B́nh luận:
Béo ph́ và
gien FTO
Nguyễn Văn Tuấn
Ngày 12/4/2007 vừa qua, tạp chí Science (một tạp chí khoa học
uy tín và danh tiếng vào hàng nhất nh́ trên thế giới) công bố
một công tŕnh nghiên cứu từ Anh, trong đó các khá nghiên cứu
phát hiện gien FTO có ảnh hưởng đến nguy cơ bệnh đái tháo đường
và béo ph́ [1]. Đây là một khám phá quan trọng trong công cuộc
truy t́m gien có liên quan đến hai “căn bệnh thời đại” này.
Giới truyền thông thế giới đă tốn nhiều giấy mực và thời lượng
thảo luận về tầm quan trọng của khám phá lịch sử này. Một số
người, kể cả chuyên gia, cho rằng trong tương lai, họ có thể xét
nghiệm gien FTO để tiên lượng ai sẽ mắc bệnh béo ph́ và đái tháo
đường. Tuy nhiên, xem xét các kết quả của nghiên cứu,
tôi cho rằng dù khám phá này quan trọng, nhưng vai tṛ của gien
FTO chưa thể ứng dụng trong lâm sàng và càng không có chuyện xét
nghiệm gien để tiên lượng ai mắc hai bệnh đó.
Bệnh béo ph́, đái tháo đường và di truyền
Béo ph́ [2] là một trong những vấn nạn y tế công cộng trên thế
giới, v́ qui mô và tầm quan trọng của bệnh có thể đe dọa đến sức
khỏe của dân số toàn cầu, nhất là tại các nước đă phát triển.
Theo một nghiên cứu mới nhất, chỉ tính riêng ở Mĩ, ở những người
tuổi 20 trở lên, có 35% được xem là “quá cân” (over-weight) và
30% là béo ph́ (obesity) [3]. Ngay cả ở Việt Nam, số liệu từ
một vài nghiên cứu gần đây tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỉ
lệ quá cân dao động từ 19 đến 25%, và tỉ lệ béo ph́ dao động từ
35% đến 40% [4] -- đó là một tỉ lệ khá cao, tương đương với các
nước Âu Mĩ.
Người béo ph́ có nguy cơ mắc bệnh cao huyết áp, tăng cholesterol
trong máu, bệnh tim mạch, đái tháo đường, và tăng nguy cơ tử
vong. Tỉ lệ người mắc bệnh đái tháo đường trên thế giới dự kiện
sẽ tăng từ 2.8% trong năm 2000 lên 4.4% trong năm 2030 [5]. Ở
nước ta, một nghiên cứu do các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Y
Dược Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỉ lệ bệnh đái tháo đường ở
cư dân Thành phố (tuổi 30 trở lên) là 13% ở nam và 10% ở nữ. Tỉ
lệ này thậm chí c̣n cao hơn tỉ lệ ở các nước Tây phương!
Bệnh đái tháo đường và béo ph́ có nhiều nguyên nhân, kể cả môi
trường sống và di truyền. Nhiều nghiên cứu trong ṿng ba thập
niên qua cho thấy các yếu tố di truyền (mà cụ thể là gien) có
tác động khá lớn đến nguy cơ mắc bệnh béo ph́. Theo một phân
tích tổng hợp gần đây, khoảng 30-70% trường hợp béo ph́ có thể
do gien gây ra [6-7]. Ngoài ra, bệnh đái tháo đường cũng một
phần mang yếu tố di truyền. Những cặp sinh đôi cùng hợp tử
(monozygotic twins) có hệ số tương đồng (concordance
coefficient) khoảng 50-92%, trong khi đó, ở những cặp sinh đôi
không cùng hợp tử (dizygotic twins), hệ số này chỉ 37% [8]. Một
ước tính gần đây cho thấy khoảng 26% các trường hợp đái tháo
đường ở người lớn là do gien gây ra [9].
Do đó, kể từ khi công nghệ sinh học phân tử ra đời, các nhóm
nghiên cứu trên thế giới đă dành nhiều tài lực để truy t́m gien
có liên quan đến bệnh béo ph́, với hi vọng t́m ra gien có thể
dẫn đến việc tiên lượng sớm những người có nguy cơ mắc bệnh cao
và pḥng ngừa sớm để giảm vấn nạn y tế mang tính toàn cầu này.
Câu hỏi cơ bản là gien nào? Trong số 30 đến 35 ngàn gien mà cơ
thể chúng ta mang, gien nào thật sự có ảnh hưởng đến bệnh béo
ph́, là một câu hỏi làm đau đầu không biết bao nhiêu bộ óc tinh
anh trên thế giới. Các phương pháp truy t́m gien béo ph́ (hay
gien cho bất cứ bệnh phức tạp nào) cũng không khác mấy với
phương pháp nghiệp vụ của … công an. Cũng như giới công an truy
t́m tội phạm thường tập trung vào những vùng t́nh nghi có tội
phạm bằng cách căn cứ vào những đặc điểm của các vùng này, một
phương pháp truy t́m gien béo ph́ là tập trung vào những bệnh
nhân hay gia đ́nh bệnh nhân với bệnh đái tháo đường hay béo ph́,
và ước tính tỉ lệ di truyền qua các thế hệ (thuật ngữ khoa học
là linkage analysis). Một phương pháp khác tốn kém hơn, thay v́
tập trung vào những mảng DNA t́nh nghi có liên quan đến béo ph́,
các nhà nghiên cứu có thể rà soát toàn bộ 35 ngàn gien trong cơ
thể và xem gien nào có liên quan đến bệnh béo ph́ (thuật ngữ
khoa học là genome-wide association analysis) [10].
