|
Truyền thông và y tế
Nguyễn Văn Tuấn
Báo chí nước ta hàng ngày
chuyển tải nhiều bản tin liên quan đến y tế và khoa học. Những
bản tin này thường dựa vào hay dịch từ báo chí Tây phương, và
hiện tượng “tam sao thất bổn” đôi khi cũng xảy ra gây nên những
sự cố đáng tiếc. Ngoài ra, v́ dựa vào nguồn thông tin hạng thứ,
nên phóng viên không có điều kiện đề truy cập thông tin gốc, và
từ đó xảy ra một số ngộ nhận và diễn giải không chính xác, gây
hoang mang, thậm chí ảnh hưởng đến một bộ phận kinh tế trong xă
hội. Bài viết này sẽ điểm qua lịch sử của mối tương tác giữa
truyền thông và khoa học và tŕnh bày những qui tŕnh chuyển tải
thông tin khoa học đến công chúng.
Vài ḍng
lịch sử
Mối
liên hệ giữa truyền thông và y khoa có một lịch sử khá lâu đời,
phong phú và thú vị. Điểm qua các sách liên quan đến bộ môn
này, có thể nói rằng giới truyền thông bắt đầu chú ư đến các vấn
đề y tế liên quan đến t́nh trạng sức khỏe của các chính trị gia
ở Mĩ. Tháng 6 năm 1893, tổng thống Mĩ, Glover Cleveland, xuống
một chiếc du thuyền ở hải cảng New York trong một chuyến đi được
người ta biết đến như là một chuyến du ngoạn trên biển. Tuy
nhiên, trên thuyền c̣n có 5 bác sĩ giải phẫu và một nha sĩ, và
nhiệm vụ của họ là giải phẫu qui hàm trái bị ung thư của tổng
thống. Sau khi cuộc phẫu thuật hoàn tất, các quan chức Nhà
trắng cho công chúng biết đó là một cuộc … nhổ răng.
Năm 1919, sau khi tổng thống Woodrow Wilson bị tai biến mạch máu
năo, ông được các quan chức Nhà trắng khuyên phải để râu để che
lấp phía trái của mặt bị teo lại v́ cơn bệnh. Chẳng những thế,
văn pḥng ông làm việc mỗi khi khách đến thăm được điều chỉnh
ánh sáng sao cho mờ mờ để che dấu khuyết tật của ông. Tương tự,
bệnh bại liệt (polio) của tổng thống Roosevelt và bệnh Addison
của tổng thống Kennedy cũng được các quan chức Nhà trắng dấu
kín, không tiết lộ cho công chúng biết.
Măi đến năm 1955, khi tổng thống Dwight Eisenhower cho phép tiết
lộ chi tiết về việc ông vừa bị nhồi máu cơ tim và trải qua cuộc
phẫu thuật lớn do bác sĩ Paul Dudley thực hiện. Thậm chí bí thư
báo chí của tổng thống c̣n tiết lộ với báo chí về màu áo pijama
ông mặc và số lần ông … đi tiêu trong ngày! Kể từ đó, các vấn
đề y khoa không c̣n là những thông tin bí mật, mà được chia sẻ
một cách thành thật trước công chúng.
Cho đến thập niên 1980s, các bản tin liên quan đến y tế bắt đầu
xuất hiện thường xuyên trên mặt báo, hệ thống truyền thanh và
truyền h́nh, nhưng đến bây giờ sức khỏe của tổng thống không
phải là vấn đề quan tâm chính mà là các bản tin về điều trị.
Cũng chính qua những bản tin như thế này, và qua phản ảnh của
công chúng, người ta mới nhận ra được ảnh hưởng to lớn của vai
tṛ truyền thông đến y tế. Theo một cuộc thăm ḍ ư kiến ở Mĩ,
75% người được thăm ḍ cho biết họ thường theo dơi các thông tin
liên quan đến y khoa và y tế trên các phương tiện truyền thông
đại chúng. Trong số này, 58% người được hỏi cho biết họ sẵn
sàng thay đổi lối sống hay hành động theo các bản tin đó.
