Alexandre Yersin và Việt Nam
Nguyễn Văn Tuấn
Trong ngành vi sinh học (microbiology) Yersin là
một trong những tên tuổi lịch sử, v́ chính ông là người phát
hiện vi khuẩn bệnh dịch hạch (mang tên Yersinia pestis).
Trên trường quốc tế, tên ông thường gắn liền với Việt Nam: nói
đến Yersin là nói đến Việt Nam. Có thể nói Yersin là một nhà
khoa học Việt Nam, v́ tên tuổi và sự nghiệp của ông gắn liền với
Việt Nam, và Việt Nam là quê hương của ông. Thế nhưng so với sự
nghiệp và công trạng khoa học đồ sộ của ông, sách vở viết về ông
vẫn c̣n rất khiêm tốn. Điều may mắn là dù Yersin đă qua đời gần
60 năm về trước, nhưng ông đă để lại gần 1000 lá thư, và t́m
hiểu những lá thư này cho chúng ta thấy đằng sau tên vi khuẩn là
một con người, một người nhân hậu đă để lại một di sản quí báu
chẳng những cho Việt Nam mà c̣n cho cả thế giới.
Cuộc đời và sự nghiệp
 |
| Alexandre Émile John Yersin |
Alexandre Émile John Yersin sinh ngày 22 tháng 9
năm 1863 tại làng Lavaux, Quận Vaud, bên bờ hồ Geneva, Thụy Sĩ.
Sau khi theo học trung học phổ thông ở Lausanne,
ông sang Paris theo học y khoa tại Đại học Marburg. Năm
1888, Yersin hoàn tất luận án tiến sĩ y khoa với đề tài bệnh lao
(La tuberculous expérimental, type Yersin). Luận án được
đánh giá cao và ông được thưởng huy chương đồng, nhưng ông nhận
một cách miễn cưỡng. Trong thời gian theo học y khoa, trong
một tai nạn bị chảy máu tay khi ông làm giải phẫu trên xác tử
thi chết v́ bệnh dại, ông được tiếp xúc với
Pierre-Paul-Émile Roux (1853-1933), một nhà khoa học nổi tiếng
thời đó đang theo đuổi một công tŕnh nghiên cứu về phương pháp
chữa trị bệnh dại. Roux cứu sống Yersin bằng cách tiêm thuốc do
chính Roux bào chế. Sau khi tốt nghiệp, Yersin được Roux thu
nhận vào làm việc với vai tṛ phụ tá nghiên cứu. Năm 1889,
Yersin c̣n được giao thêm một nhiệm vụ dạy học môn vi sinh học
tại Viện Pasteur.
Thời gian làm phụ tá cho Giáo sư Roux, Yersin c̣n có
cơ hội làm tại Bệnh viện nhi đồng (Hôpital des
Enfants-Malades), nơi mà bệnh bạch hầu đang là một vấn nạn y
tế lớn lúc đó. Yersin thuyết phục Roux nên nghiên cứu về bệnh
này. Roux và Yersin tiến hành một số thí nghiệm trên chuột, và
từ đó phát triển phương pháp truy t́m toxin diphthérique
(độc tố bạch hầu) từ nước tiểu của bệnh nhân. Tiến thêm một
bước, Yersin và Roux phát triển vắc-xin thành công dùng cho việc
chữa trị bệnh bạch hầu. Đây là một khám phá đầu tiên và một
cống hiến quan trọng của Yersin cho vi sinh học. Lúc bấy giờ,
sinh học đang ở trong một “Thời đại vàng son của
vi khuẩn học” – “Golden Age of Bacteriology”, một cuộc cách mạng
về tiêm chủng và vắc-xin.
Với một thành tích đầy hứa hẹn như thế, ai cũng thấy Yersin có
một tương lai sáng sũa trong khoa học. Ấy thế mà ông lại quyết
định bỏ sự nghiệp nghiên cứu trước sự kinh ngạc của người thầy
(Roux) để “Đông du”. Yersin xin nghỉ việc từ Viện Pasteur và đệ
đơn xin làm y sĩ cho Công ti vận chuyển đường
biển, Messageries Maritimes. Ngày 5/3/1890, ông được kêu
lên phỏng vấn, và đem theo một lá thư giới thiệu của Louis
Pasteur. Với một người giới thiệu nổi tiếng như thế, Công ti
lập tức nhận Yersin vào làm, dù ông chưa bao giờ có kinh nghiệm
đi biển bao giờ.
