến
chúng ta.
Trong một ngày b́nh thường, chúng ta
không ngớt kiểm tra và phân tích thế giới chung quanh. Dừng xe
trước một đèn đỏ mà nghe tiếng c̣i đằng sau, câu hỏi mà chúng ta
hỏi ngay là “Anh ta nhắm vào ḿnh?” hay “Đèn đang bật sang màu
xanh?” hay “Ḿnh từng gặp anh này ở đâu chăng?” Một khi chúng ta
đă hiểu được nghĩa của tiếng c̣i, chúng ta sẽ có một cách ứng xử
(lái xe qua ngă tư đường, giơ tay chào nếu là người quen) hay
trở lại với cái thế giới riêng tư của chúng ta nếu tiếng c̣i
không nhắm vào chúng ta. Một khi t́nh tiết của sự kiện này chấm
dứt, chúng ta bỏ nó ngoài tâm trí.
Dù việc đi t́m ư nghĩa của tiếng c̣i
diễn ra trong một thời gian rất ngắn và tất yếu, những sự kiện
lớn trong đời thường khó lĩnh hội hơn. Nếu chúng ta chia tay với
người ḿnh yêu, hay một người bạn thân mới qua đời, hay chúng ta
bị thất bại trên trường đời, chúng ta thường cố gắng nghiền
ngẫm, hâm nóng sự kiện trong tâm trí, cố gắng hiểu nguyên nhân
và hậu quả của sự kiện. Vấn đề trở nên phức tạp hơn v́ những sự
kiện lớn trong đời thường bao gồm nhiều sự việc và kinh nghiệm.
Nếu người yêu của chúng ta đă ra đi, sự kiện này sẽ ảnh hưởng
đến mối liên hệ giữa chúng ta với người khác, t́nh trạng tài
chính, cách chúng ta nh́n và đánh giá ḿnh, và ngay cả ăn uống
hàng ngày, giấc ngủ, nói chuyện, v.v... Để hiểu kinh nghiệm này,
chúng ta sẽ có gắng tự hỏi tại sao nó xảy ra, và chúng ta sẽ đối
phó như thế nào. Đối với một sự kiện không giải quyết được,
chúng ta sẽ suy nghĩ, mơ mộng, ám ảnh, và nói về nó ngày này
sang ngày khác, năm này sang năm khác.
Yếu tố nào làm nên ư nghĩa th́ vẫn
c̣n là một điều chưa rơ ràng. Các nhà triết học, tâm lí học, nhà
thơ, và nhà văn từng nhận xét rằng một sự kiện riêng lẽ có thể
có nhiều ư nghĩa khác nhau giữa các cá nhân. Sau cái chết của
một người bạn thân, có người sẽ t́m ư nghĩa trong tôn giáo (định
mệnh), người khác th́ đi t́m nguyên nhân của cái chết (hút thuốc
như anh ta th́ chết là điều dễ hiểu), người khác có thể t́m hiểu
ngụ ư của sự kiện (nó muốn dạy cho ḿnh một bài học để thay đổi
cuộc sống). Những phân tích đơn giản dựa vào một nguyên nhân đơn
thuần có thể có ích trong việc giải thích một số khía cạnh của
cái chết, nhưng sẽ không có ích cho tất cả các khía cạnh. Chúng
ta có lẽ có một giải thích dễ hiểu tại sao người bạn chết, nhưng
chúng ta vẫn phải đương đầu với một sự thay đổi về mạng lưới bạn
bè, những sinh hoạt hàng ngày, và đối thoại với bạn bè, v.v...
Cái “đẹp” của việc kể chuyện là nó cho phép chúng ta thắt buộc
tất cả những thay đổi trong cuộc sống hàng ngày vào một câu
chuyện có đầu có đuôi. Tức là cũng một câu chuyện, chúng ta có
thể nói về nguyên nhân của sự kiện, và những ư nghĩa đằng sau
của nó. Qua quá tŕnh này, nhiều khía cạnh của vấn đề có thể
khai thác và xây dựng thành một thực thể mạch lạc và logic.
Nhiều nghiên cứu về ngôn ngữ và đối
thoại cho thấy khi truyền đạt một câu chuyện đến một người khác,
người truyền đạt phải hành động một cách mạch lạc. Tức là người
truyền đạt câu chuyện phải sắp xếp và cấu trúc nội dung, chủ đề,
lí giải, và quan tâm đến nhận thức người đọc hay người nghe.
Một khi một câu chuyện phức tạp được
đưa vào một khuôn khổ, nó được đơn giản hóa. Bộ năo không cần
phải khổ công đi t́m một cấu trúc và ư nghĩa của vào câu chuyện.
