Nguyên nhân bệnh tiêu chảy
Ykhoanet.com
Trong thời gian qua, báo chí và các quan chức y tế bàn nhiều về
nguyên nhân của bệnh tiêu chảy cấp tính (mà báo chí ngày nay gọi
là“tiêu chảy cấp nguy hiểm”). Các bàn thảo này cho ấn tượng
rằng ăn thịt chó hay mắm tôm là nguyên nhân của bệnh tiêu chảy
cấp tính. Nhưng sự thật có lẽ không đơn giản như thế. Trong
bài này, chúng tôi tŕnh bày các thông tin đơn giản để bạn đọc
hiểu được bệnh tốt hơn.
Bệnh danh
Thật ra, nhiều người trong y khoa
rất ngạc nhiên với cụm từ “tiêu chảy cấp nguy hiểm”. Có người
nói rằng họ chưa bao giờ thấy bệnh danh này trong thời gian học
ở trường y. Chúng tôi không t́m thấy một bệnh danh tiếng Anh
nào tương đương với “tiêu chảy cấp nguy hiểm” trong ICD-10.
Chúng tôi tra Từ điển tiếng Việt
(Hoàng Phê, Nxb Đà Nẵng 1998) th́ thấy định nghĩa chữ cấp như
sau: “mặt phẳng hẹp làm bậc để bước lên; loại hạng trong một hệ
thống (xếp theo tŕnh độ cao thấp, trên dưới; gấp, kíp (như việc
cấp lắm)”.
Quay sang định nghĩa “cấp tính”
chúng tôi thấy Từ điển định nghĩa như sau: “(bệnh) ở trạng thái
phát triển nhanh; trái với măn tính”.
Như vậy, trong tiếng Việt, chữ
cấp trong “tiêu chảy cấp nguy hiểm” là không chuẩn tiếng Việt.
Chúng tôi tự hỏi tại sao chúng ta không sử dụng “Tiêu chảy cấp
tính” (mà tiếng Anh gọi là “acute diarrhea”) cho chuẩn?
Thỉnh thoảng chúng tôi thấy báo
chí Việt Nam dịch cụm từ “tiêu chảy cấp nguy hiểm” sang tiếng
Anh là “severe acute watery diarrhea” hay có khi là “severe
acute diarrhea”, nhưng cách dịch này không đúng. Chữ severe
trong tiếng Anh có nhiều nghĩa nhưng không có nghĩa nào để dịch
là nguy hiểm cả. Thật ra, severe trong văn cảnh y khoa có nghĩa
là nặng, nghiêm trọng, gay go.
Do đó, trong bài này chúng tôi sử
dụng cụm từ “tiêu chảy cấp tính” thay v́ “tiêu chảy cấp”.
1. Định nghĩa
Với thói quen
ăn uống b́nh thường như ở nước ta (ba bữa ăn sáng, trưa, và
chiều) một người b́nh thường bài tiết ra khoảng 100 đến 200 g
phân. Tần số đi tiêu có thể dao động từ 3 lần một ngày đến 3
lần một tuần.
Do đó, theo
tiêu chuẩn lâm sàng, tiêu chảy được định nghĩa là sự gia tăng số
lần đi tiêu trong một ngày (trên 3 lần), trọng lượng phân cao
bài tiết trên 200 g/ngày. Cụ thể hơn:
·
Người lớn: đi tiêu với phân bài tiết trên 200
g/ngày [1].
·
Trẻ em: đi tiêu với phân bài tiết trên 20 g/ngày.
·
Tiêu ra chất lỏng trong phân.
B́nh thường, phân người chứa khoảng 60 đến 90% nước; nhưng người
mắc bệnh tiêu chảy th́ phân hàm chứa trên 90% nước. Phân có thể
chứa nhiều nước v́ do chuyển hóa quá nhanh qua hệ thống tiêu
hóa; nếu một thành phần của phân ngăn chận ruột già hấp thu
nước, hay nếu nước bị thải bởi ruột già vào phân. Theo qui luật
thông thường, ruột có thể hấp thu một lượng nước lớn hơn lượng
nước cần thiết mỗi ngày. Tuy nhiên, khi khả năng dự trữ bị áp
đảo (tràn ngập) th́ tiêu chảy sẽ xảy ra.