Tháng 10 năm 1984, tập san thần kinh học Neurosurgery
công bố một nghiên cứu điều trị bệnh Alzheimer gây chấn động dư
luận Mĩ. Phương pháp điều trị bao gồm việc cấy một cái bơm có
chức năng liên tục bơm bethanechol chloride vào năo. Chỉ 4 bệnh
nhân được điều trị, và kết quả được đánh giá một cách chủ quan
theo cảm nhận của bác sĩ. Ấy thế mà khi đến tay báo chí, phương
pháp c̣n trong ṿng thử nghiệm rất sơ khởi đó trở thành “một sự
đột phá trong việc điều trị bệnh Alzheimer”, và “các bác sĩ hi
vọng rằng bệnh Alzheimer sẽ được chinh phục nay mai”! Khi bản
tin được truyền đi, trung tâm thực hiện nghiên cứu nhận được
2600 cú điện thoại từ bệnh nhân và thân nhân xin được điều trị.
Có người thậm chí chở thân nhân đến tận nơi và kí ngay một ngân
phiếu 10.000 USD. Nhưng khi thuật điều trị đó được áp dụng cho
vài bệnh nhân khác, kết quả hoàn toàn vô dụng, và bản tin trở
nên câu chuyện hài hước cho giới y khoa.
Những mâu thuẫn giữa giới truyền thông và y khoa cũng được ghi
nhận qua những kinh nghiệm như vừa tŕnh bày trên. Y khoa, là
một ngành nghề mang tính khoa học, có truyền thống dựa vào bằng
chứng nghiên cứu khoa học thu thập từ một quần thể và được phân
tích bằng các thuật toán thống kê. Trong khi đó, truyền thông
có truyền thống nhấn mạnh đến những câu chuyện mang tính cá nhân
và phải sử dụng nhiều nguồn khác nhau, kể cả những nguồn với ư
kiến trái ngược nhau. Giới y khoa không xem ư kiến cá nhân từ
các chuyên gia là một bằng chứng đáng tin cậy, nhưng truyền
thông th́ rất kính trọng những ư kiến của chuyên gia.
Các tin nào
được truyền thông quan tâm?
Câu hỏi cơ bản nhất trong truyền thông y tế là làm sao phát
hiện, xử lí và chuyển tải một bản tin có liên quan đến công
chúng hay phản ảnh được sự quan tâm chính đáng của công
chúng. Nói cách khác, thông tin nào xứng đáng được xuất hiện
trên mặt báo? Một định nghĩa về thông tin xứng đáng được giới
chuyên môn trong cũng như ngoài y khoa chấp nhận là “bất cứ
thông tin ǵ đem lại lợi ích cho đại đa số quần chúng, nhưng
chưa bao giờ được chú ư trước đây”. Định nghĩa này thoạt đầu
xem ra đơn giản và chẳng có ǵ rắc rối, song vấn đề đặt ra là:
ai là nên quyết định thông tin đó đem lại lợi ích cho đại đa số
quần chúng.
Trong thực tế, nhiều thông tin xuất hiện trên báo được quyết
định một cách khá t́nh cờ và ngẫu nhiên. Một trong những câu
chuyện được nhắc đến nhiều nhất là “Hội chứng U2”. Câu chuyện
này xảy ra như sau: khi tổng biên tập một tờ báo lớn trên đường
đi làm xe ông gặp phải một ổ gà làm li cà phê bị đổ ra ướt bộ
veston mới toanh, ông lập tức ra lệnh cho phóng viên điều tra
cái ổ gà và thế là trở thành bản tin báo chí! Hội chứng U2 do
đó đề cập đến sự thật rằng một khi tổng biên tập hay phóng viên
cảm thấy câu chuyện có ích, và thế là người đọc cũng phải quan
tâm.