Tháng 9 năm 1890, Yersin đi xe lửa đến Marseille
và từ đó xuống tàu Oxus đi Sài G̣n. Yersin đến Sài G̣n
ngày 15/10/1890, và ngay sau đó được giao nhiệm vụ mới trên tàu
Volga chuyên chở hàng qua lại giữa Sài G̣n và Manila (Phi
Luật Tân). Nhiệm vụ trên tàu Volga rất đơn giản và có
khi nhàm chán, ông chỉ việc kiểm tra sức khỏe thủy thủ đoàn và
cấp giấy chứng nhận y tế. Do đó, Yersin có rất nhiều thời gian
để học về hàng hải và hải đồ (cartography) dưới sự chỉ dẫn của
các thuyền trưởng. Chính những kinh nghiệm học hỏi trên tàu
Volga đă giúp ông trong công cuộc thám hiểm trong nội địa
Đông Dương sau này. Trên tàu Volga, Yersin c̣n t́m cách
học tiếng Việt để ông có thể nói chuyện với thủy thủ đoàn mà
phần lớn là người Việt Nam.
Đầu năm 1891 Công ti Messageries hủy bỏ
các chuyến tàu giữa Sài G̣n và Manila, Yersin được thuyên chuyển
sang làm việc trong các chuyến tàu giữa Sài G̣n và Hải Pḥng.
Tuyến đường mới này giúp ông khám phá thêm về Việt Nam. Ông c̣n
bỏ tiền ra mua một chiếc ca-nô để đi thám hiểm các vùng sâu xa
khác trong Việt Nam. Trong các chuyến thám hiểm ở những vùng
hẻo lánh, ông trị bệnh cho dân làng hoàn toàn miễn phí. Ḷng
nhân đạo của ông được thể hiện qua một lá thư ông viết về nhà ở
Thụy Sĩ: “Tôi không thể nào đ̣i tiền từ một bệnh nhân.”
Mùa Thu năm 1891, hợp đồng của Yersin với công ti Messageries
chấm dứt, và ông bắt đầu dành hết th́ giờ để theo đuổi “nghề”
thám hiểm.
Mùa Đông năm 1892 Yersin trở về Âu châu để tham
viếng gia đ́nh ở Thụy Sĩ và gặp gỡ các đồng nghiệp cũ ở Paris,
nơi mà ông mô tả “thời tiết … quả là khắc nghiệt ghê gớm,
buồn chán, và lạnh quá.” Khi hay tin ông về Paris, Émile
Roux hoan hỉ chờ đón Yersin tiếp tục nghiên cứu với ông, nhưng
Yersin đă quyết định bỏ sự nghiệp nghiên cứu khoa học ở Pháp.
Quyết định của Yersin không phải v́ thời tiết giá lạnh, mà v́ “Đối
với một người đă từng nếm mùi tự do như tôi, đời sống trong
pḥng thí nghiệm ở Paris quả là một nhà tù. Nghiên cứu khoa học
rất ư là thú vị, nhưng ông Pasteur từng nói rất chính xác rằng
muốn làm người thiên tài trong pḥng thí nghiệm người đó phải có
tiền nhiều để không phải sống trong cảnh thiếu thốn.” Tuy
nhiên, với sự tiến cử của Roux, Hiệp hội Địa lí Pháp (French
Geographic Society) vinh danh Yersin bằng một bằng tưởng thưởng
về chuyến thám hiểm ở Phnom Penh. Trong chuyến quay lại Paris
lần này, Yersin cho biết ông được dùng một bữa cơm tối với Louis
Pasteur, và được Pasteur “tỏ ư vui mừng về những chuyến thám
hiểm của tôi.” Đối với Yersin được dùng bữa cơm và được
Pasteur khen ngợi là một vinh dự.
