Tiêu chảy cấp tính và bệnh tả: Định danh cho đúng
Nguyễn Văn Tuấn
19-04-2008 23:07:42 GMT +7
Một vấn đề mang tính y tế cộng đồng cần phải được định danh
đúng, chính xác, mới có kế hoạch pḥng ngừa hiệu quả. Theo quy
ước quốc tế, của WHO và cả quy định của Bộ Y tế nước ta, phải
gọi bộc phát bệnh hiện nay là dịch tảTuần qua, giới
báo chí, y khoa và các quan chức y tế bàn thảo khá nhiều về định
danh cho đợt bộc phát bệnh tiêu chảy cấp tính. Các quan chức y
tế cho rằng bệnh danh là “tiêu chảy cấp nguy hiểm”. Giải thích
cách định danh này, Thứ trưởng Trịnh Quân Huấn trong một trả lời
phỏng vấn của phóng viên Báo Người Lao Động nói: “Cụm từ tiêu
chảy cấp nguy hiểm không chỉ được dùng riêng ở VN. Khi chúng ta
nói là dịch tiêu chảy cấp trong đó có nguyên nhân từ phẩy khuẩn
tả là bởi không phải 100% bệnh nhân tiêu chảy cấp đều do tả mà
c̣n do nguyên nhân khác”.
Nhưng giới y khoa và dịch tễ học th́ cho rằng bệnh danh chính
xác là “bệnh tả”. TS Nguyễn Trần Hiển (Viện trưởng Viện Vệ sinh
Dịch tễ Trung ương) và GS Nguyễn Lân Dũng đều đề nghị chúng ta
nên thẳng thắn gọi chính xác tên bệnh: Tả thay v́ “tiêu chảy cấp
nguy hiểm”.
Sẽ không ngạc nhiên nếu có nhiều bạn đọc ngoài ngành y cảm
thấy khó hiểu trước hai quan điểm và cách lư giải trên. Để làm
sáng tỏ thêm vấn đề, chúng ta nên xem xét qua định nghĩa chuẩn
của hai bệnh.
Bệnh tả
Bệnh tả (tiếng Anh là cholerae) được định nghĩa là một bệnh
truyền nhiễm cấp tính ở ruột non và lây lan qua nước hay thức ăn
bị nhiễm vi khuẩn. Vi khuẩn gây bệnh tả là Vibrio cholerae.
Triệu chứng của bệnh tả là bệnh nhân bị tiêu chảy cấp tính, đau
bụng, ói mửa và mất chất điện phân (electrolytes).
Khoảng 75%-90% người bị nhiễm vi khuẩn V. cholerae nhưng
không biểu hiện triệu chứng nào. Nhưng vi khuẩn trong người của
những bệnh nhân không có triệu chứng này có thể lan truyền vào
môi trường qua phân và có thể lan truyền đến người khác cũng như
môi trường sống. Bệnh tả là một bệnh đáng sợ, v́ nó có thể tấn
công trẻ em cũng như người lớn và không giống như các bệnh tiêu
chảy khác, bệnh tả có thể gây tử vong cho bệnh nhân trong ṿng
vài ngày, thậm chí vài giờ sau khi mắc bệnh. Những người có khả
năng miễn dịch thấp như trẻ em suy dinh dưỡng hay người nhiễm
HIV thường có nguy cơ bị nhiễm vi khuẩn V. cholerae.
Tiêu chảy cấp tính
Bệnh tiêu chảy cấp tính (tiếng Anh là acute diarrhoea), theo
định nghĩa mà giới y khoa thế giới thừa nhận, khi bệnh nhân đi
tiêu chảy hơn 3 lần trong một ngày th́ được xem là một ca “tiêu
chảy cấp tính”. Ngoài đi tiêu chảy ra nước, triệu chứng của tiêu
chảy cấp tính thường là đau bụng, ói mửa và đau hậu môn. Khi
tiêu chảy mà trong phân có máu, th́ bệnh danh có khi gọi là kiết
lỵ shigella. Bảng 1 sau đây sẽ phân biệt bệnh tả và tiêu chảy
cấp tính.
Tiêu chảy có nhiều nguyên nhân. Tiêu chảy nhẹ có thể do thay
đổi thức ăn hay thói quen ăn uống, “jet lag”, thời tiết thay
đổi, lo lắng, tâm thần căng thẳng (stress), uống nhiều rượu bia,
sử dụng thuốc (như thuốc trụ sinh), v.v... Tiêu chảy cấp tính có
thể do ngộ độc thực phẩm và nhiễm vi khuẩn. Các vi khuẩn chính
có thể gây tiêu chảy cấp tính bao gồm: calici, adenovirus,
rotavirus, E. coli, Campylobacter, V. cholerae, Shigella,
Salmonella Staphylococcus aureus. Một số kư sinh vật như Giardia
lamblia, Cryptosporidium parvum và sán dây cũng có thể gây tiêu
chảy cấp tính.
