Năm lí do cho mắm tôm “vô tội”
(và chiến lược ngăn cấm mắm tôm
là sai)?
Nguyễn Văn Tuấn
Một quyết định vội vă?
Bệnh tiêu chảy và tả bộc phát vào ngày 23/10. Khoảng một tuần
sau, ngày
29/10, Sở Y tế Hà Nội cho biết có 11/14 quận thuộc Hà Nội có
xuất hiện “bệnh tiêu chảy cấp nguy hiểm”. Ngày
30/10, giám đốc Sở Y tế Hà Nội cho biết có 30 trường
hợp đă nhập viện để điều trị và “Nguyên
nhân chính dẫn đến căn bệnh này là do người bệnh ăn thực phẩm
sống như: mắm tôm, mắm tép, tiết canh, gỏi hải sản… trong đó có
tới 90% số người mắc bệnh là do ăn mắm tôm sống.”
Liền theo đó, trong ngày
30/10 UBND Thành phố Hà nội ra công lệnh tạm thời cấm
sản xuất, vận chuyển, buôn bán và tiêu thụ mắm tôm
trên địa bàn thành phố dù “Trong
khi chưa xác định được nguyên nhân chính gây ra hàng loạt ca
tiêu chảy cấp”.
Đến ngày
2/11 Bộ trưởng Y tế cho biết “Nghi phạm số một hiện nay
gây ra dịch tiêu chảy cấp là mắm tôm.”
Ngày 3/11
(tức đúng 10 ngày sau khi bệnh bộc phát),
Bộ Y tế ban hành “Quy tŕnh xử lư dịch tả”. Mắm
tôm, qua nhận xét và đánh giá của các quan chức y tế, là thủ
phạm của sự bộc phát bệnh tả. Trong suốt quá tŕnh bộc phát của
bệnh, các quan chức y tế chỉ chú trọng đến nguồn thực phẩm, mà
đặc biệt là mắm tôm, nhưng ít chú trọng đến nguồn nước, một yếu
tố lan bệnh đă được chứng minh hơn 100 năm nay qua 7 lần đại
dịch trên thế giới.
Sở dĩ tôi phải tŕnh bày diễn tiến của sự việc để cho thấy rằng
quyết định của các giới chức y tế có phần vội vă, và quan trọng
hơn hết là không dựa vào bằng chứng khoa học. Cơ sở chính cho
quyết định như tŕnh bày trên chỉ dựa vào một sự kiện: đa số
người mắc bệnh có “tiền sử” ăn mắm tôm! (Liên quan đến vấn đề
này, người viết đă
phân tích sai lầm mang tính dịch tễ học về nhận dạng yếu tố
nguy cơ qua quan sát một nhóm bệnh). Mắm tôm từ đó trở thành
trung điểm của chiến lược chống bệnh. Một số doanh nghiệp và cơ
sở sản xuất mắm tôm đă điêu đứng trước quyết định cấm sản xuất
và phân phối mắm tôm. Thậm chí, có báo c̣n đi xa hơn khuyên
người dân loại bỏ món ăn quốc hồn quốc túy này ra khỏi bữa ăn!
Nhưng một số bằng chứng gần đây đă bắt đầu làm cho nhiều người
đặt vấn đề có phải Bộ Y tế đă quá “mạnh tay” với mắm tôm. Thật
vậy, có nhiều lí do tại sao mắm tôm không phải là nguyên nhân
gây bệnh và vi khuẩn tả V. cholerae không thể tồn tại
trong mắm tôm.
Lí do 1: Vi
khuẩn tả V. cholerae không thể tồn tại trong mắm tôm
Trong một
phân tích trước đây,
chúng tôi đă chỉ ra rằng mắm tôm không thể là môi trường để vi
khuẩn tả sống sót hay phát triển được. Rất nhiều nghiên cứu
trong y văn cho thấy rơ ràng rằng vi khuẩn tả chỉ phát triển
mạnh và phát sinh độc tố trong môi trường nước với nồng độ muối
tối ưu là 0,1% đến 4% (cỡ môi trường nước biển hay nước lợ), và
ngay cả khi nồng độ muối trong nước vượt qua ngưỡng 3% th́ vi
khuẩn không tăng trưởng được. Nhưng mắm tôm có nồng độ muối
thường khoảng 15% đến 30% (tùy pha loăng hay đặc). Với nồng độ
muối đó và trong môi trường thiếu không khí th́ vi khuẩn tả
không thể tồn tại được.