Tháng 1 năm 1893, Yersin quay trở
lại Sài G̣n. Lần này, Yersin được giao cho một chức vụ đúng với
sở thích và ngành nghề ḿnh: làm cao ủy y tế thuộc địa. Một
trong những qui định của công việc là phải mặc quân phục và hành
xử nghiêm chỉnh trong các buổi lễ. Nhưng Yersin không thể nào
tuân hành theo qui định này, v́ ông không thích mặc đồng phục.
“Điều làm tôi khó chịu là những người thuộc cấp phải chào tôi
theo cung cách quân sự, và tôi cũng phải chào các quan
cấp cao hơn tôi theo cung cách như thế. Tôi không thể nào đi ra
ngoài mà không phải dơ tay chào. Lúc nào tôi cũng phải bận tâm
làm sao đừng đi ngang qua mấy ông đại tá, đại úy ,,,” Ông
muốn thoát khỏi Sài G̣n. Để thực hiện ư định này, ông tổ chức
những đợt thám hiểm các vùng rừng núi thuộc miền Trung Việt Nam.
Những cuộc thám hiểm của ông thường gặp phải khó khăn, v́ mưa
gió, śnh bùn, và lụt lội. Trong một chuyến thám hiểm ông phải
đổi cái máy hát mua ở Thụy Sĩ để có một con voi dùng làm chuyên
chở hàng hóa và dụng cụ.
Trong thập niên 1890s, nạn dịch cúm
hoành hành ở miền Nam Trung Quốc và bắt đầu lan truyền xuống
Đông Dương. Năm 1894 cơn dịch lớn xảy ra ở Hồng Kông, với
khoảng 150.000 người mắc bệnh, và tỉ lệ tử vong lên đến 95%.
Yersin được Nhà cầm quyền thuộc địa gửi đến Hồng Kông để nghiên
cứu.
Ngày 15/6/1894, Yersin đến Hồng
Kông, và chứng kiến một cảnh tượng tang tóc. Đường xá chật chội
đông người thuở nào nay trống trơn; đám tang khắp nơi; những
cuộc an táng vộ vă ... Ba ngày trước đó, Shibasaburo Kitasato,
một nhà khoa học danh tiếng người Nhật, cũng đến Hồng Kông để
nghiên cứu về bệnh dịch. Với sự yểm trợ tài lực dồi dào của
chính quyền thuộc địa Anh, Kitasato thành lập pḥng thí nghiệm
trong bệnh viện Kennedy Town. Trong khi đó, Yersin chỉ có một
cái kính hiển vi. Người Anh cũng không cho ông khám nghiệm tử
thi.
Sau đó, Yersin được giới thiệu đến
gặp Kitasato, và được Kitasato cho làm “quan sát viên”, tức chỉ
đứng nh́n nhóm của Kitasato giảo nghiệm tử thi chứ không được
trực tiếp nhúng tay vào. Yersin hết sức ngạc nhiên về phương
pháp làm việc của Katasato: họ khám nghiệm máu rất kĩ càng và
cẩn thận giảo nghiệm các cơ phận của tử thi, nhưng họ lại bỏ qua
chỗ sưng bạch hạch (bubo)!
Sau 5 ngày làm quan sát viên, Yersin
rất bực bội v́ cảm thấy ḿnh chẳng làm được ǵ. Ông quyết định
làm một việc mà y học ngày nay xem là … bất chính. Ông nhờ
người thông ngôn gốc Ư vốn có cảm t́nh với Pháp hối lộ những
thủy thủ người Anh để mua cho ông vài xác chết (v́ lúc đó các
thủy thủ này có nhiệm vụ vận chuyển xác chết). Ngày 20/6/1894
Yersin có được 1 xác chết và bắt tay vào làm việc ngay. Ông cắt
phần sưng bạch hạch và lập tức dùng kính hiển vi khám nghiệm.
Ông phát hiện “une véritable purée de microbe” – tức một
vết mờ nhạt có h́nh cái que với hai đầu tṛn. Khi thử nghiệm
với Gram stain, kết quả âm tính, nhưng với baccillus
stain th́ dương tính. Sau khi làm thí nghiệm trên 5 con
chuột khác, kết quả tương tự. Hai ngày sau, Yersin báo cho
chính quyền thuộc địa Anh biết về phát hiện của ḿnh. Người Anh
lúc đó mới cho phép ông chính thức khám nghiệm tử thi trực
tiếp. Lúc này, nhóm của Kitasato cũng bắt đầu quay sang khám
nghiệm phần sưng bạch hạch và tuyên bố rằng họ đă phát hiện ra
vi khuẩn gây bệnh bạch hầu.
