Tiêu chuẩn chất lượng giáo dục đại học
Nguyễn Văn Tuấn
"Bộ
Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) vừa ban hành 10 tiêu chuẩn “đánh giá
chất lượng giáo dục trường đại học". Ykhoanet xin giới thiệu
bài viết của tác giả Nguyễn Văn Tuấn bàn về chất lượng giáo dục
đại học và đề nghị một số tiêu chuẩn cụ thể cho việc đánh giá
chất lượng giáo dục đại học. Bài đă đăng trên Tạp chí
Tia Sáng. Đây là
bản gốc của tác giả”.
Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) vừa ban hành 10 tiêu
chuẩn “đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học” (sẽ gọi tắt
là “tiêu chuẩn giáo dục đại học”). Tuy nhiên, đây là những tiêu
chuẩn về quản lí giáo dục hơn là những tiêu chuẩn về đào tạo cấp
đại học. Ngoài ra, dù nói là tiêu chuẩn, nhưng tất cả đều quá
chung chung, không có ǵ cụ thể, và do đó, rất mà khó ứng dụng
cho việc đánh giá chất lượng giáo dục đại học. Trong bài viết
này, tôi đề nghị 43 tiêu chuẩn giáo dục đại học liên quan đến
đầu vào (input), qui tŕnh đào tạo (process), và đầu ra (output)
và một số nghiên cứu cần thiết để triển khai việc kiểm định chất
lượng giáo dục đại học.
Tiêu chuẩn thiếu tính cụ thể khó
thực hiện!
Trong một xă hội hiện đại, giáo dục
bậc đại học có bốn chức năng chính: một là đáp ứng nhu cầu và
nguyện vọng của cá nhân về tri thức, để họ có thể tự khai thác
tiềm năng của ḿnh và cống hiến lại cho xă hội; hai là cung cấp
cho xă hội một lực lượng lao động có tŕnh độ chuyên môn cao,
cần thiết cho sự tăng trưởng và giàu mạnh của một nền kinh tế
hiện đại; ba là khai hóa xă hội, hướng dẫn dư luận, góp ư về
đường lối và chính sách của nhà nước; và bốn là thu thập hay
sáng tạo ra kiến thức qua nghiên cứu và chuyển giao những kiến
thức này đến xă hội.
Do đó, hệ thống giáo dục cấp đại học và cao đẳng
thường được ví von như là một cỗ máy điều khiển nền kinh tế của
một quốc gia. Tuy nhiên, nh́n qua sự phát triển kinh tế
của các nước trong vùng và trên thế giới, câu nói trên không c̣n
là một ví von nữa, nhưng đă thành hiện thực. Thật vậy, sự phát
triển kinh tế ở các nước như Thái Lan, Hàn Quốc, Đài Loan, Mă
Lai, v.v… mẫu số chung là họ chú trọng vào giáo dục và đào tạo.
Ở nước ta, giáo dục đại học cũng rất được quan tâm, với sự đầu
tư lớn từ Nhà nước và người dân. Theo phân tích của tác giả Vũ
Quang Việt, chi tiêu cho giáo dục ở nước ta chiến 8,3% GDP (ở Mĩ
tỉ lệ này là 7,2%), và đáng quan tâm hơn, trong số này có đến
40% là dân đóng góp [1].
Với một sự đầu tư lớn như thế, một số câu hỏi cần đặt ra: các
chương tŕnh đào tạo cấp đại học ở nước ta so sánh ra sao với
các nước trong vùng, các đại học của Nhà nước sử dụng nhân lực,
cơ sở vật chất hữu hiệu hay lăng phí, sinh viên tốt nghiệp đại
học có chỗ đứng ǵ trong xă hội và nền kinh tế thị trường, kiến
thức và kĩ năng của sinh viên tốt nghiệp đại học ra sao, hệ
thống giáo dục đại học đă góp phần ǵ cho phát triển kinh tế,
v.v… Rất tiếc là các câu hỏi này vẫn chưa được trả lời thoả đáng
một cách định lượng.
Các câu hỏi trên liên quan đến một khía cạnh mà xă hội đang rất
quan tâm hiện nay: chất lượng giáo dục đại học. V́ thế, việc
kiểm định chất lượng giáo dục và đào tạo cần và đă được đặt ra.
Bộ GDĐT vừa ban hành 10 tiêu chuẩn chất lượng giáo dục đại học
(xem Bảng 1) [2]. Nhưng các tiêu chuẩn này liên quan đến
quản lí hơn là chất lượng. Chẳng hạn như tiêu chuẩn về sứ mệnh
chẳng có liên quan ǵ đến chất lượng đào tạo, v́
thực sự, đây là những phát biểu mang tính quản lí. Thật vậy,
những "tiêu chuẩn" như "sứ mệnh và mục tiêu của trường đại học",
"tổ chức và quản lí", hay "Tài chính và
quản lư tài chính" không thể xem là chất
lượng giáo dục đào tạo được, mà là những khía cạnh của
quản lí đại học hay của bất cứ một doanh nghiệp nào. Bất cứ
trường đại học nào cũng có thể viết thành một phát biểu mang
tính sứ mệnh (statement of mission) rất dễ dàng, nhưng viết ra
được câu đó, cố nhiên, không có nghĩa là trường đại học đó có
"chất lượng."
Ngoài ra, các tiêu chuẩn c̣n quá chung chung.
Quả thật, không có một tiêu chuẩn nào trong 10 tiêu chuẩn ban
hành có thể xem là cụ thể cả. Chẳng hạn như trong tiêu chuẩn về
“Chương tŕnh giáo dục”, có đoạn viết "Chương
tŕnh giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên được thiết kế
theo quy định, đảm bảo chất lượng đào tạo".