Khi câu chuyện đă được thuật lại hết lần này sang lần khác, nó
trở nên ngắn hơn. Thông tin được “gọi về” cho câu chuyện là
thông tin đồng dư với câu chuyện. Nhưng ngược lại những dữ kiện
(kinh nghiệm thô sơ) được dùng làm những nguyên tố dể xây dựng
câu chuyện, một khi câu chuyện đă đi vào tâm trí của một cá
nhân, chỉ có những dữ kiện dính dáng đến câu chuyện được “gọi
hồn”. Hơn nữa, theo thời gian, chúng ta có khuynh hướng lấp đầy
những khoảng trống trong câu chuyện để cho nó trở nên mạch lạc
hơn và đầy đủ hơn.
Một ví dụ điển h́nh cho lí giải trên
là những cuộc nói chuyện với những người vừa trải qua một cuộc
li dị. Trong những tuần đầu tiên sau li dị, người ta thường nói
về những khía cạnh của sự đổ vỡ. Thường thường câu chuyện rất
dài, t́nh tiết mâu thuẫn nhau, nhưng rất cảm tính. Tuy nhiên,
sau một thời gian dài, những giải thích đó trở nên đơn giản hơn,
thậm chí giản dị hóa, như là “Lí do của sự đổ vỡ là v́ anh ta
quá tự cao.” Với một tóm lược một chiều như thế, người ta bỏ qua
những sắc thái, cả tích cực lẫn tiêu cực, về cuộc hôn nhân.
Một nghịch lí đáng nói là kể chuyện
có thể đem lại lợi ích làm cho những kinh nghiệm phức tạp và rối
rắm trở nên đơn giản hơn, dễ hiểu hơn, nhưng đồng thời, nó cũng
bóp méo, xuyên tạc hồi ức của người kể chuyện về những kinh
nghiệm đó. Diễn dịch hay chuyển hóa nỗi buồn vào trang giấy hay
âm thanh, nói cho cùng, là làm cho chúng ta quên đi, hay nói một
cách văn hoa hơn, làm cho chúng ta vượt ra ngoài biên giới của
kinh nghiệm hiện thực.
Trong một nghiên cứu tâm lí, các nhà
tâm lí học hỏi 200 sinh viên, cứ mỗi tuần một lần, bao nhiêu lần
trong ṿng 24 giờ trước họ có suy nghĩ hay nghe ngóng về cuộc
chiến tranh ở vùng Vịnh. Các nhà nghiên cứu cũng hỏi các đối
tượng nghiên cứu về cảm tưởng, phản ứng của họ (như quan tâm,
khó chịu, buồn, giận, v.v...) về diễn biến của cuộc chiến. Sau
2,5 năm, các nhà nghiên cứu lại liên lạc với các đối tượng trên
để hỏi họ thêm về cuộc chiến, và khám phá rằng những sinh viên
trước đây từng nói nhiều về cuộc chiến ngày nay không c̣n nhớ ǵ
nữa. Có thể giải thích hiện tượng này như sau: khi chúng ta đă
có hồi ức về một sự kiện nào đó, và một khi sự kiện đó đă chấm
dứt, chúng ta không cần phải nhớ lại, bởi v́ chúng ta không c̣n
lí do để nhắc lại hay để sống lại những kinh nghiệm đó. Như vậy,
một câu chuyện, tự nó, có thể giải thoát một quá khứ xa.
Ư nghĩa xă hội
Thuật một câu chuyện c̣n có hàm ư
rằng sẽ có người khác theo dơi (bằng cách đọc hay lắng nghe câu
chuyện). Tuy nhiên, phần lớn nghiên cứu tâm lí học trong thời
gian qua thường không để ư để khía cạnh xă hội của việc kể
chuyện. Đây cũng là một thiếu sót v́ các nghiên cứu đó thường
cho thấy những kinh nghiệm đau buồn trong đời thường làm cho
chúng ta bị cô lập với thế giới bên ngoài, bởi v́ chúng ta thiếu
can đảm (hay không có khả năng) tṛ chuyện với người khác. Theo
đó, một câu hỏi được đặt ra là có phải là khi kể lại câu chuyện
qua phương tiện văn chương có thể chắp nối một mối quan hệ giữa
người kể chuyện và xă hội? Một học sinh viết về những nỗi lo
lắng trong lớp học có làm cho em đó dễ làm quen với các học sinh
khác hay không? Đây là những câu hỏi mà các nhà tâm lí xă hội
đang theo đuổi.
Một vài nghiên cứu mới đây cho thấy
việc giấu kín một bí mật có thể tạo nên một lằn ranh tâm lí giữa
người giữ bí mật và bạn bè của người đó. Nếu chúng ta không thể
nói với bạn bè về một sự kiện làm xao động cuộc đời chúng ta,
bạn bè xung quanh sẽ không giải thích hay hiểu được hành động và
cảm tính của chúng ta. V́ lẽ ấy, chúng ta sẽ tự thiêu đốt ṃn
mỏi vấn đề, và chúng ta sẽ không thể nào trở nên một người có
khả năng lắng nghe bạn bè trong những lúc cần thiết.
