|
Y tế dự pḥng: nền tảng của y khoa hiện đại
Nguyễn Văn Tuấn
(Bài đă đăng trên
Tuần Việt Nam)
Trước t́nh h́nh
phát triển kinh tế nhanh chóng đă và đang diễn ra trong ṿng một thập niên trở
lại đây, và nước ta không c̣n xếp vào nhóm các nước nghèo khó nữa, chúng ta có
xu hướng quên rằng t́nh h́nh y tế và sức khỏe người dân ở nước ta vẫn ở trong
t́nh trạng của một nước nghèo. Thật vậy, thực trạng về bệnh tiêu chảy cấp tính,
bệnh tả, cúm gia cầm, SARS, v.v… trong thời gian gần đây là những nhắc nhở rằng
nước ta vẫn c̣n đang đương đầu với những bệnh nhiệt đới, những vấn nạn của các
nước nghèo. Trong t́nh h́nh như thế, hơn lúc nào hết, nước ta cần một mạng lưới
y tế cộng đồng tốt để pḥng bệnh từ cấp cơ sở.
***
Mỗi lần đọc một bản tin về một ca giải phẫu lớn được thực
hiện thành công ở nước ta, tôi vừa mừng vừa lo. Mừng là v́ giới y khoa nước ta
chứng tỏ cho thế giới biết rằng chúng ta không thua kém bất cứ ai về mặt kĩ năng
phẫu thuật. Nhưng lo là v́ tôi sợ những thành công mang tính đơn lẻ như thế làm
cho chúng ta sao lăng một “bức tranh” lớn hơn và nghiêm trọng hơn: sức khỏe cộng
đồng. Nh́n qua bức tranh sức khỏe cộng đồng tôi cho rằng Nhà nước phải tập
trung đầu tư vào việc phát triển hệ thống y tế cộng đồng hay y tế dự pḥng thay
v́ tập trung vào các thiết bị y khoa đắt tiền.
Bức tranh sức khỏe Việt Nam
Chúng ta cần nh́n vào bức tranh y tế nước ta cho kĩ! Thống
kê chính thức của Bộ Y tế cho thấy các bệnh sau đây nằm trong hàng “top 10” ở
nước ta: các bệnh viêm phổi, viêm họng và viêm Amidan
cấp, viêm phế quản và viêm tiểu phế quản cấp, tiêu chảy, viêm dạ dày, ruột non
có nguồn gốc nhiễm khuẩn, cúm, sốt rét, tai nạn giao thông, và các bệnh đường
hô hấp.
Vẫn theo thống kê của Bộ Y tế, những nguyên nhân tử vong
hàng đầu ở nước ta (theo thứ tự) là: các bệnh viêm phổi, các bệnh liên quan đến
hệ thống hô hấp (kẻ cả lao), thai chậm phát triển, tai
nạn giao thông, suy dinh dưỡng, rối loạn gắn liền với thai nghén và cân nặng
không đủ khi sinh,
và các tổn thương hô hấp đặc hiệu khác của thời ḱ chu
sinh.
Bức tranh sức khỏe trên cho chúng
ta thấy rằng các bệnh viêm và nhiễm trùng, suy dinh dưỡng, và tai nạn giao thông
là những bệnh dân ta thường hay mắc và cũng chính là những “tử thần” nguy hiểm
nhất hiện nay.
Cái mẫu số chung của các bệnh này
là mối liên hệ với kinh tế, hay nói thẳng ra là t́nh trạng nghèo khó của người
dân. Hăy lấy suy dinh dưỡng ở trẻ em làm ví dụ: ngoài các nguyên nhân
sinh học và lâm sàng, đứng trên quan điểm của y tế cộng đồng, nguyên nhân chính
của suy dinh dưỡng -- như tên gọi rất chính xác -- là thiếu ăn. Thiếu ăn là do
nghèo và hoàn cảnh kinh tế gia đ́nh khó khăn. Trong khi nền kinh tế nước ta
phát triển nhanh, một bộ phận dân số -- nhất là những người sống trong vùng nông
thôn hay vùng xa -- vẫn chưa đủ ăn (và chưa đủ mặc). Theo kết quả nghiên cứu ở
Đồng Nai, phần lớn (76%) trẻ em suy dinh dưỡng là những em có cha mẹ là nông dân
hay làm thuê. Gia đ́nh càng có nhiều con, tỉ lệ suy dinh dưỡng càng cao.
