www YKHOANET

NGHIÊN CỨU Y KHOA

B́nh luận y khoa

Bài giảng thống kê sinh học - (Biostatistics)

Thống kê R

Từ điển y khoa

Tạp chí y khoa

 

GÓC SINH VIÊN Y KHOA

Atlas ykhoa

Thông tin sinh viên

Triệu chứng học nội khoa

Thông số Cận Lâm Sàng

Tim mạchĐiều dưỡng

H́nh ảnh y khoa

 

TRƯỜNG  Y KHOA

ĐH Y Khoa Hà Nội

ĐH Y Dược TPHCM

ĐH Y Khoa Thái Nguyên

ĐH Y Khoa Huế

ĐH Y Khoa Thái B́nh

ĐH Y Tế Công Cộng

 

Phụ trách thường trực:
GS Nguyễn Văn Tuấn
TS Nguyễn Đ́nh Nguyên
BS Phan Xuân Trung

 

Đo lường hiệu suất khoa học

Nguyễn Văn

Tại các nước Tây phương, trong t́nh h́nh nghiên cứu khoa học sinh sôi nẩy nở nhanh chóng và khoa học trở nên một hoạt động tốn kém, các cơ quan tài trợ nghiên cứu phải đi t́m những phương pháp khách quan để đo lường chất lượng khoa bảng và nghiên cứu khoa học. Trong t́nh h́nh “gạo châu củi quế” như hiện nay, ai cũng muốn đồng tiền họ bỏ ra phải có hiệu suất cao. Một số nước có cơ chế tài trợ ngân sách tập trung (như Anh và Úc) đă từng sử dụng một hệ thống định giá thành quả khoa học và phân phối tiền bạc dựa theo kết quả định giá này. Ở Mĩ, Quốc hội đang làm áp lực cho Cơ quan Khoa học Quốc gia (National Science Foundation) phải công bố thành quả đầu tư cho nghiên cứu khoa học. Ở nước ta gần đây, người ta cũng đặt vấn đề về chất lượng nghiên cứu và t́m phương pháp khách quan để làm một thước đo cho việc phân phối ngân sách cho nghiên cứu khoa học. Nhưng những thước đo này đều có những ưu điểm và nhược điểm mà người ngoài khoa học hay người mới tập tành vào lĩnh vực nghiên cứu khoa học ít để ư hay biết đến, cho nên họ có những phát biểu rất sai lầm.

Cơ chế b́nh duyệt bài báo khoa học

Cố nhiên, giới làm nghiên cứu khoa học th́ chẳng xa lạ ǵ với những hệ thống thẩm định các công tŕnh nghiên cứu khoa học. Cơ chế b́nh duyệt (peer review) là một cơ chế có mục đích chính là đánh giá và kiểm tra các bài báo khoa học trước khi chấp nhận cho công bố trên một tập chí khoa học. Cơ chế này c̣n được ứng dụng trong việc duyệt những đơn xin tài trợ cho nghiên cứu . Về mặt lí thuyết đây là một cơ chế rất hay, bởi v́ người đánh giá công tŕnh nghiên cứu là những người cùng làm trong ngành, có chuyên môn liên quan đến công tŕnh nghiên cứu, họ chính là người có thẩm quyền và khả năng đánh giá chất lượng của công tŕnh nghiên cứu. Nhưng nhà khoa học cũng chỉ là những người có t́nh cảm và thiên kiến, cũng là những người chịu sự chi phối của các nhu cầu tất yếu, cũng cạnh tranh, cho nên kết quả duyệt bài khoa học không phải lúc nào cũng hoàn toàn khách quan. Rất nhiều người từng trải qua cái cơ chế này cho rằng đó là một hệ thống không hoàn chỉnh và có khi thiếu công bằng. Đối với bất cứ nhà nghiên cứu khoa học nào đă từng kinh qua việc b́nh duyệt có thể bác bỏ hệ thống đó là một cách làm việc vô bổ và vô giá trị [1]. Nhưng vấn đề thực tế là ngoài hệ thống b́nh duyệt đó, chưa có hệ thống nào tốt hơn!