Nhưng bên cạnh cảm tính cá nhân như hội chứng U2 vừa tŕnh bày,
c̣n có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự xuất hiện của một thông tin
y tế. Trong một bài báo nghiên cứu nổi tiếng, giáo sư Jay
Winsten (Đại học Harvard) đưa ra một danh sách dài, kể cả những
thông tin có thể thu hút quảng cáo của các doanh nghiệp, đến
những thông tin có thể giúp cho việc thăng tiến sự nghiệp của
phóng viên. Theo nghiên cứu công bố trên tập san British
Medical Journal (BMJ) mới đây, các nghiên cứu với thông tin liên
quan đến sức khỏe phụ nữ và ung thư thường được chú ư và xuất
hiện trên mặt báo.
Y tế và nghiên cứu y khoa càng ngày càng tiến đến xu hướng
thương mại hóa. Những khám phá sinh học, những phương pháp chẩn
đoán và xét nghiệm đều có thể đem lại một số lợi nhuận lớn cho
trung tâm nghiên cứu. Xu hướng thương mại hóa y khoa quan tâm
đến lợi nhuận, và không ai ngạc nhiên khi có những trung tâm
nghiên cứu (kể cả viện nghiên cứu và đại học) sẵn sàng sử dụng
hệ thống truyền thông đại chúng như là một phương tiện đề kiếm
lời. Trong môi trường cạnh tranh ác liệt giữa các nhóm nghiên
cứu trên thế giới, có người không ngần ngại tung ra những bản
tin sai lầm, thậm chí lừa gạt giới phóng viên vốn không am hiểu
nghiên cứu khoa học, để thu hút đầu tư. Một trường hợp tiêu
biểu về t́nh trạng này là bản tin về việc chẩn đoán bệnh
Alzheimer bằng gien, mà người cung cấp thông tin cho báo chí là
một công ti đang phát triển một kĩ thuật gien đang cần đầu tư.
Áp lực thương mại hóa c̣n lan rộng đến các cuộc hội nghị khoa
học. Hội nghị khoa học thường là một diễn đàn cho các nhà khoa
học trao đổi thông tin một cách tự do mà không sợ sự xâm nhập
của giới truyền thông. Nhưng ngày nay, các hội nghị khoa học
đang có xu hướng biến thành một cuộc tuyên truyền và quảng cáo,
nơi mà các nhà khoa học và các “đại gia” trong ngành dược sử
dụng thông tin để thu hút sự chú ư của các nhà đầu tư.
Gần
đây một bản tin làm xôn xao dư luận không ít v́ nó liên quan đến
một “khám phá” thuật tiên lượng ai sẽ mắc hay
không mắc bệnh Alzheimer. Trong nghiên cứu này các nhà
khoa học phân tích khoảng 120 protein và so sánh biểu thị của
các protein này giữa nhóm có bệnh và nhóm không có bệnh, rồi từ
đó sử dụng các thuật toán thống kê để phát triển một mô h́nh
tiên lượng. Trên báo chí, các nhà nghiên cứu tuyên bố một cách
giật gân rằng họ đă phát triển một xét nghiệm máu đơn giản có
tiên đoán bệnh Alzheimer chính xác đến 90%. Báo chí trong nước
có vẻ thi vị hóa hơn: với một tiêu đề như “Lắng
nghe’ tế bào để phát hiện bệnh Alzheimer”. Thật ra, thuật
tiên lượng này chưa thể áp dụng rộng răi v́ chưa được xét nghiệm
độc lập ở một quần thể khác. Kinh nghiệm cho thấy xác suất mà
một thuật tiên lượng như thế thành công trong thực tế lâm sàng
chỉ 1 phần ngàn. Nói cách khác, xác suất mà nghiên cứu này rơi
vào quên lăng là rất cao (trên 99.9%). Nhưng một đềiu quan
trọng mà các bản tin báo chí không nhắc đến là Tiến sĩ Tony
Wyss-Coray (người chủ tŕ công tŕnh nghiên cứu) cũng chính là
giám đốc công ti mà ông mới thành lập chuyên phân tích protein
để tiên đoán bệnh Alzheimer, và ông đang cần thu hút nhà đầu
tư. Do đó, đằng sau mỗi "khám phá" c̣n có khá nhiều mối liên hệ
kinh tế mà phóng viên cần phải xem xét.
