|
Suy dinh dưỡng ở trẻ em:
vấn
đề của kinh tế
Nguyễn Văn Tuấn
(bản ngắn hơn trên
Tuổi Trẻ 20/1/08)
Năm 2007 đi qua để lại nhiều dấu ấn đẹp về phát triển kinh tế,
nhưng vẫn c̣n những “mặt ch́m” ít khi nào gây sự chú ư hay quan
tâm của các quan chức và công chúng nói chung. Một trong những
mặt ch́m đó là vấn đề suy dinh dưỡng ở trẻ em, đặc biệt là trẻ
em ở vùng nông thôn hay vùng xa thành phố. Trong
hội nghị tổng kết đánh giá các hoạt động dinh dưỡng năm 2007
do Bộ Y tế và Viện Dinh dưỡng quốc gia tổ chức vào đầu năm nay,
có báo cáo cho thấy “tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi trên cả nước
suy dinh dưỡng đă giảm từ 23,4% (năm 2006) xuống c̣n 21,2%.”
Nói cách khác, cứ 5 trẻ em ở nước ta th́ có 1 em suy dinh dưỡng,
và đó là một vấn đề y tế công cộng rất lớn.

Ảnh: Phan Xuân
Trung
Thật ra, con số 1/5 có lẽ c̣n thấp so với thực tế. Theo báo cáo
của UNICEF (Quĩ nhi đồng của Liên hiệp quốc), trên thế giới ngày
nay có khoảng 146 triệu trẻ em dưới 5 tuổi được xem là thiếu cân
(underweight, một chỉ tiêu chính của định nghĩa “suy dinh
dưỡng”), phần lớn tập trung ở châu Á, châu Phi và châu Mĩ
Latin. Trong số này có khoảng 2 triệu em từ Việt Nam. Theo
thống kê, số trẻ em dưới 5 tuổi ở nước ta hiện nay khoảng 5,65
triệu (chiếm 6.71% dân số toàn quốc), cho nên con số 2 triệu em
thiếu cân cũng có nghĩa là cứ 3 em th́ có 1 em thiếu cân.
Thật vậy, trong một nghiên cứu về t́nh trạng suy dinh dưỡng
trong cộng đồng ở Đồng Nai, các nhà nghiên cứu ước tính trong số
trẻ em dưới 5 tuổi, có đến 31% ở trong t́nh trạng suy dinh dưỡng
[1]. Do đó, có thể nói rằng, dù tỉ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em
có xu hướng giảm, nhưng vẫn c̣n khoảng 1 phần 3 trẻ em mà cơ thể
ở trong t́nh trạng kém phát triển. Con số này đặt nước ta vào
số 36 nước trên thế giới có tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng cao nhất
thế giới.
Ngoài các nguyên nhân sinh học và lâm sàng, đứng trên quan điểm
của y tế cộng đồng, nguyên nhân chính của suy dinh dưỡng -- như
tên gọi rất chính xác -- là thiếu ăn. Thiếu ăn là do nghèo và
hoàn cảnh kinh tế gia đ́nh khó khăn. Trong khi nền kinh tế nước
ta phát triển nhanh, một bộ phận dân số -- nhất là những người
sống trong vùng nông thôn hay vùng xa -- vẫn chưa đủ ăn (và chưa
đủ mặc). Theo kết quả nghiên cứu ở Đồng Nai mà tôi vừa đề cập
trên, phần lớn (76%) trẻ em suy dinh dưỡng là những em có cha mẹ
là nông dân hay làm thuê. Gia đ́nh càng có nhiều con, tỉ lệ suy
dinh dưỡng càng cao.

Ảnh: Phan Xuân Trung
Suy
dinh dưỡng là một trong những yếu tố nguy cơ có liên quan đến --
hay nguyên nhân dẫn đến -- tiêu chảy, nhiễm trùng, sốt rét, một
số bệnh đường hô hấp, và tử vong [2, 3]. So với trẻ em phát
triển b́nh thường, trẻ em suy dinh dưỡng thường có chiều cao
thấp hơn tiềm năng tăng trưởng, thể lực kém, và trí thông minh
suy giảm. Do đó, suy dinh dưỡng, là một vấn nạn y tế cộng đồng,
một phần v́ những ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, nhưng một phần tác
hại đến tương lai và phát triển của một dân tộc. V́ thế, không
ngạc nhiên khi thấy nhiều nghiên cứu cho thấy người suy dinh
dưỡng có năng suất lao động thấp. Giới kinh tế đặt vấn đề rằng
suy dinh dưỡng có ảnh hưởng đến phát triển kinh tế quốc gia
[4,5].
Có
quan điểm (vào thập niên 1950s và 1960s) cho rằng phát triển
kinh tế sẽ giải quyết vấn đề suy dinh dưỡng. Nhưng cho đến nay,
chúng ta biết rằng quan điểm vừa đơn giản, vừa ngây thơ này
không đúng, bởi v́ phát triển kinh tế nhanh không có nghĩa là
suy dinh dưỡng sẽ được khắc phục. Ngược lại, nghiên cứu của nhà
kinh tế học Amartya Sen (giải Nobel kinh tế 1998) [6],
Reutlinger và Selowsky [7] cho thấy tốc độ phát triển kinh tế
nhanh chỉ là điều kiện cần, nhưng phân phối thu nhập đồng đều
mới là điều kiện đủ để xóa bỏ nghèo đói. Các nhà kinh tế này đề
ra khái niệm “tăng trưởng từ hỗ trợ” (support-led growth) nhấn
mạnh đến vai tṛ của Nhà nước và doanh nghiệp cung cấp những
dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của người nghèo -- như y tế, giáo
dục, cơ sở hạ tầng -- để biến sự tăng trưởng kinh tế ở mức độ
quốc gia thành hiện thực xóa đói giảm nghèo.