Cơ chế duyệt bài thường thành công trong việc ngăn chận những cặn bă, rác rưởi khoa học, và giúp cho tập san hay các cơ quan cung cấp tài trợ đi đến một quyết định công bằng. Tuy nhiên cơ chế kiểm duyệt bài vở không thể (hay ít khi nào) phát hiện những lỗi lầm từ sự cố ư lường gạt (như giả tạo số liệu chẳng hạn), bởi v́ chức năng của cơ chế này không làm việc đó. Nhưng cơ chế duyệt bài có nhiều khiếm khuyết mà hiện nay vẫn chưa thể giải quyết được. Bởi v́ những người duyệt bài không được phần thưởng vật chất nào, họ không có động cơ để làm việc tốt. Một số người duyệt bài nhận lấy trách nhiệm một cách nghiêm túc, và tiêu ra nhiều thời giờ để kiểm tra, phê b́nh bài báo như phê b́nh chính họ; một số người khác th́ bác bỏ bài báo ngay từ lúc đọc qua cái tựa đề mà không cần đọc nội dung — có thể v́ họ đang có chuyện không vui trong gia đ́nh (kiểu “giận cá chém thớt”), hay v́ họ không thích đề tài nghiên cứu, hay họ không ưa tác giả của công tŕnh nghiên cứu, hay họ không thích cách tŕnh bày và ngôn ngữ của tác giả ... Có người ngâm bài báo hàng mấy tháng trời và … bỏ mất bài báo. Một số người khác v́ do ḷng ghanh tị nên sẵn sàng t́m mọi cách làm khó để cho bài báo công bố sau bài báo của họ. Một số người khác th́ ăn cắp ư tưởng từ bài báo ḿnh duyệt và t́m cách “d́m” cho được bài báo để ḿnh công bố trên một tập san khác trước. Có người thậm chí c̣n vi phạm điều lệ tín cẩn và chuyển giao số liệu và thông tin cho đồng nghiệp đang nghiên cứu cùng đề tài.

Đánh giá hiệu suất khoa học giữa các quốc gia

Các trường đại học Tây phương thường đếm số lượng bài báo khoa học mà các nhà khoa học của trường công bố trên các tập chí khoa học. So sánh giữa các trường cũng thường dựa vào con số này. Nhưng ít ai chất vấn cách so sánh này nó có ư nghĩa ǵ hay không. Không nói ra chắc ai cũng biết rằng trong bất cứ lĩnh vực nghiên cứu nào, Mĩ là nước sản xuất ra nhiều bài báo khoa học nhất. Đặc biệt trong các bộ môn như thần kinh học và tâm lí học, sinh học phân tử, di truyền học, và sinh hóa học. Một số nước khác cũng có thế mạnh trong vài lĩnh vực hẹp như Nhật với sinh hóa học, công nghệ sinh học và ứng dụng vi sinh học; c̣n Đức th́ mạnh về vật lí; và Anh có thế mạnh về sinh học phân tử, di truyền học, và vi sinh học.

Tất cả các so sánh này đều đúng, nhưng cũng cần phải ghi thêm vài cái ghi chú để diễn dịch chúng thích hợp hơn. Các so sánh này xác nhận Mĩ dẫn đầu thế giới trong các lĩnh vực vừa kể, nhưng chúng không có nghĩa là Mĩ là nước có hiệu suất khoa học cao nhất thế giới. Có lẽ so sánh trên đầu người (per capita) th́ thích hợp hơn. Và nếu chúng ta điều chỉnh số lượng nhà khoa học th́ Thụy Sĩ, Thụy Điển, Do Thái, và Đan Mạch là những nước có hiệu suất khoa học cao nhất thế giới (cao hơn Mĩ). Ngay cả Anh và Canada cũng có hiệu suất khoa học cao hơn Mĩ.