Thật ra, trước khi khoa học chứng minh điều này, người dân nước
ta ai cũng biết với nồng độ muối cao trong mắm tôm th́ khó có vi
khuẩn nào tồn tại được. Do đó, không ai ngạc nhiên khi thấy tất
cả các mẫu mắm tôm trên cả nước được đem đi xét nghiệm đều có
kết quả âm tính với vi khuẩn tả. Tính đến nay đă có 138 mẫu mắm
tôm được xét nghiệm (50 ở Hà Nội, 24 ở Thành phố Hồ Chí Minh, 32
mẫu ở Thanh Hóa, 35 mẫu ở Hải Pḥng, Hải Dương, và Nghệ An) và
tất cả đều không hàm chứa vi khuẩn tả.
Lí do 2: Mắm
tôm không thể là yếu tố gây bộc phát bệnh
Theo ông
Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ: “Gần như đồng loạt tất
cả các quận huyện của Hà Nội đều có dịch. Trong khi đó, các ổ
dịch lại không liên quan đến nhau. Các bệnh nhân không sống cùng
nhau, không ăn cùng nhau…Tuần đầu tiên phát dịch có 33 ổ dịch
th́ 33 bệnh nhân ăn ở những chỗ khác nhau, sống ở nhiều nơi khác
nhau.” Đây là một phát biểu quan trọng mang tính dịch tễ
học: nguồn lây truyền bệnh phải là một yếu tố có khả năng phát
tán đi cùng một lúc tại một thời điểm ở nhiều vùng khác nhau.
Yếu tố đó không thể là mắm tôm, v́ nếu nguồn lây nhiễm là mắm
tôm th́ nó phải khu trú tại một vùng nào đó, chứ không thể tất
cả mắm tôm đều có chứa vi khuẩn. Yếu tố đó rất có thể là nguồn
nước bị ô nhiễm hay do ruồi bọ.
Chúng ta có thể lật ngược vấn đề: nếu nguồn xuất phát vi khuẩn
tả là từ mắm tôm và có thể gây bệnh th́ tỉ lệ người ăn mắm tôm
bị bệnh ắt phải cao. Nhưng số liệu thực tế không phù hợp với
giả thuyết này. Giả dụ trong cộng đồng có 20% người dân tuổi
15-59 ăn mắm tôm (chúng ta không biết con số này, nhưng có thể
lấy một con số cao như 20% làm ví dụ). Các quan chức y tế cho
biết [tính đến nay] có 159 người trong số bệnh nhân tả có ăn mắm
tôm. Với con số này, có thể ước tính rằng tỉ lệ mắc bệnh ở
những người ăn mắm tôm là 6 trên 100.000 người. Do đó, không
thể nói rằng quá tŕnh bộc phát bệnh là do mắm tôm gây ra.
Lí do 3: Mắm tôm không phải là nguyên nhân gây bệnh
Truy t́m các bằng chứng để “kết tội” mắm tôm, tôi chỉ thấy các
quan chức y tế dựa vào thực tế là 90% (có khi con số được báo
cáo là 80%) bệnh nhân có “tiền sử” ăn mắm tôm và từ đó cho rằng
mắm tôm là một “nghi phạm” số 1 làm bộc phát bệnh tả. Nhưng
bằng chứng này không thuyết phục và không mang tính khoa học.
Không thuyết phục là v́ chúng ta chưa biết trong số những người
không mắc bệnh có bao nhiêu người cũng từng ăn mắm tôm.
Nếu tỉ lệ ăn mắm tôm giữa hai nhóm tương đương nhau th́ không
thể nói mắm tôm là nguồn gây bệnh được. Không khoa học là v́
con số 90% (hay 80%) đó chưa qua kiểm định để biết mối liên hệ
giữa ăn mắm tôm và nguy cơ mắc bệnh là bao nhiêu. Cụm từ “ăn
mắm tôm” không thể nói chung chung được, mà phải biết ăn bao
nhiêu, ăn mấy lần trước khi mắc bệnh, ăn với thức ăn ǵ, v.v…
Nếu dựa vào logic “90% người mắc bệnh có tiền sử ăn mắm tôm, suy
ra mắm tôm là nguyên nhân” th́ chúng ta cũng có thể nói bởi v́
100% người mắc bệnh từng ăn cơm hay bún; suy ra, cơm và bún là
nguyên nhân gây bệnh! Logic y học và dịch tễ học không cho phép
chúng ta phát biểu như thế.
Tôi đă
giải thích trước đây rằng cần phải phân biệt yếu tố nguy cơ
và nguyên nhân. Mắm tôm có thể là một yếu tố nguy cơ như bao
nhiêu yếu tố nguy cơ khác (nguồn nước, thiếu vệ sinh cá nhân, vệ
sinh ăn uống, v.v…), chứ không thể nào là nguyên nhân gây bệnh.