Ảnh: Phan Xuân
Trung
Từ những kinh nghiệm thực tế trong thập niên 1950s và 1960s,
thay v́ chỉ chú tâm đến tăng trưởng kinh tế, các nhà nghiên cứu
kinh tế và xă hội bắt đầu quan tâm đến tăng trưởng kinh tế với
mục tiêu đảm bảo nhu cầu của người dân. Dinh dưỡng là một trong
những nhu cầu cơ bản nhất của con người. Cố nhiên, chúng ta
không c̣n lạ ǵ với quan niệm này, v́ câu “đủ ăn đủ mặc” vẫn là
câu nói nằm ḷng, là ước mơ của biết bao thế hệ người Việt.
Nghiên cứu kinh tế và y tế cho thấy một cách nhất quán rằng
phương án hữu hiệu nhất để xóa t́nh trạng suy dinh dưỡng trong
cộng đồng là nâng cao thu nhập cho người dân [8]. Phần lớn các
trẻ em suy dinh dưỡng ở các vùng nông thôn, nơi mà thu nhập
trung b́nh của nông dân c̣n quá thấp (có khi chỉ 20.000
đồng/ngày hay thấp hơn). Với những gánh nặng về chi phí học
hành và những chi phí nhân danh “xă hội hóa” hiện nay, việc xóa
bỏ t́nh trạng dinh dưỡng có lẽ vẫn c̣n khó khăn.
Tuy nhiên, với tốc độ phát triển kinh tế ở nước ta như hiện nay,
rất khó chấp nhận được t́nh trạng mà một bộ phận dân số với cả 2
triệu trẻ em sống trong cảnh thiếu ăn. Chúng ta vẫn nói trẻ em
là tiền đồ của quốc gia; do đó, cần phải có những hành động đi
đôi với lời nói. Nhà nước cần phải có chính sách đặc biệt quan
tâm giúp đỡ các em này, có thể dưới h́nh thức tài trợ ăn uống
ngay tại nhà trường, để sao cho trong tương lai gần nước ta
không nằm trong danh sách các nước có tỉ lệ suy dinh dưỡng cao
nhất thế giới.
Chú thích:
[1] Xem bài “Tỉ
lệ suy dinh dưỡng và yếu tố liên quan ở trẻ em dưới 5 tuổi tại
xă Bàu Cạn, Long Thành, Đồng Nai, năm 2004”, tạp chí Y học
TPHCM, Tập 9, năm 2005.
[2] Xem bài
“Undernutrition as an underlying cause of malaria morbidity and
mortality in children less than 5 years”, đăng trên tập san y
học nhiệt đới American Journal of Tropical Medicine and
Hygiene., 71(2 suppl), 2004, pp. 55-63.
[3] Xem
“Undernutrition as an underlying cause of child deaths
associated with diarrhea, pneumonia, malaria, and measles” đăng
trên tạp san dinh dưỡng học American Journal of Clinical
Nutrition, Vol. 80, No. 1, 193-198, July 2004.
[4] Behrman J.
The Economic Rationale for Investing in Nutrition in Developing
Countries. World Development 1993; 21 (11): 1749-71.
[5] Behrman J.
Economic Considerations for analysis of Early Childhood
Development Programmes. Food and Nutrition Bulletin 1999; 20:1,
146-70.
[6] Sen A.
Health In Development: Critical Reflection. Bulletin of the
World Health Organization 1999;77:8, 619-23.
[7] Reutlinger
S, elowsky M. Malnutrition and Poverty: Magnitude and Policy
Options. Baltimore: Johns Hopkins University Press 1976.
[8] World
Bank. Enriching Lives: Overcoming Vitamin and Mineral
Malnutrition in Developing Countries. Washington, D.C.: The
World Bank 1994. |