Giới làm nghiên cứu khoa học nói chung nhất trí rằng cái chỉ tiêu chính để đánh giá thành quả nghiên cứu khoa học là số lượng bài báo khoa học và sản phẩm thương mại h́nh thành từ các công tŕnh nghiên cứu. Nhưng ở đây có hai câu hỏi cần đặt ra: Thứ nhất, có nên dùng số lượng bài báo khoa học và số lần trích dẫn để đánh giá chất lượng khoa học; và thứ hai, có nên dùng cái chỉ tiêu đó để so sánh hiệu suất khoa học giữa các trường đại học, hay giữa các phân khoa, hay giữa các nhà khoa học?

Số lượng khác với phẩm chất. Công bố nhiều bài báo khoa học trên các tạp chí khoa học không đồng nghĩa với nghiên cứu tốt (tức vấn đề chất lượng). Phần lớn những định giá về chất lượng nghiên cứu dựa vào cảm nhận về phẩm chất của bài báo, hay sách, hay tạp chí, hay nhà xuất bản ấn hành bài báo và sách. Dĩ nhiên, nói đến cảm nhận là nói đến chủ quan. Chỉ số trích dẫn (citation index hay impact factor) có thể cung cấp cho chúng ta một con số khách quan để đánh giá chất lượng nghiên cứu. Nói cách khác, nếu bài bào được nhiều người nhắc đến và trích dẫn là một thước đo về mức độ cống hiến vào kho tàng tri thức khoa học của bài báo.

Nhưng ngay cả chỉ số trích dẫn cũng không phải là hoàn chỉnh. Những công tŕnh nghiên cứu tồi, sai lầm vẫn được nhiều người nhắc đến và trích dẫn (để làm gương cho người khác). Trích dẫn cũng chỉ là một h́nh thức chiếu lệ. Phần lớn những bài báo được trích dẫn nhiều lần là những bài báo liên quan đến phương pháp, hay thuộc loại review (điểm báo). Nhiều nghiên cứu “tốt”, có chất lượng thường đi trước thời gian, và người ta chỉ hiểu rơ giá trị của chúng sau nhiều năm sau khi công bố. (Các chỉ số trích dẫn chỉ tính đến số trích dẫn trong ṿng 2 năm sau khi công bố). Ngoài ra, phương pháp tính toán chỉ số trích dẫn trong hệ thống Science Citation Index có rất nhiều vấn đề về kĩ thuật và giả định. Tất cả những vấn đề này đă từng được giới khoa học đem ra mổ xẻ từ lâu [2].

Chất lượng trường và phân khoa

Một số phân tích gần đây (thường đăng trên tạp chí Scientometrics, một tạp chí chuyên nghiên cứu về hiệu suất khoa học) cho biết các chỉ số trích dẫn là thước đo hợp lí cho chất lượng nghiên cứu khoa học. Giả dụ như chỉ số trích dẫn là một cách đo hợp lí, câu hỏi đặt ra là liệu chỉ số trích dẫn có thể dùng làm thước đo để so sánh hiệu suất khoa học giữa các trường đại học hay giữa các phân khoa hay không? Nói cách khác, nếu trường A có chỉ số trích dẫn cao hơn trường B, chúng ta có thể nói trường B tồi hơn trường A hay không? Có thể lắm, nhưng không thể kết luận chắc chắn được.