Một đặc điểm chung của những bệnh
hàng đầu hiện nay ở nước ta là chúng rất phổ biến. Chẳng hạn như suy dinh
dưỡng, có báo cáo cho thấy cứ 5 trẻ em ở nước ta th́ có 1 em suy dinh
dưỡng (theo một thống kê trong hội nghị tổng
kết đánh giá các hoạt động dinh dưỡng năm 2007 do Bộ Y tế và Viện Dinh dưỡng
quốc gia tổ chức vào đầu năm nay). Hay như bệnh viêm phổi (là nguyên nhân tử
vong số 1), mỗi năm có đến khoảng 360.000 người mắc. Hay như hút thuốc lá, có
nghiên cứu cho thấy khoảng 73% đàn ông và thanh niên (tuổi từ 18 trở lên) hút
thuốc lá. Đây là một tỉ lệ cao nhất thế giới mà các nhà nghiên cứu Việt-Mĩ đă
ghi nhận. Cao hơn cả Trung Quốc và Nhật! Nếu tính theo dân số hiện hành, nước
ta có 18,24 triệu thanh niên và đàn ông trên 20 tuổi hút thuốc lá!
Người viết bài này ước tính rằng mỗi năm có khoảng 11.500
thanh niên và đàn ông trên 20 tuổi mắc bệnh ung thư phổi; trong số này 85% (hay
9.800 trường hợp) là có liên quan đến hút thuốc lá. Hút thuốc lá cũng là yếu tố
nguy cơ có liên quan đến 85% trường hợp ung thư họng, nhưng số lượng bệnh nhân
ít hơn ung thư phổi. Chi phí liên quan đến thuốc lá (chỉ tính chi phí điều trị
trong bệnh viện) là khoảng 78 triệu USD (thời giá 2005).
Nhu cầu cho một hệ thống y tế dự pḥng
V́ qui mô của các bệnh mà nước đang đối phó rất lớn, chúng
ta không thể ḱ vọng rằng xây thêm bệnh viện hay nhập thiết bị y khoa hiện đại
sẽ giải quyết được vấn đề. Nhu cầu tăng cường cơ sở vật chất y tế hiện đại là
cần thiết nhưng mang tính cấp thiết, bởi v́ một nhu cầu khác lâu dài hơn và quan
trọng hơn là xây dựng một mạng lưới y tế cộng đồng hay y tế dự pḥng. Tại sao
cần phải xây dựng mạng lưới y tế dự pḥng? Câu trả lời đơn giản là tại v́ chúng
ta muốn pḥng bệnh hơn là chữa bệnh. Các thiết bị hiện đại là để chữa bệnh chứ
không ngừa bệnh; các biện pháp pḥng bệnh cần một tư duy mới về y tế.
Tư duy y khoa truyền thống thường quan tâm đến việc
đáp ứng nhu cầu của bệnh nhân. Tư duy này hun đúc thành những qui định về y đức
như có trách nhiệm với cá nhân người bệnh, và các cơ sở vật chất y tế thường
được thiết kế để đáp ứng nhu cầu của người bệnh. Ngay cả nghiên cứu y khoa cũng
chịu ảnh hưởng bởi tư duy này, v́ một nghiên cứu y khoa cổ điển thường bắt đầu
với câu hỏi “tại sao bệnh nhân mắc bệnh”.