Theo sau là một cuộc tranh căi ồn ào
ai là người đầu tiên đă khám phá ra plague bacillus. Có
người cho rằng Yersin và Katasato một cách độc lập cùng khám phá
ra vi khuẩn. Cho đến nay vẫn có một số sách giáo khoa đề là
Kitasato-Yersin bacillus. Nhưng qua các bài báo của
Katasato và b́nh luận của các cộng sự viên với Katasato, kết quả
Gram stain mà Katasato tuyên bố là plague bacillus
thực là streptococcus. Song, trong các thư từ để lại
Yersin có vẻ chẳng quan tâm ǵ đến cuộc tranh luận “ai trước”,
mà vẫn tiếp tục nghiên cứu [1].
Năm sau đó (1895) Yersin trỏ lại về
Paris. Dựa vào kết quả nghiên cứu ở Hồng Kông, ông cùng với
cộng sự viên phát triển thành công vắc-xin chống bệnh dịch. Năm
1896, vắc-xin này được dùng để chữa trị thành công một học sinh
nhà ḍng người Trung Quốc. Sau khi quay về Việt Nam, ông thành
lập viện nghiên cứu lấy tên người thầy cũ, gọi tên là Pasteur
Institute – Viện Pasteur. Viện Pasteur gồm có một bệnh
viện, một trung tâm sản xuất vắc-xin, pḥng thí nghiệm, và đài
thiên văn.
Nhà thám hiểm
Trong thời gian làm công chức và theo tàu đi lại
giữa Sài G̣n và Hải Pḥng, Yersin thực hiện nhiều cuộc thám
hiểm. Năm 1891 trong một lần thám hiểm vùng Tây Nguyên Việt
Nam, ông khám phá ra nhiều điều bí ẩn tại đây và phát hiện một
vùng đất ôn đới mà sau này chúng ta biết là Đà Lạt.
Trong một chuyến thám hiểm khác, Yersin bị liên
hệ vào một vụ nổi loạn của dân chúng địa phương chống lại nhà
cầm quyền thuộc địa. Ngày 18 tháng 6 năm 1893, 56 tù nhân Việt
Nam vượt ngục từ nhà tù Phan Rí và than gia với các nhóm phản
kháng khác trong một cuộc nổi dậy nhằm lật đổ chính quyền tỉnh.
Người Pháp khống chế thành công cuộc nổi dậy, nhưng đạo quân nổi
loạn thoát khỏi tỉnh và tái tổ chức. Các nhóm này băng qua các
rặng núi để đến Phan Rang tiến hành một cuộc đảo chính khác. V́
không biết được những sự kiện này, Yersin đến làng Bo Kraan
một tuần sau đó. Dân làng báo cho ông biết rằng có khoảng 30
người nổi loạn đă vượt qua đây trong đêm qua. Với thói quen
liều lĩnh, Yersin quyết định ra tay chận đứng cuộc nổi dậy!
Ngày hôm sau, ông rời Bo Kraan cùng với những người Việt tùy
tùng trung thành với ông, và băng qua núi. Sau 12 giờ đi trong
mưa, đoàn ông đối đầu với nhóm nổi loạn tại làng Pho Tan Ngam.
Yersin muốn bắt người đứng đầu nhóm nổi loạn làm tù binh.
Yersin bao dây và dồn người đứng đầu nhóm nổi
loạn vào một căn cḥi, nhưng trong giây phút cuối, những người
Việt tùy tùng của ông chạy trốn, và chỉ một ḿnh ông phải đối
diện với kẻ thù! Những chi tiết trong câu chuyện chỉ là những
chữ do chính Yersin ghi chép, do đó rất khó mà biết được đây là
một câu chuyện nói khoác hay là một câu chuyện có thật. Theo
Yersin, ông đe doạ kẻ thù ông với cây súng lục nhưng họ tấn công
ông trước khi ông có th́ giờ nổ súng. Sau một hồi quần nhau,
Yersin bị một thương nhẹ ở tay mặt và bị ăn một báng súng. May
mắn thay, những người nổi loạn không giết ông, họ bỏ mặc
ông đó rồi rời hiện trường, có lẽ họ nghĩ ông là một nhân vật
quân sự Pháp và sợ bị trả thù. Gần Nha Trang, mười ngày sau đó,
dân quân người Việt bắt trọn nhóm nổi loạn . Yersin chụp h́nh
những người đứng đầu cuộc nổi loạn trước khi họ b́ xử tử. Bằng
một mô tả sinh động, Yersin cho biết người đao phủ phải chém đến
4 lần mới chặt được đầu của Thouk, một người đứng đầu trong cuộc
nổi loạn [2].