Cần phải phân biệt tiêu chảy với chứng tiêu đùn (fecal
incontinence) thường hay thấy ở những bệnh nhân với cơ chậu
(pelvis muscle) yếu hay rối loạn ruột thẳng và hậu môn
(anorectal dysfunction). Người với chứng tiêu chảy giả (Pseudo-diarrhea
hay hyperdefecation) cũng đi tiêu nhiều lần nhưng trọng
lượng phân không tăng như thấy ở các bệnh nhân rối loạn đường
ruột hay tăng năng tuyến giáp (hyperthyroidism).
Bệnh tiêu chảy có thể phân loại theo thời gian mắc bệnh (cấp
tính hay măn tính), cơ chế bệnh (thấm lọc - osmotic hay bài tiết
- secretory), độ nghiêm trọng (nhỏ hay lớn), hay đặc điểm của
phân (nước, chất béo, hay có máu). Trong thực hành lâm sàng,
thời gian mắc bệnh và đặc điểm bệnh là hai yếu tố có ích nhất
trong việc chẩn đoán và điều trị.
Tiêu chảy cấp tính được định nghĩa là t́nh trạng
tiêu chảy kéo dài dưới 4 tuần (có nơi định nghĩa dưới 2 tuần).
Nếu t́nh trạng tiêu chảy kéo dài hơn 4 tuần, ca bệnh được xem
là tiêu chảy măn tính.
Tiêu chảy thẩm thấu (osmotic diarrhea) là loại tiêu chảy
do một loại dung dịch mà ruột không thể hấp thu hay tiếp thu rất
khó, và từ đó gây áp lực thẩm thấu đến màng nhầy trong ruột, và
hệ quả là bài thải nước thái quá. Loại tiêu chảy này thường
ngưng khi bệnh nhân ngưng ăn một thời gian ngắn.
Tiêu chảy xuất tiết (secretory diarrhea) là một sự rối
loạn về chuyển tải ion trong các tế bào biểu mô của ruột làm gia
tăng sự bài tiết, giảm hấp thu, hay cả hai. Với loại tiêu chảy
này, ngưng ăn không làm hết bệnh. Một ví dụ cổ điển của tiêu
chảy cấp tính bài tiết là bệnh tả, và các ca bệnh nhiễm
vi khuẩn enterotoxigenic E coli (ETEC).
2. Khi nào cần đi gặp bác sĩ
Mặc dù tiêu
chảy thường không nghiêm trọng và bệnh nhân tự hồi phục, nhưng
trong trường hợp nghiêm trọng bệnh nhân cần phải đi gặp bác sĩ.
Những trường hợp sau đây cần đến tư vấn của bác sĩ:
- Đi tiêu
chảy hơn 3 ngày
- Cảm thấy
đau bụng hay đau ruột dữ dội
- Nhiệt độ
trong người trên 38 độ C
- Đi tiêu
chảy có máu trong phân hay phân màu hắc ín
- Dấu hiệu
mất nước.
3. Nguyên nhân
Có nhiều nguyên
nhân dẫn đến tiêu chảy. Một số nguyên nhân thông thường của
tiêu chảy cấp tính là: nhiễm vi khuẩn, nhiễm trùng, kư sinh
trùng, thuốc men, và rối loạn đường ruột. Theo y văn,
khoảng 30-40% ca tiêu chảy là do nhiễm vi khuẩn, 20-30% do nhiễm
vi trùng (riêng E. coli O157 là nguyên nhân của khoảng 30% các
ca tiêu chảy ra máu)
3.1
Tác nhân vi-rút
Nguyên nhân phổ
biến nhất của tiêu chảy cấp tính là nhiễm vi rút. Trường hợp
này c̣n được biết đến như là viêm dạ dày ruột do virus (viral
gastroenteritis) hay có vẻ văn hoa một chút là “cúm dạ dày”
(stomach flu)!
Có nhiều loại
vi rút có thể gây tiêu chảy cấp tính, thông thường là:
- Rotavirus
(thường là nguyên nhân tiêu chảy ở trẻ em)
- Adenovirus
-
Caliciviruses
-
Astrovirus.