Nguồn thông tin
Năm 1969, bác sĩ Franz J. Ingelfinger, lúc bấy giờ là tổng biên
tập của Tập san New England Journal of Medicine (NEJM
-- một tập san số 1 trong ngành y), ra một qui ước mà sau này
được biết đến là Qui ước Ingelfinger. Theo Qui ước Ingelfinger,
tập san NEJM sẽ không công bố bất cứ bài báo nào nếu kết quả bài
báo đó đă được các cơ sở truyền thông đại chúng đưa tin. Thoạt
đầu Qui ước này bị giới báo chí phản đối dữ dội, và ngay cả giới
y khoa cũng không đồng t́nh. Nhưng ngày nay tất cả các tập san
đều chấp nhận đây là một biện pháp để đảm bảo chất lượng thông
tin y khoa đến công chúng.
Ngày nay, các bản tin y tế trên báo chí đại chúng thường dựa vào
những nghiên cứu đă công bố trong một diễn đàn khoa học. Cụm từ
“diễn đàn khoa học” ở đây bao gồm các tập san khoa học và hội
nghị khoa học. Giá trị khoa học và độ xác tín của hai diễn đàn
này không tương đương nhau. Cũng chính từ vấn đề này và cùng
với sự cạnh tranh giữa các cơ sở truyền thông, nhiều vấn đề về
truyền thông khoa học đă xảy ra và gây ra nhiều nhầm lẫn nghiêm
trọng.
Để thấy được vấn đề chuyển tải một thông tin y học, cần phải
hiểu qua qui tŕnh sản xuất của một bài báo khoa học. Thông
thường, một công tŕnh nghiên cứu y học từ lúc có kết quả sau
cùng đến khi được công bố trên một tập san khoa học thường kéo
dài từ 6 tháng đến 18 tháng (tùy theo trường hợp), và phải trải
qua một số giai đoạn như sau:
- kết quả
nghiên cứu được tŕnh bày trong một hội nghị chuyên ngành
dưới dạng một bản tóm lược (abstract, khoảng 2050-500 từ);
- sau khi
nhận được những góp ư và phản biện trong hội nghị, tác giả
chỉnh sửa lại bài báo dưới một dạng báo cáo khoa học dài hơn
(thường 5.000 đến 10.000 từ) và gửi đến một tập san y học;
- ban biên
tập tập san y học đọc qua bài báo, và nếu thấy thích hợp với
tập san, họ sẽ gửi cho ba chuyên gia trong chuyên ngành để
b́nh duyệt (hay phản biện). Phần lớn các tập san giữ kín
danh tính của ba chuyên gia này và tác giả cũng không biết
họ là ai, chỉ biết là đồng nghiệp;
- ba chuyên
gia b́nh duyệt bài báo về ư tưởng, phương pháp, kết quả,
diễn giải, h́nh thức tŕnh bày dữ liệu, v.v… và gửi lại bài
phản biện cho ban biên tập. Ban biên tập xem qua ba bài
b́nh duyệt, và nếu thấy tác giả có khả năng chỉnh sửa, sẽ
chuyển cho tác giả bài báo;
- tác giả
bài báo phải trả lời tất cả những phê b́nh của ba chuyên
gia, và nếu cần thiết, phải làm thêm thí nghiệm, và chỉnh
sửa lại bài báo một lần nữa. Tác giả lại gửi bản thảo thứ
hai của bài báo cho ban biên tập;
- ban biên
tập xem lại các trả lời của tác giả; nếu thấy đă trả lời tất
cả b́nh duyệt, có thể quyết định chấp nhận cho công bố; nếu
thấy tác giả chưa đáp ứng các yêu cầu, ban biên tập có thể
gửi lại cho ba chuyên gia để b́nh duyệt một lần nữa, hoặc họ
có thể từ chối công bố.
- nếu được
chấp nhận cho công bố, tác giả c̣n phải chờ đến khi bài báo
được công bố trên mặt báo, và khi đă công bố, trung tâm
nghiên cứu có thể ra thông cáo báo chí về công tŕnh nghiên
cứu.
