Đo lường hiệu suất khoa học
Nguyễn Văn
Tại các nước Tây phương, trong t́nh h́nh nghiên cứu khoa học
sinh sôi nẩy nở nhanh chóng và khoa học trở nên một hoạt động tốn
kém, các cơ quan tài trợ nghiên cứu phải đi t́m những phương pháp
khách quan để đo lường chất lượng khoa bảng và nghiên cứu khoa học.
Trong t́nh h́nh “gạo châu củi quế” như hiện nay, ai cũng muốn đồng
tiền họ bỏ ra phải có hiệu suất cao. Một số nước có cơ chế tài trợ
ngân sách tập trung (như Anh và Úc) đă từng sử dụng một hệ thống
định giá thành quả khoa học và phân phối tiền bạc dựa theo kết quả
định giá này. Ở Mĩ, Quốc hội đang làm áp lực cho Cơ quan Khoa học
Quốc gia (National Science Foundation) phải công bố thành quả đầu
tư cho nghiên cứu khoa học. Ở nước ta gần đây, người ta cũng đặt
vấn đề về chất lượng nghiên cứu và t́m phương pháp khách quan để
làm một thước đo cho việc phân phối ngân sách cho nghiên cứu khoa
học. Nhưng những thước đo này đều có những ưu điểm và nhược điểm
mà người ngoài khoa học hay người mới tập tành vào lĩnh vực nghiên
cứu khoa học ít để ư hay biết đến, cho nên họ có những phát biểu
rất sai lầm.
Cơ chế b́nh duyệt bài báo khoa học
Cố nhiên, giới làm nghiên cứu khoa học th́ chẳng xa lạ ǵ với
những hệ thống thẩm định các công tŕnh nghiên cứu khoa học. Cơ
chế b́nh duyệt (peer review) là một cơ chế có mục đích chính là
đánh giá và kiểm tra các bài báo khoa học trước khi chấp nhận cho
công bố trên một tập chí khoa học. Cơ chế này c̣n được ứng dụng
trong việc duyệt những đơn xin tài trợ cho nghiên cứu . Về mặt lí
thuyết đây là một cơ chế rất hay, bởi v́ người đánh giá công tŕnh
nghiên cứu là những người cùng làm trong ngành, có chuyên môn liên
quan đến công tŕnh nghiên cứu, họ chính là người có thẩm quyền
và khả năng đánh giá chất lượng của công tŕnh nghiên cứu. Nhưng
nhà khoa học cũng chỉ là những người có t́nh cảm và thiên kiến,
cũng là những người chịu sự chi phối của các nhu cầu tất yếu, cũng
cạnh tranh, cho nên kết quả duyệt bài khoa học không phải lúc nào
cũng hoàn toàn khách quan. Rất nhiều người từng trải qua cái cơ
chế này cho rằng đó là một hệ thống không hoàn chỉnh và có khi thiếu
công bằng. Đối với bất cứ nhà nghiên cứu khoa học nào đă từng kinh
qua việc b́nh duyệt có thể bác bỏ hệ thống đó là một cách làm việc
vô bổ và vô giá trị [1]. Nhưng vấn đề thực tế là ngoài hệ thống
b́nh duyệt đó, chưa có hệ thống nào tốt hơn!
Cơ chế duyệt bài thường thành công trong việc ngăn chận những
cặn bă, rác rưởi khoa học, và giúp cho tập san hay các cơ quan cung
cấp tài trợ đi đến một quyết định công bằng. Tuy nhiên cơ chế kiểm
duyệt bài vở không thể (hay ít khi nào) phát hiện những lỗi lầm
từ sự cố ư lường gạt (như giả tạo số liệu chẳng hạn), bởi v́ chức
năng của cơ chế này không làm việc đó. Nhưng cơ chế duyệt bài có
nhiều khiếm khuyết mà hiện nay vẫn chưa thể giải quyết được. Bởi
v́ những người duyệt bài không được phần thưởng vật chất nào, họ
không có động cơ để làm việc tốt. Một số người duyệt bài nhận lấy
trách nhiệm một cách nghiêm túc, và tiêu ra nhiều thời giờ để kiểm
tra, phê b́nh bài báo như phê b́nh chính họ; một số người khác th́
bác bỏ bài báo ngay từ lúc đọc qua cái tựa đề mà không cần đọc nội
dung — có thể v́ họ đang có chuyện không vui trong gia đ́nh (kiểu
“giận cá chém thớt”), hay v́ họ không thích đề tài nghiên cứu, hay
họ không ưa tác giả của công tŕnh nghiên cứu, hay họ không thích
cách tŕnh bày và ngôn ngữ của tác giả ... Có người ngâm bài báo
hàng mấy tháng trời và … bỏ mất bài báo. Một số người khác v́ do
ḷng ghanh tị nên sẵn sàng t́m mọi cách làm khó để cho bài báo công
bố sau bài báo của họ. Một số người khác th́ ăn cắp ư tưởng từ bài
báo ḿnh duyệt và t́m cách “d́m” cho được bài báo để ḿnh công bố
trên một tập san khác trước. Có người thậm chí c̣n vi phạm điều
lệ tín cẩn và chuyển giao số liệu và thông tin cho đồng nghiệp đang
nghiên cứu cùng đề tài.