Đây quả là một phát biểu khá … quanh co. Đáng lẽ qui định nói
về tiêu chuẩn chất lượng, nhưng lại không đề ra tiêu chuẩn cụ
thể mà yêu cầu phải đảm bảo … chất lượng ! Một hiệu trưởng đại
học có trách nhiệm thực hiện các tiêu chuẩn chắc chắn phải đặt
câu hỏi: thế nào là đảm bảo chất lượng đào tạo ? Hay như tiêu
chuẩn "Thư viện của trường đại học có
đầy đủ sách, giáo tŕnh, tài liệu tham khảo tiếng Việt và tiếng
nước ngoài đáp ứng yêu cầu sử dụng của cán bộ, giảng viên và
người học" cũng rất chung chung và
không thể nào so sánh giữa các đại học được. Nếu một đại học
với 10.000 sinh viên và có 20.000 đầu sách, và một đại học với
30.000 sinh viên và có 35.000 đầu sách, th́ làm thế nào để so
sánh theo tiêu chuẩn trên ?
|
Bảng 1. Mười tiêu chuẩn giáo dục đại học (theo
Qui định về tiêu chuẩn đánh giá
chất lượng giáo
dục trường đại học 65/2007/QĐ-BGDĐT)
|
|
1. Sứ mạng và mục
tiêu của trường đại học
2.
Tổ chức và quản lí
3.
Chương tŕnh giáo dục
4.
Hoạt động đào tạo
5.
Đội ngũ cán bộ quản
lí, giảng viên và
nhân viên
6.
Người học
7.
Nghiên cứu khoa học, ứng dụng, phát
triển và chuyển giao công nghệ
8.
Hoạt động hợp tác quốc tế
9.
Thư viện, trang thiết bị học tập và cơ
sở vật chất khác
10.
Tài chính và quản lư tài chính |
V́ thiếu cụ thể, nên tôi e
rằng khó có thể triển khai 10 tiêu chuẩn trong thực tế. Thật
ra, như đề cập trên, đây không phải là các tiêu chuẩn phản ảnh
chất lượng mà tôi thường thấy ở các đại học nước ngoài, cho nên
không thể áp dụng cho việc kiểm định chất lượng giáo dục đại
học.
Chất lượng giáo dục
đại học là ǵ ?
Chất lượng giáo dục đại học là một phạm trù rất
khó định nghĩa và đo lường, bởi v́ không/chưa có một định nghĩa
nhất quán [3]. Thật ra, ngay cả danh từ "chất lượng" (hay
quality theo tiếng Anh) trong bối cảnh giáo dục đại học cũng
đă mù mờ [4]. Theo các chuyên gia đầu ngành về chất lượng giáo
dục, chất lượng có thể
được nh́n nhận
qua 5 khía cạnh [5]:
-
chất lượng được ngầm hiểu là chuẩn mực cao
(high standard) ;
-
chất lượng đề cập đến sự nhất quán trong
thực thi một công tác không có sai sót ;
-
chất lượng là hoàn thành những mục tiêu đề
ra trong kế hoạch của trường ;
-
chất lượng là những đo lường phản ảnh những
thành quả xứng đáng với đầu tư (hay nói nói nôm là xứng đáng
với " đồng tiền bát gạo ") ;
-
chất lượng một qui tŕnh liên tục cho phép
"khách hàng" (tức sinh viên) đánh giá sự hài ḷng của họ khi
theo học.
Qua những cách hiểu về chất lượng như trên,
chúng ta thấy kiểm định chất lượng bằng những đo lường cụ thể
không phải là một việc làm đơn giản. Chẳng hạn như thế nào là
một tiêu chuẩn cao, hay thế nào là hoàn thành những mục tiêu?
Làm sao đo lường những khía cạnh trên? Hàng loạt vấn đề mang
tính phương pháp học được đặt ra.
Nhưng trong môi trường cạnh tranh giữa các đại
học, mỗi đại học phải tự ḿnh đánh giá chất lượng. Nếu không,
sẽ có người khác đánh giá. Năm 1983, tờ báo US News and
World Report (Mĩ) lần đầu tiên tŕnh bày một danh sách các
đại học Mĩ xếp thứ tự theo chất lượng từ cao đến thấp (America’s
Best Colleges). Ngay sau đó, các nhóm truyền thông khác trên
thế giới tạp chí Times Higher Education Supplement (THES
ở Anh), The Guardian University Guide (Anh), tạp chí
Maclean với Maclean’s University Ranking (Canada), v.v…
cũng bắt đầu phát triển những chi tiêu để đánh giá các đại học ở
địa phương và so sánh với các đại học quốc tế. Đặc biệt mấy năm
gần đây trường Đại học Giao thông Thượng Hải (Trung Quốc) cũng
tham gia vào việc đánh giá và xếp hạng các đại học trên thế
giới.