Nguyên nhân bệnh tả là nhiễm vi khuẩn V. cholerae.
Nguyên nhân trực tiếp gây bệnh, nhưng yếu tố nguy cơ chỉ làm
tăng nguy cơ mắc bệnh. Hai khái niệm này (yếu tố nguy cơ và
nguyên nhân) khác nhau, và hiểu sai có thể dẫn đến nhiều sai lầm
nghiêm trọng. Ấy thế mà giới
báo chí vẫn liên tục cho rằng mắm tôm và thực phẩm là
“nguyên nhân” gây bệnh!
Lí do 4: Giả
thuyết mắm tôm không có cơ sở khoa học
Đứng trên phương diện dịch tễ học, có thể xem việc “kết tội” mắm
tôm của các quan chức là một giả thuyết khoa học: giả thuyết
“mắm tôm – vi khuẩn tả”, tạm viết tắt là giả thuyết H1. Giả
thuyết đảo đặt ra là mắm tôm không nhiễm vi khuẩn tả, hay giả
thuyết H0.
Qua phát biểu của các quan chức y tế (“mắm tôm chắc chắn là
nguồn lây bệnh tả trong đợt dịch tả này” – thứ trưởng Trịnh
Quân Huấn), có thể nói họ tin rằng xác suất mà mắm tôm bị nhiễm
vi khuẩn tả phải là 95% trở lên. (Nếu không th́ họ không sử
dụng từ “chắc chắn”). Viết tắt tỉ lệ nhiễm khuẩn này là
p1. Vậy theo
giả thuyết H1 th́ p1
= 0,95. C̣n giả thuyết H0 th́
p0 = 0.
Bằng chứng thực tế ở đây là trong số 138 mẫu mắm tôm đă được xét
nghiệm, và không có một mẫu nào có kết quả dương tính. Câu hỏi
đặt ra là bằng chứng thực tế trong thời gian qua nghiêng về giả
thuyết nào? Một cách định lượng hai giả thuyết qua bằng chứng
là sử dụng hàm số khả dĩ (likelihood
function như tôi đă giải thích trước đây). Chỉ cần một chút
tính toán chúng ta sẽ thấy bằng chứng thực tế nghiêng về giả
thuyết mắm tôm không nhiễm khuẩn cao gấp 9 tỉ lần so với giả
thuyết của các quan chức y tế (Xem chú thích [1] dưới đây). Nói
cách khác, giả thuyết mắm tôm hàm chứa vi khuẩn tả của các quan
chức y tế không phù hợp với bằng chứng thực tế.
Lí do 5: bằng
chứng cá nhân
Nếu mắm tôm thực sự là “thủ phạm” hay “nguyên nhân” gây bệnh tả
như Bộ Y tế khẳng định (họ dùng từ “khẳng định”) th́ tất cả
những người ăn mắm tôm phải mắc bệnh. Theo phương pháp phản
nghiệm, nếu chỉ một người ăn mắm tôm mà không mắc bệnh th́ giả
thuyết đó phải bị bác bỏ. (Cũng giống như câu giả thuyết “Tất
cả quạ đều màu đen” có thể bị bác bỏ nếu chúng ta quan sát được
một con quạ màu đỏ). Báo
Sài G̣n Tiếp Thị hôm nay cung cấp cho chúng ta nhân chứng
đó. Xin trích nguyên văn bài tường thuật:
“Số phận mắm tôm lẽ ra đă phải được nh́n nhận một cách b́nh
tĩnh ngay khi ca bệnh tả đầu tiên được phát hiện, ông Nguyễn
Xuân Mịch, 73 tuổi. Ông Mịch từ Thanh Tŕ, Hà Nội, xuống Ninh
B́nh ăn cỗ. Mâm cỗ có thịt chó, mắm tôm, nhưng ông Mịch khai
rằng ông là người duy nhất trong bàn ăn hôm đó không ăn mắm tôm.
Cho tới nay, những người ngồi cùng mâm và có ăn mắm tôm th́
không ai mắc dịch, trừ một người không ăn, ông Mịch. Vậy mà “mắm
tôm” vẫn được suy đoán là “nghi can” số một trong ca bệnh tả đầu
tiên của đợt dịch này.”
Chính sách y
tế công cộng cần dựa vào bằng chứng khoa học
Qua
các lí do vừa tŕnh bày trên, có thể kết luận rằng mắm tôm không
phải là yếu tố gây bệnh tả, và càng không phải là nguyên nhân
của bệnh tả. Mắm tôm có thể là một trong những yếu tố nguy cơ,
nhưng tính toán của chúng tôi cho thấy ảnh hưởng của mắm tôm đến
bệnh tả (nếu có) cũng không đáng kể để tập trung nhân lực, tiền
bạc và phương tiện vào việc cấm đoán và khống chế một yếu tố như
thế.