Đánh giá hiệu suất khoa học giữa các quốc gia
Các trường đại học Tây phương thường đếm số lượng bài báo khoa
học mà các nhà khoa học của trường công bố trên các tập chí khoa
học. So sánh giữa các trường cũng thường dựa vào con số này. Nhưng
ít ai chất vấn cách so sánh này nó có ư nghĩa ǵ hay không. Không
nói ra chắc ai cũng biết rằng trong bất cứ lĩnh vực nghiên cứu nào,
Mĩ là nước sản xuất ra nhiều bài báo khoa học nhất. Đặc biệt trong
các bộ môn như thần kinh học và tâm lí học, sinh học phân tử, di
truyền học, và sinh hóa học. Một số nước khác cũng có thế mạnh trong
vài lĩnh vực hẹp như Nhật với sinh hóa học, công nghệ sinh học và
ứng dụng vi sinh học; c̣n Đức th́ mạnh về vật lí; và Anh có thế
mạnh về sinh học phân tử, di truyền học, và vi sinh học.
Tất cả các so sánh này đều đúng, nhưng cũng cần phải ghi thêm
vài cái ghi chú để diễn dịch chúng thích hợp hơn. Các so sánh này
xác nhận Mĩ dẫn đầu thế giới trong các lĩnh vực vừa kể, nhưng chúng
không có nghĩa là Mĩ là nước có hiệu suất khoa học cao nhất thế
giới. Có lẽ so sánh trên đầu người (per capita) th́ thích hợp hơn.
Và nếu chúng ta điều chỉnh số lượng nhà khoa học th́ Thụy Sĩ, Thụy
Điển, Do Thái, và Đan Mạch là những nước có hiệu suất khoa học cao
nhất thế giới (cao hơn Mĩ). Ngay cả Anh và Canada cũng có hiệu suất
khoa học cao hơn Mĩ.
Giới làm nghiên cứu khoa học nói chung nhất trí rằng cái chỉ
tiêu chính để đánh giá thành quả nghiên cứu khoa học là số lượng
bài báo khoa học và sản phẩm thương mại h́nh thành từ các công tŕnh
nghiên cứu. Nhưng ở đây có hai câu hỏi cần đặt ra: Thứ nhất, có
nên dùng số lượng bài báo khoa học và số lần trích dẫn để đánh giá
chất lượng khoa học; và thứ hai, có nên dùng cái chỉ tiêu đó để
so sánh hiệu suất khoa học giữa các trường đại học, hay giữa các
phân khoa, hay giữa các nhà khoa học?
Số lượng khác với phẩm chất. Công bố nhiều bài báo khoa học trên
các tạp chí khoa học không đồng nghĩa với nghiên cứu tốt (tức vấn
đề chất lượng). Phần lớn những định giá về chất lượng nghiên cứu
dựa vào cảm nhận về phẩm chất của bài báo, hay sách, hay tạp chí,
hay nhà xuất bản ấn hành bài báo và sách. Dĩ nhiên, nói đến cảm
nhận là nói đến chủ quan. Chỉ số trích dẫn (citation index hay impact
factor) có thể cung cấp cho chúng ta một con số khách quan để đánh
giá chất lượng nghiên cứu. Nói cách khác, nếu bài bào được nhiều
người nhắc đến và trích dẫn là một thước đo về mức độ cống hiến
vào kho tàng tri thức khoa học của bài báo.
Nhưng ngay cả chỉ số trích dẫn cũng không phải là hoàn chỉnh.