Tại sao? Tại v́ dựa vào con số bài báo hay chỉ số trích dẫn để so sánh hiệu năng giữa các phân khoa trong một đại học không phải là những con số có ư nghĩa, bởi v́ một số bộ môn khoa học có xu hướng (hay truyền thống) sản xuất ra những bài báo ngắn (và nhiều), hay đơn thuần là họ có truyền thống trích dẫn lẫn nhau, thậm chí tự ḿnh trích dẫn ḿnh! Có nhiều nhà khoa học trích dẫn hay liệt kê những bài báo mà họ hoặc là không hay chưa đọc (nhưng chỉ trích dẫn theo sự trích dẫn của người khác). Có người liệt kê một danh sách những bài báo có khi chẳng dính dáng ǵ nhiều đến công tŕnh nghiên cứu, nhưng chỉ làm dáng để gây ấn tượng cho người duyệt bài hay người đọc! Ngoài ra, những bộ môn nghiên cứu lớn (như y khoa chẳng hạn) có nhiều nhà nghiên cứu và con số bài báo cũng như chỉ số trích dẫn cũng tăng theo. Nói một cách ngắn gọn, con số thống kê bài báo và chỉ số trích dẫn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố ngoại vi hơn là chất lượng khoa học.

Ngay cả nếu một phân khoa có nhiều bài báo và chỉ số trích dẫn cao đi nữa, th́ điều đó cũng không hẳn có nghĩa rằng phân khoa đó có hiệu suất khoa học cao, bởi v́ có thể chỉ vài cá nhân trong phân khoa là tích cực nghiên cứu, c̣n lại chỉ là những người lo giảng dạy. Một phân khoa với nhiều người có hiệu suất khoa học cao chắc chắn phải khá hơn một phân khoa mà trong đó chỉ có một ngôi sao duy nhất.

Năng suất cá nhân

Nếu các tiêu chuẩn so sánh hiệu suất giữa các trường đại học và phân khoa vẫn c̣n trong ṿng tranh căi, th́ đo lường năng suất khoa học của một nhà khoa học c̣n là vấn đề bất định hơn nữa. Cố nhiên, năng suất khoa học của các giáo sư và nhà khoa học thường được kiểm tra và đánh giá mỗi năm, và chất lượng nghiên cứu được xem là một khâu quan trọng nhất trong quá tŕnh đánh giá này.

Trong quá khứ đă có nhiều nghiên cứu được tiến hành để t́m một cách đo lường khách quan nhất cho việc ước định chất lượng nghiên cứu của một cá nhân. Các nghiên cứu này nói chung đi đến kết luận là phải dựa vào số lượng bài báo khoa học, chất lượng nghiên cứu, tổng số tiền tài trợ thu về cho trường, khả năng giảng dạy, v.v… Khi xem xét đánh giá năng suất cá nhân, một vấn đề cơ bản với chỉ số trích dẫn là đại đa số nhà khoa học có chỉ số trích dẫn rất thấp. Nhưng không có lí do ǵ để cho rằng một nhà khoa học với 3 trích dẫn tài giỏi hơn nhà khoa học với 1 trích dẫn. Do đó, các nhà nghiên cứu cũng thú nhận là ngay cả các tiêu chí này cũng chưa hoàn chỉnh và công bằng cho mọi cá nhân, bởi v́ [chẳng hạn như] phụ nữ, hay người thiểu số có những hoàn cảnh cá biệt và họ phải có những tiêu chí riêng.

So sánh giữa các đại học

So sánh giữa các đại học không phải là chuyện dễ dàng chút nào, bởi v́ có đại học chủ trương nghiên cứu là chính, lại có đại học chủ trương giảng dạy là chính. Do đó, so sánh số lượng bài báo khoa học, và nhất là chỉ số trích dẫn giữa hai nhóm trường này không thể nào công bằng được. Cho đến nay, chưa có ai nhất trí cách so sánh nào là tốt nhất và khách quan nhất.

Thế nhưng hàng năm, có nhiều nhóm nghiên cứu giáo dục chịu khó làm thống kê và cho ra những danh sách đại loại như “N trường đại học tốt nhất trên thế giới năm T”. Mấy năm trước, N thường là 10 hay 100. Năm nay (T=2004), N lên đến 500, như báo chí trong nước đưa tin từ hai tháng trước. Nhưng giá trị thực tế của danh sách này không phải ai cũng nhất trí; điều mà ai cũng đồng ư là danh sách này mang nặng tính tuyên truyền và thương mại. Nó là sản phẩm của một suy nghĩ chiến lược của các trung tâm giáo dục Tây phương nhằm thu hút tài trợ và sinh viên từ các nước nghèo hơn. Có thêm sinh viên tức là có thêm tiền. Có thêm tiền, trường đại học sẽ củng cố thêm vị trí của ḿnh trên trường quốc tế để cạnh tranh thu hút người tài.