|
Bảng 2. Các chỉ tiêu sử dụng
cho đánh giá và xếp hạng đại học do các nhóm truyền
thông thực hiện
|
|
Đại học Giao
thông Thượng Hải (Trung Quốc) [6]
- Số cựu sinh
viên tốt nghiệp đoạt giải Nobel và Field : trọng số
10%
- Số giáo sư
đoạt giải Nobel và Field : trọng số 20%
- Số bài báo
khoa học được trích dẫn nhiều lần : trọng số 20%
- Số bài báo
khoa học trên tập san Nature và Science :
trọng số 20%
- Số bài báo
khoa học trên tập san trong danh bạ SCIE, SSCI :
trọng số 20%
- Thành tựu của
giáo sư và đội ngũ khoa bảng : trọng số 10%
US News and
World Report [7]
- Xuất sắc khoa
bảng (academic excellence) qua thăm ḍ ư kiến của
hiệu trường, khoa trưởng : trọng số 25%
- Tỉ lệ sinh
viên bỏ học và tỉ lệ tốt nghiệp : trọng số 20%
- Cơ sở vật chất
(qui mô lớp học, lương bổng giáo sư, tŕnh độ giáo
sư, tỉ lệ giáo sư toàn thời gian (fulltime) : trọng
số 20%
- Điểm tuyển
chọn sinh viên : trọng số 15%
- Chi tiêu của
nhà trường tính trên mỗi sinh viên : trọng số 10%
- Tỉ lệ cựu sinh
viên đóng góp vào ngân quĩ nhà trường : trọng số 5%
- Tỉ lệ tốt
nghiệp sau khi điều chỉnh cho chi tiêu và điểm tuyển
nhận : trọng số 5%
Times Higher
Education Supplement (THES) [8]
- Đánh giá của
giới khoa bảng từ các trường khác : trọng số 40%
- Số sinh viên
tốt nghiệp làm việc trong các công ti toàn cầu :
trọng số 10%
- Phần trăm giáo
sư là người nước ngoài : trọng số 5%
- Phần trăm sinh
viên là người nước ngoài : trọng số 5%
- Tỉ số sinh
viên / giáo sư : trọng số 20%
- Số lần trích
dẫn tính trên đầu mỗi giáo sư : trọng số 20%
Maclean
University Ranking [9]
- Thành tựu khoa
bảng của sinh viên : trọng số 23%
- Qui mô lớp học
và liên lạc giữa giáo sư và sinh viên : trọng số 17%
- Tŕnh độ và
danh tiếng của đội ngũ giảng viên và giáo sư : trọng
số 17%
- Tài chính :
trọng số 12%
- Thư viện :
trọng số 12%
- Danh tiếng của
cựu sinh viên : trọng số 19%
The Guardian
University guide [10]
- Thành phần
giảng viên và giáo sư (phần trăm với học vị tiến sĩ,
phần trăm tham gia nghiên cứu khoa học) : trọng số
15%
- Điểm chuẩn để
tuyển chọn sinh viên : trọng số 20%
- Chi tiêu toàn
trường tính trung b́nh trên mỗi sinh viên : trọng số
10%
- Tỉ số sinh
viên / giáo sư : trọng số 20%
- Tỉ lệ sinh
viên xuất thân từ thành phần kinh tế khó khăn,
nghèo: trọng số 12%
Ngoài ra, có thể
tham khảo cách xếp hạng của nhóm Webometrics (Ư) [11] và
tạp chí Newsweek [12]. |
Tuy các danh sách này gây tiếng vang hàng năm,
nhưng trong giới khoa học ít ai để ư hay quan tâm đến các danh
sách hay cách xếp hạng này. Lí do đơn giản là các nhóm truyền
thông và Đại học Giao thông Thượng Hải dựa vào khoảng 6 chỉ tiêu
rất đơn giản, và mỗi chỉ tiêu họ cho một trọng số (weight) sao
cho tổng trọng số của 6 chỉ tiêu bằng 100, rồi dựa vào tổng
trọng số để xếp hạng các đại học trên thế giới (xem Bảng 2).
Ngay cả cách cho trọng số cho từng chỉ tiêu cũng khá tùy tiện.
Không có lí do ǵ và chưa có cơ sở khoa học nào để cho con số
tṛn trĩnh 10% hay 20% cho một chỉ tiêu. Chẳng hạn như THES cho
trọng số liên quan đến đội ngũ giáo sư lên đến 40%, trong khi đó
Maclean đánh giá chỉ tiêu này chỉ 17%. Theo tôi, trong tất cả
các danh sách hiện hành, có lẽ danh sách của tạp chí Mclean là
có cơ sở khoa học nhất v́ họ đă tiến hành những nghiên cứu qui
mô để đánh giá tính hợp lí nội tại (internal validity) và hợp lí
ngoại tại (external validity) của các chỉ tiêu. Bất cứ chỉ tiêu
về chất lượng nào mà chưa qua đánh giá tính hợp lí nội tại và
ngoại tại đều không có ư nghĩa khoa học.
Một số chỉ tiêu không thực tế và thiếu tính
khách quan. Chẳng hạn như Đại học Giao thông Thượng Hải dựa vào
con số cựu sinh viên và giáo sư đoạt giải Nobel hay Field, tức
là nghiêng hẳn về các trường có thế mạnh về khoa học, và các đại
học nhân văn sẽ chẳng bao giờ có cơ hội trong bảng ! Thật ra,
con số người chiếm giải Nobel hay Field cũng rất nhỏ, và phần
lớn những người này ở Mĩ, nên không ngạc nhiên khi các đại học
Mĩ lúc nào cũng đứng đầu danh sách. Ngoài ra, việc đặt nặng
trọng số vào giải Nobel và Field cũng không hợp lí, v́ trong
thực tế c̣n có một số giải cũng có trọng số tương tự, thậm chí
hơn (tính theo số tiền thưởng), nhưng lại không được đánh giá !
Có thể nói rằng các chỉ tiêu mà các nhóm truyền
thông quốc tế và Đại học Giao thông Thượng Hải làm chỉ phản ảnh
danh tiếng và cơ sở vật chất của trường, những khía cạnh có mối
tương quan thấp nhất với -- và không phản ảnh -- sự tác động của
đại học đến sinh viên [13].
Tiêu chuẩn chất lượng
đại học: đầu vào, qui tŕnh, và đầu ra
Cần phải phân biệt các tiêu chuẩn đơn giản và
bán tài tử như trên (mà giới truyền thông đă và đang làm) với
các tiêu chuẩn nghiêm chỉnh đánh giá chất lượng của một trường
đại học. Các tiêu chuẩn mà giới truyền thông sử dụng, tuy mang
tính cụ thể, phản ảnh rất chung chung chất lượng của một đại
học, chứ không phản ảnh toàn bộ qui tŕnh đào tạo của đại học.