3.2
Tác nhân vi trùng
Một số vi trùng
(hay c̣n gọi là “vi khuẩn”) có thể là nguyên nhân của tiêu chảy:
-
Staphylococcus aureus (S. aureus) – thường hay
nhiễm các loại thịt đă qua xứ lí công nghệ và các loại bánh
làm bằng sữa.
-
Clostridium perfringens – thường hay nhiễm các thực
phẩm được hâm ấm.
-
Bacillus cereus – thường lây nhiễm qua gạo và đậu, kể
cả giá sống.
-
Salmonella – hay nhiễm trứng gà, trứng vịt và gia cầm.
Sốt thương hàn thường do nhiễm trùng Salmonella typhi.
-
Shigella – vi khuẩn/trùng này là nguyên nhân của bệnh
tiêu chảy thường được phát hiện trong các nhà giữa trẻ, các
làng ở nông thôn.
-
Escherichia coli (E. coli) – hay nhiễm thịt
chưa nấu chín; tuy nhiên, các trận dịch tiêu chảy E.
coli thường liên quan đến giá sống, nước trái cây chưa
qua diệt khuẩn theo phương pháp Pasteur, các loại nem chua,
rau cải, và phó mát.
-
Campylobacter jejuni – thường nhiễm chim, gà, vịt. Vi
khuẩn này thường được phát hiện ở các nhà có nuôi gia cầm.
-
Yersinia enterocolitica – một vi khuẩn/trùng gây nhiễm
trùng Yersin (yersiniosis). Nhiễm trùng này thường xảy ra
khi ăn thịt và sữa bị nhiễm trùng.
- Vibrio
parahaemolyticus – một loại nhiễm trùng thường do ăn đồ
biển sống, nhất là hàu.
- Vibrio
cholerae – vi trùng/khuẩn gây bệnh tả, thường hay thấy
ở các nước đang phát triển, và là hệ quả của nguồn nước bị ô
nhiễm.
3.3 Kư
sinh trùng
Kư sinh trùng
có thể vào cơ thể chúng ta qua đường thực phẩm hay nước và “đóng
đô” ở hệ thống tiêu hóa. Các kư sinh trùng có thể gây tiêu chảy
bao gồm:
-
Giardia lamblia – kư sinh trùng này thường làm ô nhiễm
nguồn nước, Giardia c̣n là nguyên nhân phổ biến của
bệnh tiêu chảy ở người đồng tính luyến ái.
-
Entamoeba histolytica – kư sinh trùng này lan truyền
qua đường nước hay thực phẩm bị nhiễm phân người, nhưng cũng
có thể do trực tiếp tiếp xúc qua tay dơ bẩn kể cả quan hệ
t́nh dục.
-
Cryptosporidium – có thể lan truyền qua thực phẩm.
Nguy cơ thường cao hơn ở trẻ em hơn là người lớn. Các loại
rau sống trộn (salad) trồng bằng phân bón cũng là một nguồn
lây truyền kí sinh trùng này. V́ kư sinh trùng này có thể
sống trong nước nên nước cũng có thể là nguồn lây lan.
3.4
Thuốc men
Có khá nhiều
thuốc có thể gây ra tiêu chảy. Một số thuốc thông thường là:
- Thuốc trụ
sinh
- Thuốc
chống cao huyết áp
- Nhuận
tràng
- Antacids
chứa magnesium.
Một số chất hóa
học khác cũng có thể gây bệnh tiêu chảy:
- Rượu
- Cà phê
- Trà
- Kẹo
chewing gum không đường và bạc hà cũng có thể gây tiêu chảy
3.5
Bệnh
Buồn phiền, lo
lắng, nhiễm trùng máu (sepsis), các bệnh truyền nhiễm liên quan
đến sex, viêm tai, v.v… cũng có thể gây ra tiêu chảy.
Tham khảo:
[1] Soffer EE.
Diarrhea. In: Andreoli TE, et al, eds. Cecil Essentials of
Medicine. 5th ed. Philadelphia, WB Saunders, 2001:316-320. |