Những công tŕnh nghiên cứu tồi, sai lầm vẫn được nhiều người nhắc
đến và trích dẫn (để làm gương cho người khác). Trích dẫn cũng chỉ
là một h́nh thức chiếu lệ. Phần lớn những bài báo được trích dẫn
nhiều lần là những bài báo liên quan đến phương pháp, hay thuộc
loại review (điểm báo). Nhiều nghiên cứu “tốt”, có chất lượng thường
đi trước thời gian, và người ta chỉ hiểu rơ giá trị của chúng sau
nhiều năm sau khi công bố. (Các chỉ số trích dẫn chỉ tính đến số
trích dẫn trong ṿng 2 năm sau khi công bố). Ngoài ra, phương pháp
tính toán chỉ số trích dẫn trong hệ thống Science Citation Index
có rất nhiều vấn đề về kĩ thuật và giả định. Tất cả những vấn đề
này đă từng được giới khoa học đem ra mổ xẻ từ lâu [2].
Chất lượng trường và phân khoa
Một số phân tích gần đây (thường đăng trên tạp chí Scientometrics,
một tạp chí chuyên nghiên cứu về hiệu suất khoa học) cho biết các
chỉ số trích dẫn là thước đo hợp lí cho chất lượng nghiên cứu khoa
học. Giả dụ như chỉ số trích dẫn là một cách đo hợp lí, câu hỏi
đặt ra là liệu chỉ số trích dẫn có thể dùng làm thước đo để so sánh
hiệu suất khoa học giữa các trường đại học hay giữa các phân khoa
hay không? Nói cách khác, nếu trường A có chỉ số trích dẫn cao hơn
trường B, chúng ta có thể nói trường B tồi hơn trường A hay không?
Có thể lắm, nhưng không thể kết luận chắc chắn được.
Tại sao? Tại v́ dựa vào con số bài báo hay chỉ số trích dẫn để
so sánh hiệu năng giữa các phân khoa trong một đại học không phải
là những con số có ư nghĩa, bởi v́ một số bộ môn khoa học có xu
hướng (hay truyền thống) sản xuất ra những bài báo ngắn (và nhiều),
hay đơn thuần là họ có truyền thống trích dẫn lẫn nhau, thậm chí
tự ḿnh trích dẫn ḿnh! Có nhiều nhà khoa học trích dẫn hay liệt
kê những bài báo mà họ hoặc là không hay chưa đọc (nhưng chỉ trích
dẫn theo sự trích dẫn của người khác). Có người liệt kê một danh
sách những bài báo có khi chẳng dính dáng ǵ nhiều đến công tŕnh
nghiên cứu, nhưng chỉ làm dáng để gây ấn tượng cho người duyệt bài
hay người đọc! Ngoài ra, những bộ môn nghiên cứu lớn (như y khoa
chẳng hạn) có nhiều nhà nghiên cứu và con số bài báo cũng như chỉ
số trích dẫn cũng tăng theo. Nói một cách ngắn gọn, con số thống
kê bài báo và chỉ số trích dẫn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố ngoại
vi hơn là chất lượng khoa học.
Ngay cả nếu một phân khoa có nhiều bài báo và chỉ số trích dẫn
cao đi nữa, th́ điều đó cũng không hẳn có nghĩa rằng phân khoa đó
có hiệu suất khoa học cao, bởi v́ có thể chỉ vài cá nhân trong phân
khoa là tích cực nghiên cứu, c̣n lại chỉ là những người lo giảng
dạy. Một phân khoa với nhiều người có hiệu suất khoa học cao chắc
chắn phải khá hơn một phân khoa mà trong đó chỉ có một ngôi sao
duy nhất.
Năng suất cá nhân
Nếu các tiêu chuẩn so sánh hiệu suất giữa các trường đại học
và phân khoa vẫn c̣n trong ṿng tranh căi, th́ đo lường năng suất
khoa học của một nhà khoa học c̣n là vấn đề bất định hơn nữa. Cố
nhiên, năng suất khoa học của các giáo sư và nhà khoa học thường
được kiểm tra và đánh giá mỗi năm, và chất lượng nghiên cứu được
xem là một khâu quan trọng nhất trong quá tŕnh đánh giá này.
Trong quá khứ đă có nhiều nghiên cứu được tiến hành để t́m một
cách đo lường khách quan nhất cho việc ước định chất lượng nghiên
cứu của một cá nhân. Các nghiên cứu này nói chung đi đến kết luận
là phải dựa vào số lượng bài báo khoa học, chất lượng nghiên cứu,
tổng số tiền tài trợ thu về cho trường, khả năng giảng dạy, v.v…
Khi xem xét đánh giá năng suất cá nhân, một vấn đề cơ bản với chỉ
số trích dẫn là đại đa số nhà khoa học có chỉ số trích dẫn rất thấp.