Có thể nói rằng các chỉ tiêu đó giống như cái nh́n của những
"cưỡi ngựa xem hoa", chỉ thấy bề mặt, mà không thấy chiều sâu
của một vấn đề.
Theo tôi, giáo dục đại học bao gồm việc giảng dạy, nghiên
cứu khoa học và học tập. Có thể xem ba khía cạnh đó của giáo
dục đại học là một hệ thống đặc
trưng bởi ba khía cạnh trên. V́ là hệ
thống nên phải có đầu vào (input), qui tŕnh
(process), và đầu ra (output). Do đó, chất lượng giáo
dục đại học là tập hợp một số nguyên tố liên quan đến đầu vào,
qui tŕnh đào tạo, và đầu ra [14-17].
Đầu vào là
những tiêu chuẩn liên quan đến sinh viên được nhận vào học tại
trường đại học. Một số nghiên cứu cho thấy số điểm trung
b́nh của thí sinh được nhận vào đại học có tương quan đến số
điểm tốt nghiệp: sinh viên với số điểm cao lúc nhập học đại học
thường là những sinh viên có xác suất tốt nghiệp đại học cao.
Nếu xem điểm thi tốt nghiệp hay điểm tuyển sinh đại học phản ảnh
tŕnh độ của học sinh, th́ trường có nhiều học sinh giỏi cũng có
nghĩa là môi trường học tập được nâng cao, và qua đó tác động
tích cực đến chất lượng giáo dục của trường. Tuy nhiên, cũng có
lí giải cho rằng chẳng có mối tương quan nào giữa điểm tuyển
sinh và điểm tốt nghiệp [16]; do đó, một số trường đại học không
xem các điểm này là một yếu tố hay tiêu chuẩn để đánh giá chất
lượng giáo dục đại học.
Qui tŕnh ở đây bao gồm các tiêu chuẩn liên quan
đến người thầy, giảng dạy, cơ sở vật chất cho học tập, nghiên
cứu khoa học, và cơ sở hạ tầng cũng như dịch vụ dành cho giảng
dạy và nghiên cứu khoa học. Giáo dục đại học bao gồm giảng dạy
và nghiên cứu khoa học. Có thể nói chung rằng "sức khỏe tài
chính" của một trường được phản ảnh qua sự tài trợ hay thu hút
tài trợ từ Nhà nước và các nguồn tư nhân. Nhưng sử dụng tài
chính v́ lợi ích của sinh viên cần được quan tâm đặc biệt; v́
thế, các tiêu chuẩn như chi tiêu, dịch vụ, cơ vật chất, v.v…
tính trên đầu sinh viên là những tiêu chuẩn quan trọng để đánh
giá chất lượng phục vụ của trường đại học.
Ở bậc đại học, người thầy (hay cô) không chỉ đơn giản là một
người giảng bài, mà c̣n là một chuyên gia về một lĩnh vực chuyên
môn (khác với bậc trung học, người thầy không phải là một chuyên
gia). Để truyền đạt hữu hiệu đến sinh viên, ngoài những kĩ năng
sư phạm, người thầy cần phải có kiến thức về chuyên ngành để có
thể khai triển những lí thuyết và ư tưởng từ nội dung của giáo
tŕnh. Những kiến thức này có thể tiếp thu qua nghiên cứu khoa
học. Nhưng “hộ chiếu” để làm nghiên cứu khoa học là học vị tiến
sĩ. Do đó, không ngạc nhiên khi thấy các trường đại học Tây
phương xem văn bằng tiến sĩ như là một tiêu chuẩn tối thiểu để
được bổ nhiệm làm giảng viên hay giáo sư đại học. Một phần lớn
các chỉ tiêu về chất lượng giáo dục đại học xoay quanh tŕnh độ
của người thầy và nghiên cứu khoa học.
Ở
đại học, nghiên cứu khoa học thường do các nghiên cứu sinh cấp
thạc sĩ và tiến sĩ thực hiện dưới sự chỉ đạo của các giảng viên
và giáo sư. Để đủ tư cách hướng dẫn luận án cấp thạc sĩ và tiến
sĩ, giảng viên hay giáo sư phải hội đủ một số điều kiện như có
chương tŕnh nghiên cứu tầm cỡ, có cơ sở vật chất sẵn có, và
quan trọng hơn là có kinh nghiệm làm nghiên cứu khoa học tầm
quốc tế. V́ thế, một tiêu chuẩn quan trọng cần được đặt ra là
phần trăm giảng viên và giáo sư có khả năng hướng dẫn luận án
cấp thạc sĩ và tiến sĩ.
Sản
phẩm chính của nghiên cứu khoa học là những bài báo khoa học
công bố trên các tập san quốc tế. Những bài bào hay công tŕnh
có chất lượng cao thường được công bố trên các tập san có chỉ số
ảnh hưởng (impact factor) cao, hoặc có số lần trích dẫn
(citations) cao. Do đó, một tiêu chuẩn được đa số chuyên gia
chấp nhận là chuẩn mực để đánh giá chất lượng nghiên cứu khoa
học là số bài báo khoa học được công bố trên các tập san quốc tế
tính trên mỗi GV/GS và số lần trích dẫn các bài báo khoa học từ
trường trong ṿng 2 năm qua tính trên mỗi GV/GS. Ngoài ra, một
số tiêu chuẩn khác cũng phản ảnh uy tín của trường là số bằng
sáng chế (patent) đă được công nhận và đăng kí với một cơ quan
bản quyền quốc tế, số giáo sư và sinh viên nước ngoài theo học
tại trường, và số bằng khen hay số lần các giáo sư được mời làm
chủ tọa các hội nghị quốc tế.