Sau này, Yersin được thăng chức và trở thành một
trong những quan chức cao cấp nhất trong chính quyền thuộc địa ở
Đông Dương. Ông thực hiện nhiều cuộc khảo cứu, kể cả các vùng
xa xôi như Mumbai bên Ấn Độ. Ông điều hành một mạng lưới pḥng
thí nghiệm và trung tâm tiêm chủng ngừa khắp Việt Nam. Ông chủ
trương và thực hiện các chiến dịch chống sốt rét bằng cách cung
cấp quinine cho người dân bản xứ. Ông tham gia làm việc cho
Trung tâm Khí tượng Đông Dương, nghiên cứu làm bản đồ, và hải đồ
cho ngành hàng hải Việt Nam. Ông c̣n giới thiệu phương pháp
trồng trọt cây cao su tại Việt Nam, nhưng đem lại những món lời
khổng lồ cho các công ti cao su Pháp như Michelin và làm khổ
những công nhân Việt Nam trong các đồn điền cao su như thế.
Nhưng đây là một câu chuyện khác.
Năm 1940, Yersin trong t́nh trạng sức
khỏe kém quay lại Pháp lần cuối. Nhưng chỉ lưu lại Pháp một
năm; năm 1941 ông quay về Nha Trang, mảnh đất ông yêu quí.
Ngày 1 tháng 3 năm 1943, Yersin đau bệnh và qua
đời một cách cô đơn tại nhà riêng ở Suối Giao (Nha Trang. Ông
thọ 79 tuổi. Trong di chúc để lại, ông muốn được chôn cất tại
Nha Trang để gần những người ông yêu mến. Cho đến nay, cứ đến
ngày 1 tháng 3 hàng năm, dân chúng trong vùng vẫn viếng
mộ ông để tỏ ḷng mến mộ và kính phục cho một tấm ḷng khoa học
và nhân đạo.
Trong danh sách những người Pháp có ảnh hưởng
lớn đến lịch sử Việt Nam, có lẽ Yersin là một người mà công
trạng và di sản của ông chẳng những không ai chất vấn mà c̣n
được mến mộ. Tại một số thành phố lớn như Đà Lạt, Hà Nội, hay
Thành phố Hồ Chí Minh đều có con đường mang tên ông. Di sản
khoa học của ông vẫn c̣n tồn tại với những trường mang tên ông,
và nhất là Viện Pasteur. Yersin quả là một nhà khoa học đă đem
hai chữ Việt Nam và Nha Trang vào lịch sử vi sinh học trên thế
giới.
 |
| Mộ Yersin ở Nha Trang (Vietbao.vn) |
Chú thích:
[1] Chi tiết về việc làm của Yersin tại Hồng
Kông được trích dẫn từ bài viết “Alexandre Yersin and the plague
bacillus” của Tom Solomon, đăng trên [Tập san Journal of
Tropical Medicine and Hygiene năm 1995, số 98, trang 209-12.
[2] Chi tiết về vụ Yersin dính dáng vào cuộc
nổi loạn được trích trong bài luận văn “Alexandre Yersin and his
adventures in Vietnam” (Alexandre Yersin và cuộc mạo hiểm ở Việt
Nam) của Giáo sư William Burns, đăng trên Tập san y học của
Welcome Trust, Anh Quốc.
Cống hiến của Yersin cho khoa học có thể tóm
lược trong các công tŕnh khảo cứu sau đây:
Bệnh bạch hầu:
Contribution à l'étude de la diphtérie. Viết chung với
Emile Roux. Annales de l'Institut Pasteur, 1888, 2 (12):
629-661.