Thật ra, chỉ có khoảng 1/4 các công tŕnh nghiên cứu công bố đi
kèm với một bản thông cáo báo chí. Giới phóng viên thường dựa
vào các thông cáo báo chí để viết tin. V́ dựa vào thông cáo báo
chí, nên phóng viên thường không có cơ hội đọc bài báo gốc trên
tập san khoa học. Và, qua quá tŕnh “chuyển ngữ” từ những thuật
ngữ khoa học đến các ngôn từ cho người ngoài khoa học hiểu, cũng
xảy ra t́nh trạng “tam sao thất bổn”. Thật vậy, nạn nhân của
quá tŕnh chuyển ngữ này là tính khách quan của khoa học. Trong
khi khoa học phân biệt mối liên hệ nhân quả (cause-effect
relation) và mối liên hệ tương quan (correlation hay
association), giới truyền thông th́ thích nhấn mạnh đến ảnh
hưởng mang tính nhân quả. Điều này đă gây ra rất nhiều hiểu lầm
trong công chúng.
Trên thế giới ngày nay có khoảng 3.000 tập san y sinh học được
công nhận, và con số vẫn tăng mỗi năm. Được công nhận ở đây có
nghĩa là được nằm trong danh sách của tổ chức Index Medicus.
Tiêu chuẩn mà các tập san này dựa vào để công bố hay không công
bố một bài báo khoa học cũng rất khác nhau. Một số tập san như
Science, Nature, Cell, hay Physical Reviews
chỉ công bố những bài báo khoa học mà ban biên tập cho rằng thể
hiện những cống hiến cơ bản, những phát hiện quan trọng, hay
những phương pháp mới có tiềm năng ứng dụng rộng răi trong cộng
đồng khoa học. Theo một báo cáo gần đây các tập san này chỉ
công bố khoảng 1% những bài báo họ nhận được hàng năm (tức từ
chối 99% các bài báo nhận được). Các tập san lớn và nổi tiếng
trong y học như New England Journal of Medicine,
Lancet, và JAMA từ chối khoảng 95% các bài báo
gửi đến, và chỉ công bố những bài báo quan trọng trong y khoa.
Các tập san chuyên ngành từ chối khoảng 70 đến 50% bài báo nhận
được. Các bài báo bị từ chối hoặc sẽ đi vào quên lăng, hoặc
được gửi đến các tập san kém chất lượng hơn, phần lớn các tập
san này xuất bản ở các nước Âu châu, Úc châu, hay Á châu.
Vấn
đề trở nên phức tạp khi một số nhà nghiên cứu, v́ lí do thương
mại hay vội vă, ra thông cáo báo chí ngay tại các hội nghị mà
bài báo chưa qua b́nh duyệt và chưa được chấp nhận công bố trên
một tập san khoa học. Đây là một việc làm không đúng với Qui
ước Ingelfinger, và không được giới y khoa tán thành. Nhưng
cũng có phóng viên do thiếu kinh nghiệm lại bị thu hút vào những
thông cáo báo chí như thế, và hệ quả là một số “khám phá”, “phát
hiện”, “đột phá”, v.v.. được xuất hiện trên báo đại chúng gây ra
nhiều nhầm lẫn đáng tiếc, có khi khôi hài đến mức cười ra nước
mắt.
Vai tṛ của
phóng viên và kĩ năng
Tường thuật một bản tin xă hội – chính trị khác với một bản tin
y tế và khoa học. Các sự kiện xă hội – chính trị được tường
thuật theo công thức truyền thống: ai, việc ǵ, ở đâu, lúc nào,
và tại sao. Nhưng các thông tin y khoa là một phần của ḍng
chảy các nghiên cứu hay thí nghiệm, mà dữ liệu mới thu thập được
là hệ quả của các nghiên cứu hay thí nghiệm trong quá khứ.