Nhưng nghiên cứu khoa học đ̣i hỏi cơ sở vật chất, và đặc biệt là
thông tin (thư viện) và các thiết bị để sử dụng,
kể cả công nghệ thông tin. Một đại học có chất lượng tối thiểu
cũng phải có đủ không gian (kể cả bàn, ghế) cho giảng dạy, có
pḥng labo với thiết bị đầy đủ cho thí nghiệm và thực tập, có hệ
thống hỗ trợ bằng công nghệ thông tin để giảng viên và học sinh
có thể truy cập internet miễn phí, và nhất là hệ thống thư
viện. Có thể nói không ngoa rằng thư viện và công nghệ thông
tin là bộ mặt của một trường đại học. Cho dù một đại học có
100% giảng viên với tŕnh độ tiến sĩ, mà không có thư viện tốt
hay thiết bị công nghệ thông tin dồi dào th́ cũng trường đại học
không thể nào làm nghiên cứu khoa học tốt, không thể nào giảng
dạy tốt được. Đề cập đến chất lượng giáo dục đại học nhất định
phải đề cập đến các chỉ tiêu quan trọng về đầu tư cho thư viện
và công nghệ thông tin.
Nhiều nghiên cứu trong thời gian qua cho thấy một mối tương quan
tuyến tính giữa điểm của sinh viên và số lần trao đổi giữa sinh
viên và GS/GV [13]. Do đó, mối tương tác giữa giảng viên / giáo
sư (GS/GV) và sinh viên và tỉ số sinh viên trên mỗi GS/GV từng
được xem là hai tiêu chuẩn phản ảnh chất lượng giáo dục của một
đại học.
Đầu ra là những tiêu chuẩn phản ảnh t́nh trạng của
sinh viên sau khi tốt nghiệp [17]. Giáo dục bậc cao có bốn chức
năng chính: một là đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng của cá nhân
về tri thức, để họ có thể tự khai thác tiềm năng của ḿnh và
cống hiến lại cho xă hội; hai là cung cấp cho xă hội một lực
lượng lao động có tŕnh độ chuyên môn cao, cần thiết cho sự tăng
trưởng và giàu mạnh của một nền kinh tế hiện đại; ba là khai hóa
xă hội, hướng dẫn dư luận, góp ư về đường lối và chính sách của
nhà nước; và bốn là thu thập hay sáng tạo ra kiến thức qua
nghiên cứu và chuyển giao những kiến thức này đến xă hội. v́
thế, “sản phẩm” chính của giáo dục đại học là sinh viên tốt
nghiệp với tŕnh độ chuyên môn cao. Đây cũng là những tiêu
chuẩn khó định lượng chính xác, v́ các chuyên gia vẫn chưa nhất
trí cách đánh giá. Tuy nhiên, người ta ghi nhận rằng danh tiếng
(phản ảnh gián tiếp chất lượng giáo dục) của một trường đại học
thường gắn liền sự sự thành đạt của sinh viết nghiệp từ trường
đó. Các đại học như Harvard, Yale, Princeton, v.v… sở dĩ có
tiếng trên thế giới là v́ những sinh viên tốt nghiệp từ các
trường này thường giữ những chức vụ quan trọng trong guồng máy
kinh tế hay Nhà nước. Do đó, các tiêu chuẩn trong phần “đầu ra”
cụ thể là tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp, có việc làm, sự hài ḷng
của doanh nghiệp hay cơ quan tuyển dụng, sinh viên quay lại theo
học tiếp cấp thạc sĩ hay tiến sĩ, v.v…
Dựa
vào các chuẩn mực trên, tôi đă lập một danh sách các tiêu chuẩn
cụ thể để thẩm định chất lượng giáo dục đại học (Bảng 3).
Các tiêu chuẩn này được tổng hợp từ các chỉ tiêu để đánh giá
chất lượng giáo dục đại học ở các nước Mĩ, Anh, Úc và Canada.
Tuy nhiên, một số tiêu chuẩn này mang tính đặc thù cho t́nh h́nh
ở nước ta (và không có trong danh sách tiêu chuẩn của các nước
khác). Chẳng hạn như tỉ lệ GS/GV thạo tiếng Anh đựợc đưa thành
một tiêu chuẩn v́ đây là vấn đề được Bộ GDĐT nêu lên trong Hội
nghị về chất lượng đại học vừa qua. Tính chung, có 43 tiêu
chuẩn được xếp theo 5 tiêu chí: thành phần sinh
viên, cơ sở vật chất cho học tập, giảng viên / giáo sư,
nghiên cứu khoa học, và sinh viên tốt nghiệp theo cách tiếp cận
đầu vào – qui tŕnh – đầu ra.
Cần nghiên cứu khoa
học
Ngày nay, nước ta có nhiều (có lẽ quá nhiều) đại học, và con số
vẫn c̣n tăng hàng năm. Nhưng chưa ai biết chính xác chất lượng
của các trường đại học Việt Nam như thế nào, thậm chí các trường
này có xứng đáng hay hội đủ điều kiện của một đại học hay
không. Công chúng ngưỡng mộ đại học, nhưng thường không hiểu sự
vận hành phức tạp của đại học ra sao.
Trong khi đó, có nhiều tín hiệu trái ngược nhau từ các giới chức
về chất lượng: có quan chức giáo dục cho rằng chất lượng giáo
dục nước ta chẳng thua kém ai, và lấy các thành tựu trong những
ḱ thi như thi toán quốc tế để minh chứng; nhưng cũng có người
nhận định rằng chất lượng giáo dục đại học ở nước ta c̣n quá
thấp. Có
ư kiến cho rằng trong số giáo sư và phó giáo sư ở nước ta
hiện nay, chỉ có 15-20% có tŕnh độ thật sự tương xứng với chức
vụ, và tŕnh độ của sinh viên tốt nghiệp đại học hiện nay chỉ
bằng đại học đại cương (hai năm đầu của đại học nước ngoài), cao
học bằng đại học, và tiến sĩ chỉ bằng cao học.