Nhưng không có lí do ǵ để cho rằng một nhà khoa học với 3 trích
dẫn tài giỏi hơn nhà khoa học với 1 trích dẫn. Do đó, các nhà nghiên
cứu cũng thú nhận là ngay cả các tiêu chí này cũng chưa hoàn chỉnh
và công bằng cho mọi cá nhân, bởi v́ [chẳng hạn như] phụ nữ, hay
người thiểu số có những hoàn cảnh cá biệt và họ phải có những tiêu
chí riêng.
So sánh giữa các đại học
So sánh giữa các đại học không phải là chuyện dễ dàng chút nào,
bởi v́ có đại học chủ trương nghiên cứu là chính, lại có đại học
chủ trương giảng dạy là chính. Do đó, so sánh số lượng bài báo khoa
học, và nhất là chỉ số trích dẫn giữa hai nhóm trường này không
thể nào công bằng được. Cho đến nay, chưa có ai nhất trí cách so
sánh nào là tốt nhất và khách quan nhất.
Thế nhưng hàng năm, có nhiều nhóm nghiên cứu giáo dục chịu khó
làm thống kê và cho ra những danh sách đại loại như “N trường
đại học tốt nhất trên thế giới năm T”. Mấy năm trước, N
thường là 10 hay 100. Năm nay (T=2004), N lên đến 500, như báo
chí trong nước đưa tin từ hai tháng trước. Nhưng giá trị thực tế
của danh sách này không phải ai cũng nhất trí; điều mà ai cũng đồng
ư là danh sách này mang nặng tính tuyên truyền và thương mại. Nó
là sản phẩm của một suy nghĩ chiến lược của các trung tâm giáo dục
Tây phương nhằm thu hút tài trợ và sinh viên từ các nước nghèo hơn.
Có thêm sinh viên tức là có thêm tiền. Có thêm tiền, trường đại
học sẽ củng cố thêm vị trí của ḿnh trên trường quốc tế để cạnh
tranh thu hút người tài.
Tuy nhiên, có người than thở rằng không biết ngày nào đại học
Việt Nam ta mới có trong danh sách này. Từ than thở, đến thất vọng,
rồi quay sang t́m đối tượng để đổ thừa. Đó là một tâm lí thông thường
của người thất vọng. Nhưng một thất vọng (hay “nguyện vọng” ?) như
thế là không thực tế chút nào. Để hiểu tại sao, có lẽ chúng ta cần
phải điểm của những trường “top N” này là ǵ?
Thứ nhất, các trường này thường là những trung tâm nghiên cứu
(research university). Đại học ở các nước Tây phương thường là những
“đại học tổng hợp” mà trong đó có nhiều phân khoa, và họ đều có
hai chức năng chính và vừa là trung tâm đào tạo, vừa là trung tâm
nghiên cứu. Một số trường loại “elite” trong nhóm “Top 10” phần
lớn là những trung tâm nghiên cứu, như Harvard, Yale, Princeton,
UC Berkeley, MIT, Columbia, CalTech, Oxford, Cambridge, v.v… chứ
không phải các trường chỉ đào tạo.
Thứ hai, v́ là trung tâm nghiên cứu, các trường Top 10 thường
có ít sinh viên. Những trường hàng đầu thế giới như Harvard, Yale,
Oxford, Cambridge, v.v… số lượng sinh viên không quá con số 10 ngàn,
thậm chí dưới 5000. Có trường như CalTech số lượng sinh viên có
khi không lên đến con số 1000. Phần lớn những sinh viên này là nghiên
cứu viên thạc sĩ và tiến sĩ, tức cũng là những người làm nghiên
cứu. Tuy con số sinh viên ít, nhưng đội ngũ giáo sư (hay nói đúng
hơn là nhà nghiên cứu) th́ lớn gấp hai, gấp 3 lần, và họ thường
là những nhà khoa học được tuyển chọn qua một qui tŕnh rất khắc
khe. Với đội ngũ làm nghiên cứu lớn như thế và chẳng tiêu nhiều
thời gian cho giảng dạy, họ có cơ hội và thời gian làm nghiên cứu
nhiều hơn các trường đại học to lớn khác.