Trong khi các sự kiện xă hội – chính trị dựa vào sự thật và ư
kiến, các bản tin y học thường dựa vào dữ liệu, xác suất và kết
luận. Những bằng chứng mang tính giai thoại, truyền miệng
thường là những “viên gạch” cho những bài báo xă hội – chính
trị, nhưng đối với y học các thông tin như thế hoàn toàn không
có ư nghĩa ǵ. Thật vậy, trong ư kiến cá nhân được xem là quan
trọng trong các bản tin thời sự xă hội, nhưng trong y học th́
các ư kiến cá nhân – cho dù cá nhân là một chuyên gia cấp cao
nhất – có giá trị khoa học thấp nhất.
Trong khoa học, dữ liệu thực tế đóng vai tṛ quan trọng nhất.
Nhưng dữ liệu khoa học được thu thập từ những mô h́nh nghiên cứu
khác nhau, và giá trị của chúng cũng tùy thuộc vào các mô h́nh
này. Ngoài ra, cùng một dữ liệu thực tế nhưng tác giả bài báo
khoa học có nhiều cách thể hiện dữ liệu đó, và có thể gây hiểu
lầm cho người đọc. Người phóng viên, do đó, phải phân biệt được
các mô h́nh nghiên cứu, phải phân tích điểm mạnh và yếu của từng
mô h́nh nghiên cứu, phải diễn giải dữ liệu một cách chính xác,
v.v…
Những kĩ năng này chỉ có thể tiếp thu qua các khóa học về dịch
tễ học và thống kê học. Do đó, theo tôi, các phóng viên chuyên
viết về khoa học và y học, ngoài các kĩ năng cần thiết về truyền
thông, cần phải trang bị cho ḿnh các kĩ năng cơ bản về thống kê
học và dịch tễ học. Tất nhiên, tôi không có muốn nói chỉ có bác
sĩ hay nhà dịch tễ học mới viết được những bài báo y tế tốt,
nhưng chỉ muốn nói rằng phóng viên không có những kĩ năng khoa
học trên th́ rất khó hiểu và do đó khó có thể chuyển tải một
cách chính xác các thông tin y học.
Tránh nhầm
lẫn
Chúng ta ai cũng quan tâm đến sức khỏe cá nhân và của người
thân. Giới truyền thông (kể cả báo chí, đài radio và truyền
h́nh, báo mạng) nhận thức được sự quan tâm này của quần chúng
nên thường cung cấp cho bạn đọc những thông tin liên quan đến y
khoa và khoa học. Có thể nói không ngoa rằng thông tin y học đă
trở thành một món ăn tinh thần hàng ngày cho công chúng. Nhưng
thông tin nhiều không đồng nghĩa với thông tin phong phú; ngược
lại, t́nh trạng nhiễu thông tin cũng tăng theo cấp số nhân.
Nếu một trong những vai tṛ của truyền thông là
chuyển tải đến cộng đồng những thông tin chính xác và khách
quan, th́ có thể nói rằng truyền thông y tế và khoa học nói
chung ở nước ta chưa đạt yêu cầu này. Một phân tích 1203 bản
tin từ các cơ sở truyền thông của Mĩ cho thấy khoảng 20% các bài
báo này hàm chứa ít nhất là một nhầm lẫn hay sai sót về thông
tin.
Ngoài ra, nhiều bản tin trên báo chí thường có xu hướng cường
điệu hóa lợi ích và hiệu quả của các thuật điều trị, thổi phồng
những nguy cơ liên quan đến thực phẩm. Trong số 207 bài báo
liên quan đến y tế được nghiên cứu, 53% bài báo không đề cập đến
những tác hại, 70% không đề cập đến chi phí, 83% mô tả lợi ích
qua ngôn ngữ tương đối. Chẳng hạn như một nghiên cứu về loăng
xương cho biết một thuốc mới có khả năng giảm 50% nguy cơ găy
xương, thoạt đầu mới nghe th́ rất đáng chú ư, nhưng thật ra mức
độ khác biệt là giữa 1% và 2%, do đó, mức độ ảnh hưởng chính xác
là 1% (lấy 2% trừ cho 1%). Tuy nhiên, hiệu quả 1% này c̣n phải
xem xét với các yếu tố khác như chi phí điều trị và ảnh hưởng
phụ của thuốc.