Contribution à l’étude de la diphtérie. Annales de
l’Institut Pasteur, 1888, 2: 629-661;
Contribution à l'étude de la diphtérie. Deuxième mémoire.
Viết chung với Emile Roux, Annales de l'Institut Pasteur, 1889,
3 (6): 273-288.
Contribution à l'étude de la diphtérie. Troisième mémoire.
Viết chung với Emile Roux. Annales de l'Institut Pasteur,
1890, 4 (7): 385-426.
Về bệnh lao
De l'action de quelques antiseptiques et de la chaleur sur le
bacille de la tuberculose. Annales de l'Institut Pasteur,
1888, 2: 60-65.
Etude sur le développement du tubercule expérimental.
Thèse de la faculté de Médecine de Paris 26 mai 1888. Annales de
l'Institut Pasteur, 1888, 2: 245-266.
Etude sur le développement du tubercule expérimentale.
Sceaux, Charaire et fils, 1888, 31 pages.
Analyse de l'article de Stschastny : sur les relations entre
les bacilles de la tuberculose et les cellules. Annales de
l'Institut Pasteur, 1889, 3 (2): 93-94.
Analyse de l'article de H. Kuhne : sur la coloration des
bacilles dans les nodules morveux. Annales de l'Institut
Pasteur, 1889, 3 (1): 44-45.
On Về bệnh dịch
Sur la peste de Hong Kong. Communication à L'Académie des
Sciences le 30-7-1894.
Comptes rendus de l'Académie des Sciences, 1894, 119: 356.
La peste bubonique à Hong Kong. Annales de l'Institut
Pasteur, 1894, 8: 662-667.
La peste bubonique à Hong Kong. Archives de Médecine
Navale, 1894, 62: 256-261.
La peste bubonique. Deuxième note. With A. Calmette and
A. Borrel. Annales de l'Institut Pasteur, 1895, 9: 589-592.
La peste bubonique. Deuxième note. Archives de Médecine
Navale, 1895, 64: 49-52.
Sur la peste (sérothérapie). Annales de l'Institut
Pasteur, 1897, 11: 81-93.
Rapport sur la peste aux Indes. Archives de Médecine
Navale, 1897, 68: 366-372.
Historique du premier cas de peste traité et guéri par
l'emploi du sérum antipesteux. Bulletin de l'Académie de
Médecine, 1897, 36: 195-199.
Rapport sur la peste bubonique de Nha Trang (Annam).
Annales de l'Institut Pasteur, 1899, 13: 251-261.
L'épidémie de peste de Nha Trang de juin à octobre 1898.
Annales d'Hygiène et de Médecine Coloniales, 1899, 2: 378-390.
Vaccination par atténuation du coccobacille de la peste.
Viết chung với C. Carré. 13e Congrés International de Médecine,
Paris, 1900.
Les épidémies de peste en Extrême-Orient. In
collaboration with Paul-Louis Simond (1858-1947). 13e Congrés
International de Médecine, Paris, 1900.
Về bệnh truyền nhiễm trong gia cầm
Notes succintes sur une épizootie de buffles, sur la
typhomalarienne et la bilieuse hématurique. Archives de
Médecine Navale, 1895, 64: 49-52.
Note sur la fièvre bilieuse hématurique. Comptes Rendus
de la Société de Biologie, 1895, 47: 447-449.
Expériences sur la peste bovine. Bulletin Economique de
l'Indochine, 1898, 2: 245.
Traitement de la peste bovine. Viết chung với C. Carré
and Fraimbault.
Annales d'Hygiène et de Médecine Coloniales, 1899, 2: 175-182.
Note sur les épizooties des bovins en Indochine. Annales
d'Hygiène et de Médecine Coloniales, 1903, 6: 467-469.
Etudes sur quelques épizooties de l'Indochine. Annales
de l'Institut Pasteur, 1904, 18 (7): 417-449.
Về thám hiểm
Notes recueillies pendant trois voyages chez les Moïs de
l'Indochine.
Archives de Médecine Navale, 1894, 61: 310-312.
Explorations et souvenirs du Docteur Yersin (souvenirs
recueillis par l'Institut Pasteur de Dalat en mai 1956.
[Dalat : Institut Pasteur, 1956].