Ngày nay, chúng ta biết rằng nếu hệ thống y tế chỉ để đáp
ứng nhu cầu của bệnh nhân th́ vẫn chưa đủ. Do đó, tư duy y khoa truyền thống
này đă được khai triển thành một bước cao hơn và qui mô hơn: đó là pḥng bệnh và
nhận dạng những nhóm người có nguy cơ mắc bệnh cao. Nói cách khác, đây chính là
tư duy y tế dự pḥng.
Tư duy y khoa truyền thống đặt trọng tâm vào việc
điều trị và chữa bệnh, c̣n tư duy y tế dự pḥng đặt trọng tâm vào việc pḥng
bệnh. Đối tượng của tư duy y khoa truyền thống là cá nhân người bệnh,
c̣n đối tượng của tư duy y khoa dự pḥng là cộng đồng. Đối với y khoa truyền
thống, một cá nhân hoặc là có hay không có bệnh (do đó, có người ví von rằng y
khoa cổ điển chỉ biết đếm từ 0 đến 1), nhưng y tế dự pḥng quan tâm đến nguy
cơ mắc bệnh của một quần thể (và nguy cơ này có thể dao động từ thấp, trung
b́nh, đến cao). Do đó, chỉ số để đánh giá hiệu quả lâm sàng của y khoa cổ điển
là sự thành công trong việc cứu một bệnh nhân, nhưng chỉ số lâm sàng của y tế dự
pḥng là giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh của một cộng đồng và kéo dài tuổi thọ cho
một dân số.
Y tế dự pḥng không chỉ quan tâm đến các bệnh truyền nhiễm
hay suy dinh dưỡng, mà c̣n liên quan trực tiếp đến các bệnh măn tính như tim
mạch, viêm khớp xương, đái tháo đường, cao huyết áp, tai biến, loăng xương, ung
thư, v.v… Y tế dự pḥng quan niệm rằng sự phát sinh các bệnh măn tính là hệ quả
của một quá tŕnh tích lũy những rối loạn sinh lí qua phơi nhiễm các yếu tố nguy
cơ. Do đó, can thiệp vào các yếu tố nguy cơ sẽ làm giảm nguy cơ mắc bệnh ở qui
mô cộng đồng.
Các yếu tố nguy cơ này có thể chia thành 2 nhóm: nhóm có
thể can thiệp được và nhóm không thể can thiệp được. Các yếu tố không có thể
can thiệp được như tuổi tác và di truyền. Nhưng các yếu tố có thể can thiệp
được như dinh dưỡng, vận động thể lực, lối sống (hút thuốc lá, thói quen rượu
bia), môi trường sống (như nước, không khí, phương tiện đi lại), v.v… Từ đó, các
chiến lược y tế dự pḥng là làm thay đổi các yếu tố có thể can thiệp được để
nâng cao chất lượng sống cho cộng đồng.
V́ thế, thành công của một chiến lược y tế dự pḥng có thể
đem lại lợi ích và hiệu quả cao hơn là thành công trong việc đáp ứng nhu cầu của
người bệnh. Chẳng hạn như một nghiên cứu mới công bố vào tháng
11 năm ngoái cho thấy rằng chỉ cần 50-70% dân số trong những vùng bị dịch tả
(hay có nguy cơ cao, như các tỉnh phía Bắc hiện nay) uống vắcxin 2 lần một năm,
và với hiệu quả như vừa mô tả, số ca bệnh tả có thể giảm đến 90%.
Vấn đề đầu tư
Nhận thức được vai tṛ quan trọng của y tế dự pḥng, ở các
nước tiên tiến đều thiết lập mạng lưới y tế cộng đồng đến từng phường và các
vùng xa thành phố. Chẳng hạn như ở Úc, các bà mẹ trước và sau khi sinh con đều
được tầm soát và kiểm tra sức khỏe ở các trạm y tế dự pḥng này. Ngoài ra, các
dịch vụ về pḥng chống bệnh ở qui mô cộng đồng như tiêm chủng ngừa, tuyên truyền
và giáo dục y tế cộng đồng, v.v… đều được thực hiện bởi các cán bộ y tế dự
pḥng.