Hệ quả là giới truyền thông tạo nên những hi vọng hảo huyền, và
gây nên những phiền muộn và hoang mang không cần thiết cho công
chúng. Đă đến lúc vấn đề này cần phải được giải quyết. Để khắc
phục vấn đề, giới phóng viên cần phải trang bị cho ḿnh những
kiến thức cơ bản về qui tŕnh nghiên cứu y học, xử lí số liệu và
thông tin, và nhất là xem xét cẩn thận nguồn gốc của nghiên cứu
và đánh giá chất lượng của nghiên cứu. Trong tương lai, chúng
tôi dự định sẽ tổ chức một khóa học ngắn hạn cho các phóng viên
chuyên về y tế và khoa học các kĩ năng cần thiết để đánh giá một
bài báo khoa học.
|
Một số “sự cố” truyền
thông khoa học trong năm 2007
Vấn đề diễn giải kết quả nghiên
cứu. Tháng 7 năm 2007, một số báo phương Tây đưa
tin bưởi có liên quan đến ung thư vú (“Grapefruit
linked to breast cancer”), và bản tin gây chấn động
thế giới này được báo chí Việt Nam dịch lại với những
tiêu đề khá giật gân, như “Phụ nữ sẽ bị ung thư vú v́ ăn
bưởi?” hay “Phụ ăn bưởi có nguy cơ bị ung thư”, v.v… Chỉ
vài ngày sau khi bản tin được truyền đi, giá bưởi giảm
từ 8.000-10.000 đồng/kílô xuống c̣n 1.000 đồng/kílô, và
gây thiệt hại không ít cho nhiều nông dân sản xuất và
doanh nghiệp phân phối bưởi. Người viết bài này đă có
dịp đọc bài báo khoa học gốc, và có ư kiến rằng
bưởi không gây ung thư vú. Tiếp theo đó, Bộ
Thông tin và Truyền thông
xử phạt hành chính các báo Khuyến học,
Dân trí, Thanh Niên, Netnam, và
Khoa học phổ thông.
Vấn đề nguồn gốc thông tin.
Câu chuyện về vắcxin viêm gan trong năm 2007 là một bài
học quí báu cho việc kiểm tra nguồn gốc thông tin. Khởi
đầu là 4 trường hợp trẻ em mới sinh bị tử vong sau khi
tiêm vắcxin ngừa viêm gan B làm cho nhiều người chất vấn
chính sách này. Một số báo chí bắt đầu đặt câu
hỏi về hiệu quả và an toàn của vắcxin. Một bài báo trên
Tuổi Trẻ với tựa đề khá giật gân “Hàng
trăm ca tử vong sau khi tiêm văcxin viêm gan B ở Mỹ”,
mà trong đó tác giả lthông tin trên website của ông
Joseph Mercola ở bang Illinois (Mĩ), một bác sĩ vật lí
trị liệu (osteopathic doctor) có nhiều ư kiến “phi chính
thống” và nổi tiếng chống đối các chương tŕnh tiêm
chủng ngừa. Ông Mercola đă bị các cơ quan y tế Mĩ cảnh
cáo vài lần về việc đưa tin … sai lạc. Người viết bài
này có
nêu vấn đề thông tin, và bài báo trên đă được rút
xuống.
Nghiên cứu chưa công bố.
Bệnh tiêu chảy và tả bộc phát ở một số tỉnh phía Bắc vào
cuối tháng 10/2007. Các quan chức y tế tuyên bố rằng
qua nghiên cứu họ đă đi đến kết luận rằng mắm tôm là
nguyên nhân của sự bộc phát bệnh. Tuy nhiên, “nghiên
cứu” mà các quan chức tuyên bố thật ra chưa bao giờ được
công bố trên một tập san có b́nh duyệt trước khi họ
thông báo với báo chí. Đó là một cách làm việc thiếu
tính khoa học. Cố nhiên, sau nhiều tuần điều tra và
phân tích, mắm tôm được xác định không phải là nguyên
nhân của nạn dịch tiêu chảy vừa qua. |
|
Các biện pháp cần thiết để nâng cao hiệu quả một bản tin
khoa học
1.