Không một trường đại học nào của Việt Nam có trong danh sách xếp
hạng đại học trên thế giới của THES, Guardian, Maclean, hay Đại
học Giao thông Thượng Hải. C̣n theo cách xếp hạng của
Webometrics, chỉ có 7 trường đại học của Việt Nam nhưng ở vị
trí thấp nhất trong bảng: ĐH Khoa học tự nhiên TP.HCM xếp hạng
1.920, ĐH Công nghệ TP.HCM hạng 2.190; ĐH Cần Thơ hạng 2.532; ĐH
Quốc gia Hà Nội: hạng 2.850; ĐH Bách khoa Hà Nội hạng 3.156; ĐH
Công nghệ hạng 4.217; và ĐH Quốc gia TP.HCM hạng 4.462. Tuy
cách xếp hạng, như đề cập trong phần trên, không đáng tin cậy,
nhưng các hạng của đại học ta cung cấp một tín hiệu về chất
lượng không cao.
Do
đó, vấn đề kiểm định chất lượng cần được đặt ra nghiêm túc. Nếu
chúng ta không làm, sẽ có người khác làm cho chúng ta (và điều
đó khó chấp nhận được). Chẳng hạn như một đại học nhỏ ở Trung
Quốc thực hiện xếp hạng các đại học ở … Nga. Do đó, nỗ lực của
Bộ GDĐT trong việc kiểm định chất lượng rất đáng hoan nghênh.
Theo Bộ GDĐT có 7 nguyên nhân cho việc “hạn chế” chất lượng giáo
dục đại học ở nước ta. Một trong những nguyên nhân đó, theo
phân tích của Thứ trưởng Bành Tiến Long, là “tiêu chuẩn
đảm bảo chất lượng trong giáo dục đại học chưa cụ thể và không
rơ ràng”. Nhưng tiếc thay, 10 tiêu chuẩn mà Bộ GDĐT vừa ban
hành cũng thiếu tính cụ thể và không rơ ràng. Tôi có cảm giác
10 tiêu chuẩn mà Bộ GDĐT tŕnh bày c̣n quá đơn giản. Theo tôi,
không nên đưa các tiêu chuẩn đó cho các đại học thực hiện, v́
chưa có tiêu chuẩn nào cụ thể và h́nh như cũng chưa có những
nghiên cứu khoa học nghiêm chỉnh để hợp lí hóa các tiêu chuẩn
đó.
Trong bài viết này tôi đă tŕnh bày nguyên lí
đằng sau những tiêu chuẩn chất lượng và một danh sách gồm 43
tiêu chuẩn được tuyển chọn từ các đại học ở Mĩ, Anh, Canada và
Úc. Tôi tin rằng so với các bảng tiêu chuẩn khác trên thế giới,
bảng tiêu chuẩn cụ thể trong Bảng 3 thể hiện đầy đủ
nhất.
Tuy nhiên, vẫn c̣n nhiều vấn đề phải
thống nhất trong định nghĩa từng tiêu chuẩn. Chẳng hạn như cần
phải thống nhất thế nào là một giảng viên hay giáo sư hội đủ
điều kiện để hướng dẫn nghiên cứu sinh cấp tiến sĩ, hay sử dụng
thang điểm nào để đánh giá tŕnh độ tiếng Anh (hay một ngoại
ngữ), hay các chi tiết về "bỏ học", v.v… Đây là những vấn đề kĩ
thuật cần phải thống nhất trước khi ứng dụng.
Hai yêu cầu cơ bản của bất cứ một đo
lường nào là độ tin cậy (reliability) và độ chính xác
(accuracy). Độ tin cậy phản ảnh tính nhất quán của biến đo
lường khi được ứng dụng nhiều lần trong một điều kiện. Độ chính
xác của một đo lường cung cấp cho chúng ta biết đo lường thật sự
phản ảnh được bao nhiêu
bản chất của vấn đề chúng ta cần biết. Chỉ khi
nào các tiêu chuẩn chất lượng đáp ứng hai yêu cầu này th́ mới có
thể áp dụng rộng răi. Để biết độ tin cậy và chính xác của các
tiêu chuẩn chất lượng, cần phải có nghiên cứu. Do đó, ưu tiên
trước mắt có lẽ là tiến hành một nghiên cứu sơ bộ để xác định độ
tin cậy và chính xác của các tiêu chuẩn chất lượng giáo dục.
Những tiêu chuẩn trong Bảng 3 mang tính
đơn lẻ. Chúng ta vẫn cần một biến số tổng hợp các tiêu chuẩn để
so sánh khách quan giữa các đại học. Có vài phương pháp thống
kê để tổng hợp các tiêu chuẩn. Phương pháp đơn giản nhất là
cộng các tiêu chuẩn thành một điểm. Nhưng phương pháp này có
nhược điểm là xem tất cả các tiêu chuẩn có cùng trọng số (rất có
thể không hợp lí trong thực tế), và do đó, kết quả có thể thiếu
tính khách quan. Một phương pháp thứ hai là t́m những trọng số
cho 5 tiêu chí qua nghiên cứu thực tế. Việc này có thể thực
hiện qua lần kiểm định chất lượng lần thứ nhất. Có thể sử dụng
mô h́nh phân tích yếu tố (factor analysis) để t́m các trọng số,
và sử dụng cho các lần kiểm định chất lượng sau. Một phương
pháp tương đối phức tạp hơn là sử dụng mô h́nh phân tích tuyến
tính theo trường phái Bayes [18-19] mà các nhà nghiên cứu giáo
dục Anh đă ứng dụng trong việc xếp hạng đại học ở Anh. Nói cách
khác, các tiêu chuẩn tôi tŕnh bày trong bài này chỉ là cái
khung, vẫn cần phải tiến hành các nghiên cứu để thu thập các
thông số cho mô h́nh tính toán và hoàn chỉnh một số vấn đề kĩ
thuật trước khi ứng dụng xếp hạng cho các trường đại học.