Nhưng một điều đáng buồn ở nước ta ngày nay là y tế dự
pḥng
không được đánh giá đúng mức. Thật là sốc khi nghe có quan chức chính quyền
nói rằng không cần đến y tế xă. Có thể nói đó là một phát biểu vô trách nhiệm
nhất. Muốn xây nhà cho vững th́ phải có nền móng cho chắc; muốn có một nền y tế
quốc gia hữu hiệu th́ phải bắt đầu bằng hệ thống y tế cơ sở tốt.
Nhưng trong thực tế, chi tiêu của Nhà nước cho y tế chỉ
chiếm 6,1% tổng số chi tiêu của Nhà nước. Tỉ lệ này thấp nhất so với các nước
láng giềng như Campuchea (16%), Lào (khoảng 7%), Mă Lai (6,5%), Trung Quốc
(10%), và Nhật (16.4%). Do đó, không ngạc nhiên khi thấy cơ sở vật chất của hệ
thống y tế ở nước ta đă ở trong t́nh trạng quá tải từ hơn một thập niên qua.
Thật vậy, theo thống kê của Bộ Y tế, năm 1997 cả nước có khoảng 198 ngàn giường
bệnh, nhưng đến năm 2005, con số này giảm xuống c̣n 197 ngàn! Trong khi đó dân
số tiếp tục gia tăng, và hệ quả là số giường bệnh tính trên 10.000 dân số giảm
từ 26,6 năm 1997 xuống c̣n 23,7 năm 2005.
Thật ra phải nói là “khủng hoảng” th́ mới đúng, v́ ở bất cứ
tỉnh thành hay địa phương nào, công suất giường bệnh tại các bệnh viện đều trên
100%. T́nh trạng hai hay ba bệnh nhân cùng nằm một giường, hay phải nằm dưới
sàn hay ghế bố, phổ biến đến nỗi các bác sĩ xem đó là chuyện b́nh thường! Đứng
trên b́nh diện vĩ mô, nguyên nhân chính của t́nh trạng này là do cơ sở vật y tế
dự pḥng c̣n quá kém, cho nên bệnh nhân “vượt tuyến” đến các bệnh viện lớn.
Mục tiêu tối hậu của bất cứ hệ thống y tế nào là nâng cao
sức khỏe và kéo dài tuổi thọ cho người dân. Ngày nay, người ta nói đến “xă hội
hóa” y tế, nhưng thực tế là đùn đẩy chi tiêu y tế về cho người dân. Bệnh viện
và các công tŕnh phúc lợi xă hội (như trường học và đại học) là hiện thân, là
thể hiện sự quan tâm của một chính phủ đến sự an sinh của người dân. Nhà nước
cần phải tăng đầu tư cho ngành y tế dự pḥng, và qua đó tạo điều kiện sao cho
người nghèo có thể được điều trị như mọi thành phần khác trong xă hội, và từng
bước nâng cao công bằng xă hội. Bài toán y tế ở nước ta chính là xây dựng hệ
thống y tế dự pḥng, chứ không phải nên tập trung ngân sách vào những thiết bị
đắt tiền mà đại đa số người dân không hưởng lợi ích ǵ từ những đầu tư như thế.
Thành công một ca giải phẫu có thể cứu sống một mạng người,
nhưng thành công trong một chiến lược y tế dự pḥng có thể cứu sống nhiều triệu
người, và kéo dài tuổi thọ cũng như nâng cao chất lượng sống cho cả một dân
tộc. Nhưng trớ trêu thay, trong khi người bác sĩ thành công một ca giải phẫu
chắc chắn sẽ được báo chí nhắc đến như là một anh hùng, những người vạch định và
thực hiện thành công một chiến lược y tế dự pḥng là những người “trầm lặng”
chẳng ai để ư đến! Đă đến lúc xă hội phải ghi nhận đúng đắn những đóng góp âm
thầm của các nhà y tế dự pḥng.
|