Kiểm tra sự chính xác và tính cân bằng của câu chuyện
hay bản tin.
- Kiểm
tra uy tín của nguồn gốc bản tin, tức là tác giả của
công tŕnh nghiên cứu.
- Tham
vấn các nhà khoa học có uy tín khác xem họ có tin
tưởng vào công tŕnh nghiên cứu hay đánh giá thế nào
về kết quả của nghiên cứu đó.
- Ư
kiến của nhà khoa học mà phóng viên trích dẫn có
phản ảnh luồng tư tưởng chính thống hiện hành liên
quan đến vấn đề trong bản tin hay không; nếu không
phóng viên nên tŕnh bày cho người đọc hay người
nghe biết luồng tư tưởng chính thống là ǵ.
-
Tránh sử dụng những từ ngữ mang tính liên hệ nhân
quả (cause-effect relationship), hay những từ ngữ dễ
gây cảm tính như “đột phá”, “bức phá”, “khám phá”,
v.v…
- Đảm
bảo những tiêu đề và h́nh ảnh minh họa phải thích
hợp với nội dung bài báo.
2.
Hoài nghi, hoài nghi và hoài nghi!
- Khi
dịch lại bản tin từ báo chí nước ngoài, hay một
thông cáo báo chí từ trung tâm nghiên cứu, phóng
viên cần phải phân biệt được sự thật của dữ liệu
(fact) và ư kiến hay b́nh luận cá nhân.
- Kiểm
tra xem kết quả nghiên cứu có khả năng thực tế hay
không?
- Cần
phải áp dụng các tiêu chuẩn nghiêm ngặt trong suy
luận khoa học để thẩm định mối liên hệ giữa nhà khoa
học, trung tâm nghiên cứu, và cơ quan tài trợ cho
nghiên cứu. Nhiều khi các kết quả nghiên cứu được
thổi phồng một cách quá đáng chỉ v́ quyền lợi kinh
tế chứ không v́ lợi ích khoa học.
3.
Kiểm tra xem bản tin có cung cấp những khuyến cáo, hay
chỉ dẫn thực tế cho công chúng và người tiêu thụ.
- Diễn
giải kết quả nghiên cứu sao cho có liên quan đến
những khuyến cáo thực tế cho công chúng.
- Nếu
nghiên cứu liên quan đến một hóa chất có ảnh hưởng
đến sức khỏe, cần phải cho người đọc biết hoá chất
đó đến từ đâu và thường hay thấy trong các thực phẩm
nào.
-
Trong những trường hợp liên quan đến dịch bệnh, cần
cung cấp cho công chúng những nguồn thông tin chính
thống khác để người đọc có thể t́m hiểu thêm, chẳng
hạn như website, báo cáo khoa học, số điện thoại của
cơ quan chức trách, v.v…
4.
Kiểm tra nguồn gốc bản tin
- Kiểm
tra bài báo gốc (tức bài báo đăng trên một tập san
khoa học mà bản tin dựa vào). Ngoài việc đọc thông
cáo báo chí hay các bản tóm lược do trung tâm nghiên
cứu phát tán, phóng viên cũng cần đọc hay truy cập
cho được bài báo khoa học để có thêm thông tin.
- Phân
biệt sự khác biệt giữa bằng chứng khoa học và ư kiến
cá nhân của nhà nghiên cứu.
- Bản
chất của nghiên cứu khoa học là tiến hóa, chứ không
phải cách mạng hay đột phá.
- Nắm
vững các khái niệm về kiểm định giả thuyết, nhóm
chứng, ngẫu nhiên hóa, khách quan, v.v…
- Phân
biệt những mô h́nh nghiên cứu như bệnh chứng, cắt
ngang, đối chứng ngẫu nhiên, cơ bản, v.v…
|
|