Chiến lược pḥng chống bệnh tả của các quan chức y tế bằng cách
tập trung vào mắm tôm tôi e rằng quá thiếu cơ sở khoa học. Thật
vậy, điều đáng quan tâm nhất là quyết định cấm mắm tôm của Bộ Y
tế dựa vào một bằng chứng chẳng những phi khoa học mà c̣n rất
yếu. Thật là khó tin khi đọc những
phát biểu như “Chúng tôi đang nghiên cứu liệu mắm tôm có
vai tṛ lây truyền thực sự hay không. Qua số liệu điều tra của
NIHE, chúng tôi nhận thấy thời điểm đầu của dịch, 80 – 90% bệnh
nhân có tiền sử ăn mắm tôm, thịt chó, rau sống. V́ vậy xác định
có thể đây là thủ phạm.” Một suy luận như thế hoàn toàn
không theo một chuẩn mực hay nguyên lí dịch tễ học nào mà bất cứ
một sinh viên y khoa nào cũng từng biết qua.
Cần
nói thêm rằng chính sách y tế công cộng thiếu cơ sở khoa học có
thể gây tác hại cho nhiều người. Trong lịch sử y học đă có khá
nhiều thảm họa xảy ra chỉ v́ một số thuật điều trị không dựa vào
bằng chứng khoa học mà dựa vào niềm tin và kinh nghiệm cá nhân.
Chúng ta chưa biết chính sách cấm mấm tôm đă hay đang gây tác
hại như thế nào đến kinh tế, nhưng hiện nay đă gây khó khăn cho
ngành nghề sản xuất mắm tôm như
báo chí phản ảnh trong thời gian gần đây. Ngay cả chính
quyền địa phương cũng cảm thấy lúng túng để thi hành quyết định
của của Bộ Y tế, như
phản ảnh của các cơ quan chức năng ở Thanh Hoá:
“Hiện, các cơ quan chức năng ở
Thanh Hóa đang lúng túng trong việc thực hiện quyết định xử lư
mắm tôm của Bộ Y tế. Trung tâm đang chỉ đạo cho các địa phương
tiến hành khoanh vùng, ngăn chặn mọi lưu thông đối với mắm tôm,
nem chua, gỏi cá... chứ không dám vội vàng tiêu hủy theo quyết
định của Bộ Y tế được”.
Để tránh thêm thiệt hại cho người dân, Bộ Y tế nên rút lại quyết
định ngăn cấm sản xuất và phân phối mắm tôm. Cần tập trung lực
lượng y tế vào việc pḥng chống dịch bệnh ở miền Trung, hơn là
vào việc truy t́m vi khuẩn tả trong mắm tôm. Có tin cho biết
các quan chức muốn t́m hiểu xem vi khuẩn tả có thể sống bao lâu
trong mắm tôm. Nhưng dựa vào những ǵ y văn nói, th́ việc t́m
hiểu đó vô nghĩa; và trong t́nh huống pḥng bệnh cấp bách như
hiện nay việc truy t́m đó hoàn toàn … vô duyên. Giả dụ như t́m
được câu trả lời th́ câu trả lời đó có giúp ǵ cho việc pḥng
chống bệnh?
Như
có dịp phát biểu trước đây, mục tiêu số 1 của ngành y tế và cũng
là lí tưởng của y khoa là cứu người, pḥng bệnh và nâng cao chất
lượng cuộc sống của người dân. Chính sách y tế công cộng cần
phải dựa vào bằng chứng khoa học để đem lại lợi ích cho cộng
đồng. Bằng chứng khoa học từ y văn cho thấy nguồn nước và vệ
sinh môi trường là các nhóm yếu tố nguy cơ quan trọng nhất liên
quan đến bệnh tả; do đó, công tác pḥng chống bệnh tả nên chú
trọng vào hai yếu tố này thay v́ tập trung vào một loại thực
phẩm như mắm tôm mà chúng tôi đă tŕnh bày lí do cho thấy rất có
thể không có liên quan ǵ đến bệnh tả.
Chú thích:
[1] Cách tính
hàm số khả dĩ: Hàm số khả dĩ cho giả thuyết H1 là:

và hàm số khả dĩ
cho giả thuyết H0 là:
.
Do đó, tỉ số hàm khả dĩ cho H0 và H1 là:
1/(5,29)-97 = (1,89)96 (tức là 1,89 lũy
thừa 96)!
|