Tăng cường vai tṛ của
hiệp hội chuyên môn và doanh nghiệp
Bởi v́ "đầu ra" của giáo dục đại học
là những chuyên gia làm việc trong các chuyên ngành. Ở các nước
tiên tiến và các nước trong vùng, các hiệp hội chuyên ngành
(ngoài chính phủ) đóng một vai tṛ quan trọng trong việc thẩm
định tŕnh độ thực hành và kiểm định chất lượng đào tạo. Chẳng
hạn như ở Mĩ, Úc, Canada, Singapore, hay ngay cả ở Thái Lan, có
những hiệp hội y khoa chuyên ngành mà trong đó các thành viên
đều phải trải qua những cuộc thi tuyển do các hiệp hội đứng ra
tổ chức và kiểm tra. Ngay cả các course học ở đại học cũng đều
có sự tham vấn và phê chuẩn của các hiệp hội này.
Nhưng rất tiếc là ở nước ta, các
hiệp hội chuyên môn vẫn chưa (hay chưa được giao vai tṛ) đảm
trách các chức năng trên. Có lẽ chính v́ lí do này mà có không
ít môn học được giảng dạy trong các đại học thiếu tính thực tế
hay không đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp. Đă có nhiều
thống kê nói lên t́nh trạng này. Theo thống kê của Bộ Giáo dục
và Đào tạo ở trong nước, hàng năm có khoảng 20.000 sinh viên tốt
nghiệp đại học và cao đẳng ; trong số này, chỉ có 50% sinh viên
tốt nghiệp kiếm được việc làm sau khi tốt nghiệp. Ngay cả những
sinh viên đă t́m được việc làm, họ đều phải được huấn luyện lại,
nhất là ở các công ti ngoại quốc. Theo nghiên cứu của bà
Maureen Chao thuộc Trường Đại học Seattle (Mĩ), trong nhiều công
ti liên doanh với Việt Nam, hầu hết sinh viên Việt Nam đều phải
được đào tạo lại cả về chuyên môn lẫn kĩ năng giao tiếp !
Ở Mĩ, một trong những chỉ tiêu đánh
giá chất lượng giáo dục đại học là đánh giá của các hiệp hội
chuyên môn về các môn học của đại học. Ở nước ta, chỉ tiêu này
chưa thể ứng dụng được v́ vai tṛ của các hiệp hội chuyên môn
vẫn c̣n khá lu mờ trong các lĩnh vực liên quan đến huấn luyện và
đào tạo. Tuy nhiên, một cách đánh giá khác là qua thăm ḍ ư
kiến của các doanh nghiệp tư nhân và cơ quan Nhà nước về khả
năng của sinh viên tốt nghiệp đang công tác trong các cơ sở này.
***
Để tạm kết bài này, xin nhắc lại một câu chuyện
bên lề : trong một bài báo về Việt Nam đăng trên tờ New York
Times cách đây không lâu, phóng viên Seth Mydans nhận xét
rằng Việt Nam là một nước có một nguồn nội lực rất lớn chưa được
khai thác: đó là con người Việt Nam. Nếu được khai thác, nhà
báo viết tiếp, Việt Nam sẽ làm cho các nước Á châu khác phải tủi
thẹn. Ở nước ngoài, những thành công của giới khoa học và giới
trẻ gốc Việt đă từng làm cho nhiều chính khách như Lư Quang Diệu
của Singapore phải ngưỡng phục. Nhiều người ở trong nước xưa
kia chỉ là những học sinh trung b́nh, thậm chí kém, nhưng khi ra
nước ngoài, đă đạt được nhiều thành tích ngoạn mục trong các đại
học hàng đầu ở Mĩ và các nước Tây phương khác. Điều này cho
thấy học sinh Việt Nam ta có tiềm năng rất lớn, và nếu có cơ hội
và môi trường thuận tiện, họ sẽ trở thành một đội ngũ chuyên
viên có thể đóng góp quan trọng cho đất nước. Một cách “khai
thác” tiềm năng của thanh niên là phải có sẵn những đại học có
chất lượng cao, hay ít ra là tương đương với các nước tiên tiến
trong vùng. Hi vọng rằng các tiêu chuẩn và đề nghị trong bài
này sẽ giúp nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo ở nước lên
một tầm cao hơn, để ước mơ các đại học nước ta sánh vai cùng các
đại học quốc tế không c̣n măi măi là một mơ ước.
Chú
thích và tài liệu tham khảo:
[1] Xem bài Chi tiêu cho
giáo dục: Những con số "giật ḿnh"!
Vietnamnet 13/2/06.
[2] Xem Qui định đánh giá chất
lượng giáo dục trường đại học” (sẽ gọi tắt là “tiêu chuẩn giáo
dục đại học tại
trang nhà của Bộ GDĐT.
[3] Cheng YC, Tam WM.
Multimodels of quality of education. Quality Assurance in
Education 1997; 5:22-31.
[4] Pounder J. Institutional
performance in higher education: is quality a relevant concept?
Quality Assurance in Education 1999; 7:156-63.
[5] Harvey L, Knight PT.
Transforming higher education. Buckingham: SRHE and Open
University Press 1996.
[6] Liu NC, Cheng, Y. Academic
Ranking of World Universities – Methodologies and Problems.
Higher Education in Europe 2005; 30(2), 14.
[7] Stella A, Woodhouse D.
Ranking of Higher Education Institutions (Vol. AUQA
Occasional Publications Number 6): Australian Universities
Quality Agency 2006.
[8] Marginson S. Global
university comparisons: the second stage, International
Trends in University Rankings and Classifications - Griffith
University/ IRU Symposiumi 2007.