Récit des premières explorations du Docteur Yersin dans la
chaîne annamitique, publié dans la revue Indochine de 1942 à
1943. Comprend :
Premier contact avec les pays Moïs de l'Annam.
Voyage de Nha Trang à Stung-Treng par les pays Moïs (première,
deuxième et dernière parties).
Rencontre avec des pirates sur le plateau Moï.
Première reconnaissance du plateau du Lang-Bian.
Un mois chez M'Siao (juillet-août 1893).
De Nha Trang à Tourane par les plateaux Moïs.
De Nha Trang à Tourane par les pays Moïs.
Về Viện Pasteur tại Nha Trang
L'Institut Pasteur de Nha Trang, Annam. Annales
d'Hygiène et de Médecine Coloniales, 1900, 3: 506-520.
L'Institut Pasteur de Nha Trang, Annam. Bulletin
Economique de l'Indochine, 1900: 253-265.
Về thủy thổ
La station d'altitude du Hon Ba (Annam), les essais agricoles
qui y sont poursuivis. Revue de Botanique Appliquée et
d'Agriculture Coloniale, 1925, 5: 574-582.
Essais d'acclimatation de l'arbre à quinquina en Indochine.
Première note. Revue de botanique appliquée et d'agriculture
coloniale, 1927, 7: 250-254 and 331-338.
Note sur divers essais agricoles entrepris aux stations
d'altitude des Instituts Pasteur d'Indochine. Deuxième note.
In collaboration with A. Lambert. Revue de botanique appliquée
et d'agriculture coloniale, 1927, 7: 809-816.
Note sur divers essais agricoles entrepris aux stations
d'altitude des Instituts Pasteur d'Indochine. Troisième note.
In collaboration with A. Lambert. Revue de botanique
appliquée et d'agriculture coloniale,1928, 8: 119-122.
Essais d'acclimatation de l'arbre à quinquina en Indochine.
Archives de l'Institut Pasteur d'Indochine, 1928, 8: 5-22.
Note sur divers essais agricoles entrepris aux stations
d'altitude des Instituts Pasteur d'Indochine. Quatrième note.
In collaboration with A. Lambert. Revue de botanique
appliquée et d'agriculture coloniale, 1931, 11: 301-304.
Longue survie d'hévéas brisés par un typhon. Comptes
rendus de l'Académie des Sciences, 1932, 194: 1620.
Essais d'acclimatation de l'arbre à quinquina en Indochine.
Cinquième note. In collaboration with A. Lambert. Revue de
Botanique Appliquée et d'Agriculture coloniale, 1935, 15:
225-234.
Note sur les essais d'acclimatation des quinquinas entrepris
en Indochine par l'Institut pasteur. Bulletin de la Société
Médico-chirurgicale de l'Indochine, 1936: 594-595.
Essais d'acclimatation de l'arbre à quinquina en Indochine.
Sixième note. In collaboration with A. Lambert. Revue de
Botanique Appliquée et d'Agriculture Coloniale, 1939, 19:
237-242.
Về các lĩnh vực khoa học khác
Tumeur mélanique de la plante du pied. Annales de
l'Institut Pasteur, 1887, 1 (3): 142.
Analyses de trois articles : P. Liborius : « Recherches sur
l'action désinfectante de la chaux », O. Bujwid : « une réaction
chimique pour les bacilles du choléra », Fischer : « Recherches
bactériologiques pendant un voyage aux Indes. Annales de
l'Institut Pasteur, 1887, 1 (6): 318-319.
Note sur un cas de fièvre récurrente en Indochine.
Comptes rendus de la Société de Biologie, 1906, 60: 1037-1038.
Une maladie rappelant le typhus exanthématique observée en
Indochine. In collaboration with J. J. Vassal. Bulletin de
la Société de Pathologie Exotique, 1908, 1: 156-164.
La Simaroubine dans la dysenterie amibienne. Written
with L. Braudat and Lalong-Bonnaire. Comptes rendus des travaux
du troisième Congrés Biennal de la Far Eastern Association of
Tropical Medicine, Saigon, 1913: 101-105.
Quelques observations d'électricité atmosphérique en
Indochine. Comptes rendus de l'Académie des Sciences, 1930,
191: 366-368.
|