Định danh bệnh
Qua hai định nghĩa chuẩn vừa tŕnh bày trên, chúng ta thấy
bệnh tả và tiêu chảy cấp tính có liên hệ với nhau: tiêu chảy cấp
tính là một hệ quả của bệnh tả. Chúng ta không nên nhập nhằng
giữa bệnh và hệ quả của bệnh.
Thế nhưng như đề cập trên, các giới chức y tế hiện nay định
danh bệnh là “Tiêu chảy cấp nguy hiểm”. Họ cho rằng Tổ chức Y tế
Thế giới (WHO) và các nước khác cũng gọi như thế. Ngoài ra, trả
lời báo chí, TS Nguyễn Huy Nga c̣n cho biết “không thấy đề nghị
chính thức nào phải gọi là dịch tả”. Thật ra, quan điểm này
không phù hợp với thực tế, v́:
a) Không có một văn bản nào của WHO
hay của bất cứ tổ chức y tế nào trên thế giới sử dụng thuật ngữ
tiếng Anh nào tương xứng với (hay có thể dịch là) “Tiêu chảy cấp
nguy hiểm” cả. T́m trong danh mục bệnh của ICD (International
Classification of Diseases) cũng không thấy một bệnh nào có tên
như thế. Theo Quy ước quốc tế về định danh bệnh và WHO th́ dù
chỉ có một trường hợp bệnh nhân nhiễm vi khuẩn tả V. cholerae,
bệnh có thể gọi là “cholera”, tức bệnh dịch tả hay bệnh tả.
Tài liệu của WHO viết nguyên văn như sau: “Cholera = acute
watery diarrhoea” (tức là (bệnh tả = tiêu chảy cấp tính), và
“Shigella dysentery = acute bloody diarrhoea” (tức kiết lỵ
shigella = tiêu chảy cấp tính ra máu).
b) Nhà nước chúng ta có quy định về
bệnh danh. Trong quyết định về việc ban hành “Quy tŕnh xử lư
dịch tả” ngày 3-11-2007 đi kèm với công văn do chính Thứ trưởng
Trịnh Quân Huấn kư, viết như sau: “Một “vụ dịch tả” được xác
định khi có ít nhất một ca bệnh tả được xác định”.
Hiện nay, theo thống kê của Bộ Y tế, đă có khoảng 1.800 bệnh
nhân với triệu chứng tiêu chảy cấp và trong số này qua xét
nghiệm đă có khoảng 17% nhiễm vi khuẩn V. cholerae (tức vi khuẩn
tả). Như vậy, dựa vào Quy ước quốc tế, hướng dẫn của WHO và
quyết định của Bộ Y tế nước ta, chúng ta phải gọi sự bộc phát
bệnh hiện nay là bệnh tả.
Tại sao gọi bệnh tả trong khi chỉ có 17% bệnh nhân tiêu chảy
cấp tính nhiễm vi khuẩn tả? Có hai lư do cho cách gọi này:
Thứ nhất, bệnh tả là một bệnh nguy hiểm v́ bệnh nhân
có thể tử vong nếu không phát hiện và điều trị kịp thời. Ngoài
ra, bệnh có thể lan truyền nhanh, và trong quá khứ vi khuẩn V.
cholerae đă là thủ phạm của nhiều đại dịch gây ra hàng vạn người
tử vong ở Á châu, Nam Mỹ và Phi châu. Do đó, cho dù chỉ một ca
mắc bệnh hay nhiễm vi khuẩn tả, chúng ta phải gọi là bệnh tả để
dân chúng nhận thức được t́nh trạng nghiêm trọng của bệnh.
Thứ hai, như đề cập trên, chỉ số 10%-25% người nhiễm
vi khuẩn tả biểu hiện triệu chứng tiêu chảy cấp tính (hay nói
cách khác, có đến 75%-90% người bị nhiễm không có triệu chứng);
do đó, gọi “bệnh tả” để công chúng biết được rằng vẫn c̣n nhiều
người chưa phát sinh bệnh và họ có thể là những nhân tố lây lan
bệnh trong cộng đồng. Biết như thế để người dân có những biện
pháp pḥng bệnh thích hợp.
Ai cũng biết đứng trên phương diện lâm sàng việc điều trị
bệnh thành công phải bắt đầu bằng một chẩn đoán chính xác. Tương
tự, một vấn đề mang tính y tế công cộng cũng phải bắt đầu bằng
cách định danh chính xác căn bệnh để đi đến một kế hoạch pḥng
ngừa hữu hiệu.
TS Nguyễn Văn Tuấn |