Trong một thế giới lí tưởng, chuyển
hoá những kinh nghiệm phức tạp, đau buồn vào một câu chuyện là
một việc làm chia sẻ cùng xă hội. Quá tŕnh này giúp cho chúng
ta hiểu những sự kiện, và đồng thời, cảnh giác bạn bè về t́nh
trạng tâm lí và cảm xúc của chúng ta. Kể chuyện, do đó, giúp
chúng ta duy tŕ một đời sống xă hội và tâm lí ổn định. Trong
một thế giới không mấy ǵ lí tưởng, chúng ta thường giữ kín
những kinh nghiệm đau buồn trong chúng ta. Một việc làm như thế
là một gánh nặng tâm sinh lí, có thể làm tắc nghẽn con kênh nhận
thức để giải ḥa với niềm bí mật, và tạo nên một lằn ranh giữa
chúng ta và bè bạn. Chuyển hóa những kinh nghiệm đau đớn vào
ngôn từ trong khuôn khổ một câu chuyện có thể hoàn tất những
điều mà tổ tiên chúng ta từng hoàn tất: cải thiện tâm sinh lí và
phát triển mối quan hệ xă hội.
 |
| |
Các nền văn minh cổ nhận thức được
giá trị đằng sau những câu chuyện. Chúng là những mối liên lạc
giữa quá khứ, hiện tại, và tương lai. Nhà nhân chủng học, Joan
Halifax, từng nghiên cứu nhiều bộ lạc ở Mĩ châu, và khám phá
rằng những câu chuyện thần thoại được lưu truyền trong các bộ
lạc này là những tế bào liên lạc giữa văn hóa và thiên nhiên,
giữa cá nhân và xă hội, giữa sự sống và sự chết, khâu giá nhiều
thế giới lại với nhau trong việc kể chuyện [3].
T́nh trạng sức khỏe của một người
bao gồm cả hai khía cạnh: cơ thể và tâm lí. Do đó, duy tŕ sức
khỏe cũng có nghĩa là tạo điều kiện cho bệnh nhân t́m thấy ư
nghĩa về những kinh nghiệm đau buồn, và để ḥa nhập những kinh
nghiệm này vào câu chuyện của cuộc sống. Bệnh nhân có khả năng
vượt qua những khó khăn trong quá khứ và hiện tại qua việc rèn
luyện, sáng tạo trong ngôn ngữ, giúp cho họ tạo ra một môi
trường linh hoạt, ít liên hệ đến quá khứ, hiện tại, và tương
lai. Do đó, được chữa trị, nói theo ngôn từ của Richard Selzer,
là “được cứu thoát khỏi bóng tối và ghi chép lại một lần nữa
cuộc sống sáng chói.”
Viết văn là một trong những hành
động phong phú nhất và mạnh mẽ nhất của con người. Trong khi
viết, người viết tạo và tái tạo quá khứ trong khoảnh khắc hiện
tại. Nó là phương tiện cho người viết đi đến bóng tối và kéo ra
những cái không thể thấy được vào trang giấy, nơi mà những điều
này có thể đem ra thảo luận và duyệt xét lại. Trang giấy cung
cấp cho người viết chất liệu để phân tích cái bản ngă của chính
ḿnh. Khi viết văn ra những kinh nghiệm của ḿnh, người viết tự
do lựa chọn kinh nghiệm quá khứ, hiện tại, và tương lai. Viết
văn là một cuộc đối thoại với các sự kiện khả dĩ này, và mỗi sự
kiện đem đến một giá trị riêng, tri thức, và tiềm năng riêng
trên bàn giấy.
Viết về những kinh nghiệm đau buồn
mang lại những h́nh ảnh đau thương trong quá khứ vào giây phút
hiện tại, song người viết được ngăn cách bằng một tấm vách rất
thực tế: họ có thể ngưng viết bất cứ lúc nào, và sau đó quay trở
lại viết tiếp, nếu cần. V́ thế, người viết được che chở bằng một
khoảng cách giữa sự kiện và khả năng xem xét lại sự kiện. Những
ǵ đă viết rồi có thể viết lại, và có thể viết lại nhiều lần.
Bởi v́ “cái tôi” của người viết được cấu tạo bằng và qua ngôn
ngữ, có cội nguồn từ những mĩ từ, người viết trở thành, qua
trang giấy, những nhân vật hoàn toàn khác nhau. Sự chuyển hóa
này làm cho viết văn có lợi ích trong việc trị liệu.
Chú thích:
1. J. M. Smyth, et al. Effects of
writing about stressful experiences on symptom reduction in
patients with asthma or rheumatoid arthritis: a randomized
trial. JAMA 1999;281: 1304-1309.
2. D. Spiegel. Healing words,
emotional expression and disease outcome. JAMA 1999; số 281:
1328-1329.
3. J. Halifax. The fruitful
darkness: reconnecting with the body of the earth, San
Francisco: Harper San Francisco, 1993, trang 104.
Nguyễn Văn Tuấn
|