Thứ ba, các trường Top 10 là những đại học “giàu”. Những trường
như Harvard, Yale, Stanford, v.v… trên thực tế là những đại học
tư, và họ có những liên hệ mật thiết với giới thương gia kĩ nghệ
và chính khách, những người cũng xuất thân từ các ḷ đào tạo này,
cho nên khả năng tranh thủ tài trợ của các trường này rất cao. Thêm
vào đó là các nhà nghiên cứu và giáo sư trong các trường này là
những người có ảnh hưởng lớn trong hệ thống phân phối tài trợ của
chính phủ. Cứ nh́n qua danh sách những chủ nhiệm các chương tŕnh
cung cấp ngân sách nghiên cứu cho các đại học (do chính phủ quản
lí) ai cũng thấy họ là những người thuộc các cụm đại học Top 10.
Có thể nói, ngân sách nghiên cứu khoa học, dù trên danh nghĩa là
do chính phủ quản lí, nhưng trên thực tế nằm trong tay các trường
này v́ chính họ là những người quyết định phân phối tiền bạc cho
ai và cho trường nào.
Thứ tư, tất cả các trường Top 10 đều có những chương tŕnh hợp
tác nghiên cứu ngoài trường. Thời đại ngày nay, không thể nào tiến
hành những công tŕnh nghiên cứu lớn mà không cần đến hợp tác với
đồng nghiệp từ các trung tâm khác. Hợp tác cũng là một h́nh thức
thu hút ngân sách nghiên cứu và thu hút nhân tài. Bất cứ ai có dịp
ghé thăm những trường Top 10 này đều có thể thấy đó là những trung
tâm nghiên cứu quốc tế, mà trong đó các nhà nghiên cứu đến từ khắp
thế giới.
Nh́n qua những đặc điểm này, chúng ta thấy các đại học Việt Nam
chưa thể so sánh nổi với họ. Phải nh́n nhận một thực tế rằng dù
cho năm T nào và con số N là 500 hay 1000 đi nữa,
th́ xác suất mà các trường đại học nước ta nằm trong danh sách đó
chắc rất thấp.
Các trường đại học nước ta (và phần lớn đại học tại một số nước
Đông Nam Á) vẫn chủ yếu là những trung tâm giảng dạy và đào tạo,
chứ chưa là những trung tâm nghiên cứu khoa học. Chúng ta chưa có
điều kiện và cơ sở để làm nghiên cứu lớn như các đại học của các
nước đă phát triển. Do đó, trong điều kiện hiện nay, đ̣i hỏi các
nhà khoa học Việt Nam phải có những bài báo khoa học trên các tập
san quốc tế và có chỉ số trích dẫn như các giáo sư tại các đại học
Tây phương là một yêu cầu thiếu thực tế.
Câu hỏi đáng đặt ra là đào tạo bậc đại học của chúng ta có phải
nhắm tới mục tiêu để có tên trong danh sách này? Câu trả lời chắc
là “không”. Chúng ta không cần phải có tên trong danh sách đó, nhưng
chúng ta cần phải chấn chỉnh và phát huy hệ thống giáo dục đại học
sao cho có chất lượng cao và đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh
tế của nước nhà. Yếu tố quan trọng nhất trong mục tiêu lâu dài này
là con người, tức là sinh viên và đội ngũ giảng dạy. Mục tiêu thực
tế và hiện tại của chúng ta là đào tạo một đội ngũ chuyên viên khoa
học lành nghề, bén nhạy trong việc giải quyết vấn đề, và nhất là
có khả năng hội nhập vào trường khoa học quốc tế. Một khi các sinh
viên ta khi ra nước ngoài thực tập hay theo học tiến sĩ có thái
độ tự tin, có khả năng xoay xở một cách độc lập, có khả năng tự
học dưới sự giám thị tối thiểu của người hướng dẫn luận án th́ lúc
đó chúng ta đă có cải tiến. Một khi chúng ta đă có những sinh viên
tốt và đội ngũ giảng dạy và làm nghiên cứu giỏi, th́ những đo lường
hiệu suất khoa học chỉ là chuyện phụ.
Tài liệu đọc thêm:
[1] J. Campanario, "Peer review for journals as it stands today,
Part 2," Science Communication, 19:277-306, 1998; or S. Cole et
al., "Chance and consensus in peer review," Science, 214:881-6,
1981.
[2] T.J. Phelan, "A compendium of issues for citation analysis,"
Scientometrics, 45:117-36, 1999.
[3] E. Garfield, "Random thoughts on citationology: its theory
and practice," Scientometrics, 43:69-76, 1998; or H.A. Zuckerman,
Scientific Elite: Nobel Laureates in the United States, Brunswick,
N.J., Transaction Publishers, 1996.
|