Tuy nhiên, có người than thở rằng không biết ngày nào đại học Việt Nam ta mới có trong danh sách này. Từ than thở, đến thất vọng, rồi quay sang t́m đối tượng để đổ thừa. Đó là một tâm lí thông thường của người thất vọng. Nhưng một thất vọng (hay “nguyện vọng” ?) như thế là không thực tế chút nào. Để hiểu tại sao, có lẽ chúng ta cần phải điểm của những trường “top N” này là ǵ?

Thứ nhất, các trường này thường là những trung tâm nghiên cứu (research university). Đại học ở các nước Tây phương thường là những “đại học tổng hợp” mà trong đó có nhiều phân khoa, và họ đều có hai chức năng chính và vừa là trung tâm đào tạo, vừa là trung tâm nghiên cứu. Một số trường loại “elite” trong nhóm “Top 10” phần lớn là những trung tâm nghiên cứu, như Harvard, Yale, Princeton, UC Berkeley, MIT, Columbia, CalTech, Oxford, Cambridge, v.v… chứ không phải các trường chỉ đào tạo.

Thứ hai, v́ là trung tâm nghiên cứu, các trường Top 10 thường có ít sinh viên. Những trường hàng đầu thế giới như Harvard, Yale, Oxford, Cambridge, v.v… số lượng sinh viên không quá con số 10 ngàn, thậm chí dưới 5000. Có trường như CalTech số lượng sinh viên có khi không lên đến con số 1000. Phần lớn những sinh viên này là nghiên cứu viên thạc sĩ và tiến sĩ, tức cũng là những người làm nghiên cứu. Tuy con số sinh viên ít, nhưng đội ngũ giáo sư (hay nói đúng hơn là nhà nghiên cứu) th́ lớn gấp hai, gấp 3 lần, và họ thường là những nhà khoa học được tuyển chọn qua một qui tŕnh rất khắc khe. Với đội ngũ làm nghiên cứu lớn như thế và chẳng tiêu nhiều thời gian cho giảng dạy, họ có cơ hội và thời gian làm nghiên cứu nhiều hơn các trường đại học to lớn khác.

Thứ ba, các trường Top 10 là những đại học “giàu”. Những trường như Harvard, Yale, Stanford, v.v… trên thực tế là những đại học tư, và họ có những liên hệ mật thiết với giới thương gia kĩ nghệ và chính khách, những người cũng xuất thân từ các ḷ đào tạo này, cho nên khả năng tranh thủ tài trợ của các trường này rất cao. Thêm vào đó là các nhà nghiên cứu và giáo sư trong các trường này là những người có ảnh hưởng lớn trong hệ thống phân phối tài trợ của chính phủ. Cứ nh́n qua danh sách những chủ nhiệm các chương tŕnh cung cấp ngân sách nghiên cứu cho các đại học (do chính phủ quản lí) ai cũng thấy họ là những người thuộc các cụm đại học Top 10. Có thể nói, ngân sách nghiên cứu khoa học, dù trên danh nghĩa là do chính phủ quản lí, nhưng trên thực tế nằm trong tay các trường này v́ chính họ là những người quyết định phân phối tiền bạc cho ai và cho trường nào.