[9] Macleans.ca. (2006, November
2006). Universities by the Number. Macleans.ca.
[10]
The Guardian
University Guide :
http://education.guardian.co.uk/universityguide.
[11] Websometrics Ranking of
World University
www.webometrics.info
[12] Newsweek International
Edition (2006). The Complete List: The Top 100 Global
Universities. Web:
http://www.msnbc.msn.com/id/14321230/site/newsweek.
[13]
Dill DD, Soo M. Is There a
Global Definition of Academic Quality?: A Cross-National
Analysis of University Ranking Systems. Paper presented at
the Public Policy for Academic Quality Research Program 2004.
[14] Usher A, Savino M. A
World of Difference: A Global Survey of University League Tables.
Toronto: Educational Policy Institute 2006.
[15] Turner D. Benchmarking in
universities: league tables revisited. Oxford Review of
Education 2005;31(3), 353-371.
[16] van Dyke N. Twenty Years of
University Report Cards. Higher Education in Europe,
2005;30(2), 103-125.
[17] Dill DD, Soo M. Academic
Quality, League Tables, and Public Policy: A Cross-National
Analysis of University Ranking Systems. Higher Education
2005;49:495-533.
[18] Goldstein H, Spiegelhalter
DJ. League tables and their limitations: statistical issues in
comparisons of institutional performance (with Discussion).
Journal of the Royal Statistical Society series A 1996;
159:385-443.
[19] Draper D, Gittoes M.
Statistical analysis of performance indicators in UK higher
education. Journal of the Royal Statistical Society series A
2004; 167:449-474.
|
Bảng 3. Tiêu
chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục đại học (đề nghị)
|
|
Tiêu chí |
Tiêu chuẩn
|
|
Thành phần sinh
viên |
1.
Điểm trung b́nh của thí sinh ghi danh theo học
tại đại học;
2.
Điểm trung b́nh của thí sinh được tuyển vào đại
học;
3.
Phần trăm sinh viên nhận học bổng, sinh viên tài
năng, từng chiếm giải quốc gia và quốc tế;
4.
Phần trăm sinh viên từ tỉnh lẻ hay nông thôn,
người dân tộc, hay xuất thân từ các gia đ́nh khó khăn về
kinh tế.
|
|
Cơ sở vật chất cho
học tập |
5.
Phần trăm GV/GS toàn thời gian;
6.
Phần trăm GV/GS có văn pḥng riêng;
Các chỉ tiêu sau đây tính trên đầu
người sinh viên:
7.
Ngân sách được tài trợ từ Nhà nước;
8.
Tổng chi tiêu hàng năm;
9.
Tổng chi tiêu về dịch vụ (service);
10.
Tổng chi tiêu về thư viện;
11.
Số lượng bàn ghế;
12.
Số lượng sách và tập chí khoa học;
13.
Số lượng nhân viên dịch vụ và phụ trợ;
14.
Số lượng máy tính;
15.
Điểm truy cập internet.
|
|
Giảng viên / giáo sư (GV/GS)
|
16.
Phần trăm GV/GS có học vị tiến sĩ;
17.
Phần trăm GV/GS có khả năng hướng dẫn luận án
thạc sĩ và tiến sĩ;
18.
Phân trăm GV/GS có khả năng giảng bằng tiếng Anh;
19.
Tỉ số sinh viên trên mỗi GV/GS;
20.
Số course dạy tính trung b́nh trên mỗi GV/GS;
21.
Lương bổng trung b́nh cho GV/GS;
22.
Số lần liên lạc giữa GV/GS và sinh viên trong
ṿng một niên khóa;
|
|
Nghiên cứu khoa học |
23.
Phần trăm ngân sách nhà trường dành cho nghiên
cứu khoa học;
24.
Tài trợ được cấp cho các dự án nghiên cứu khoa
học tính trên đầu người GV/GS;
25.
Tỉ lệ thành công trong việc xin tài trợ cho các
đề cương nghiên cứu;
26.
Số lượng GV/GS tham gia nghiên cứu khoa học và có
công tŕnh công bố;
27.
Số bài báo khoa học được công bố trên các tập san
quốc tế tính trên mỗi GV/GS;
28.
Số lần trích dẫn các bài báo khoa học từ trường
trong ṿng 2 năm qua tính trên mỗi GV/GS;
29.
Số bằng sáng chế được cấp;
30.
Số bằng khen cho GV/GS cấp quốc gia và quốc tế;
31.
Số GV/GS được mời làm chủ tọa các hội nghị quốc
gia và quốc tế;
32.
Số lượng GV/GS có hợp tác nghiên cứu với đồng
nghiệp nước ngoài;
33.
Số nghiên cứu sinh nước ngoài theo học hay nghiên
cứu tại trường;
|
|
Sinh viên tốt nghiệp |
34.
Tỉ lệ sinh viên bỏ lớp hay rời trường;
35.
Tỉ lệ tốt nghiệp so với lúc ghi danh;
36.
Phần trăm sinh viên tốt nghiệp có việc làm (hay
tự lập doanh nghiệp) trong ṿng 1 năm sau tốt nghiệp;
37.
Phần trăm sinh viên tốt nghiệp có việc làm trong
các công ti nước ngoài;
38.
Phần trăm sinh viên có bằng ngoại ngữ hay tiếng
Anh;
39.
Phần trăm sinh viên có bằng vi tính và thông thạo
sử dụng máy tính;
40.
Lương hay thu nhập trung b́nh sau khi tốt nghiệp
1 năm;
41.
Sự hài ḷng của các doanh nghiệp tuyển dụng;
42.
Phần trăm sinh viên tốt nghiệp quay lại trường
tiếp tục theo học thạc sĩ hay tiến sĩ;
43.
Phần trăm sinh viên tốt nghiệp tiếp tục theo học
sau đại học tại các trường khác. |
|