Thứ tư, tất cả các trường Top 10 đều có những chương tŕnh hợp tác nghiên cứu ngoài trường. Thời đại ngày nay, không thể nào tiến hành những công tŕnh nghiên cứu lớn mà không cần đến hợp tác với đồng nghiệp từ các trung tâm khác. Hợp tác cũng là một h́nh thức thu hút ngân sách nghiên cứu và thu hút nhân tài. Bất cứ ai có dịp ghé thăm những trường Top 10 này đều có thể thấy đó là những trung tâm nghiên cứu quốc tế, mà trong đó các nhà nghiên cứu đến từ khắp thế giới.

Nh́n qua những đặc điểm này, chúng ta thấy các đại học Việt Nam chưa thể so sánh nổi với họ. Phải nh́n nhận một thực tế rằng dù cho năm T nào và con số N là 500 hay 1000 đi nữa, th́ xác suất mà các trường đại học nước ta nằm trong danh sách đó chắc rất thấp.

Các trường đại học nước ta (và phần lớn đại học tại một số nước Đông Nam Á) vẫn chủ yếu là những trung tâm giảng dạy và đào tạo, chứ chưa là những trung tâm nghiên cứu khoa học. Chúng ta chưa có điều kiện và cơ sở để làm nghiên cứu lớn như các đại học của các nước đă phát triển. Do đó, trong điều kiện hiện nay, đ̣i hỏi các nhà khoa học Việt Nam phải có những bài báo khoa học trên các tập san quốc tế và có chỉ số trích dẫn như các giáo sư tại các đại học Tây phương là một yêu cầu thiếu thực tế.

Câu hỏi đáng đặt ra là đào tạo bậc đại học của chúng ta có phải nhắm tới mục tiêu để có tên trong danh sách này? Câu trả lời chắc là “không”. Chúng ta không cần phải có tên trong danh sách đó, nhưng chúng ta cần phải chấn chỉnh và phát huy hệ thống giáo dục đại học sao cho có chất lượng cao và đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế của nước nhà. Yếu tố quan trọng nhất trong mục tiêu lâu dài này là con người, tức là sinh viên và đội ngũ giảng dạy. Mục tiêu thực tế và hiện tại của chúng ta là đào tạo một đội ngũ chuyên viên khoa học lành nghề, bén nhạy trong việc giải quyết vấn đề, và nhất là có khả năng hội nhập vào trường khoa học quốc tế. Một khi các sinh viên ta khi ra nước ngoài thực tập hay theo học tiến sĩ có thái độ tự tin, có khả năng xoay xở một cách độc lập, có khả năng tự học dưới sự giám thị tối thiểu của người hướng dẫn luận án th́ lúc đó chúng ta đă có cải tiến. Một khi chúng ta đă có những sinh viên tốt và đội ngũ giảng dạy và làm nghiên cứu giỏi, th́ những đo lường hiệu suất khoa học chỉ là chuyện phụ.

Tài liệu đọc thêm:

[1] J. Campanario, "Peer review for journals as it stands today, Part 2," Science Communication, 19:277-306, 1998; or S. Cole et al., "Chance and consensus in peer review," Science, 214:881-6, 1981.

[2] T.J. Phelan, "A compendium of issues for citation analysis," Scientometrics, 45:117-36, 1999.

[3] E. Garfield, "Random thoughts on citationology: its theory and practice," Scientometrics, 43:69-76, 1998; or H.A. Zuckerman, Scientific Elite: Nobel Laureates in the United States, Brunswick, N.J., Transaction Publishers, 1996.


Y kiến của bạn: (vui ḷng gơ tiếng Việt có dấu, hoặc copy văn bản từ tài liệu soạn bằng MS Word)

Họ tên
Email
Nội dung
 

 

 

YKHOA.NET - PHẦN MỀM QUẢN LƯ BỆNH VIỆN


HT MEDSOFT

 

Phần mềm quản lư bệnh viện
YKHOA.NET

 

 

Website YKHOANET.COM khai trương ngày 24/12/2000

Website YKHOANET - Y KHOA VIỆT NAM
www.ykhoanet.com www.ykhoa.net 

 

Gởi bài cho YKHOANET phanxuantrung@ykhoa.net