Nhưng mỗi gien có thể có hàng ngàn marker (tức những mảng DNA
nhỏ, thuật ngữ khoa học hiện hành là SNP – single nucleotide
polymorphosm), và cơ thể con người có thể có đến hàng tỉ marker
như thế. Do đó, việc ra soát hàng tỉ marker, với công nghệ hiện
hành, chưa thể thực hiện được. Thay v́ ra soát hàng tỉ marker,
các nhà nghiên cứu có thế ứng dụng khái niệm chọn mẫu trong
thống kê học để truy t́m gien, tức là ở mỗi gien, chọn ra khoảng
vài trăm SNP, và phân tích mối tương quan giữa các SNP này với
bệnh béo ph́, chú ư những vùng SNP có liên quan và từ đó rà soát
xem các SNP chung quanh vùng này để phát hiện gien “thủ phạm”.
Đây chính là phương pháp mà các nhà nghiên cứu Anh sử dụng để
phát hiện gien FTO.
Gien FTO, bệnh đái tháo đường và béo ph́
Trong một nghiên cứu bệnh chứng (case-control study)
gồm 1924 bệnh nhân đái tháo đường (loại II) và 2938 người trong
nhóm đối chứng (không mắc bệnh), các nhà nghiên cứu rà soát và
phân tích 490032 SNP cho mỗi đối tượng (tức chi phí chỉ cho phân
tích gien có thể lên đến 240 triệu đô-la, nếu mỗi SNP tốn 10
cent!). Trong số 490032 SNP, các nhà nghiên cứu phát hiện một
SNP có kí hiệu rs9939609 trong gien FTO (nhiễm sắc thể 16) có
liên quan đến nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường, với tỉ số nguy cơ
(odds ratio) là 1.27, khoảng tin cậy 95%: 1.16 – 1.37.
Sau khám phá này, để khẳng định, các nhà nghiên cứu
phân tích tương quan giữa SNP rs9939609 trong một nghiên cứu
hoàn toàn độc lập khác với 3757 bệnh nhân đái tháo đường và 5346
người trong nhóm đối chứng. Tỉ số nguy cơ trong nghiên cứu này
được ghi nhận là 1.15 (khoảng tin cậy 95%: 1.09 – 1.23).
Như nói trên, v́ nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường có
liên quan với tỉ trọng cơ thể (BMI), cho nên các nhà nghiên cứu
điều chỉnh mối tương quan giữa SNP rs9939609 và nguy cơ đái tháo
đường cho BMI. Sau khi điều chỉnh cho BMI, mối tương quan giữa
SNP rs9939609 và bệnh đái tháo đường không c̣n ư nghĩa thống
kê! Điều này cho thấy mối tương quan giữa SNP rs9939609và bệnh
đái tháo đường phải qua trung gian BMI. Do đó, trong một loạt
12 nghiên cứu kế tiếp các nhà nghiên cứu phân tích mối tương
quan giữa SNP rs9939609 và BMI. Kết quả phân tích, theo báo cáo
trên Science, được diễn dịch (tóm lược) như sau:
· Mỗi biến thể gien “A” (SNP rs9939609 có 2 biến thể A và
T, do đó có ba thể gien: AA, AT và TT) tương quan với ~0.36 kg/m2
(khoảng tin cậy 95%: 0.34 – 0.46) ;
· Những người mang thể gien AA có tỉ lệ mắc bệnh béo ph́
cao gấp 1.67 lần (khoảng tin cậy 95%: 1.47 – 1.89) so với những
người mang thể gien TT;
· Các biến thể gien của SNP rs9939609 giải thích ~1% các
khác biệt về BMI giữa các cá nhân trong dân số;
· Khoảng 20% các trường hợp béo ph́ có thể giải thích
bằng những khác biệt về các biến thể gien của SNP rs9939609;
· Trên hệ thống truyền thông, các nhà nghiên cứu c̣n
tuyên bố rằng trọng lượng của những người với thể gien AA cao
hơn những người với thể gien TT khoảng 3 kg.
Sự thật ra sao ?
Có thể nói ngay rằng: các kết quả trên đây, không
c̣n nghi ngờ ǵ nữa, cho thấy gien FTO có ảnh hưởng đến béo ph́
ở người Âu châu. Nhưng vấn đề là mức độ ảnh hưởng bao nhiêu, có
phải cao như các nhà nghiên cứu báo cáo trong bài báo và tuyên
bố trên báo chí? Một phần v́ tính ṭ ṃ chuyên môn (nhóm nghiên
cứu của tôi cũng có mục tiêu truy t́m gien loăng xương), và cũng
một phần thắc mắc về các số liệu, nên tôi đă thử làm một phân
tích trên những số liệu mà các nhà nghiên cứu công bố trong tạp
chí Science. (Do chính sách công bố mới, tạp chí Science yêu
cầu các nhà nghiên cứu phải công bố các số liệu thô trên mạng để
các nhà khoa học khác có thể xem xét thêm). Sau khi phân tích
các số liệu này, tôi có lí do để cho rằngc các nhà nghiên cứu
Anh đă ước tính ảnh hưởng của gien FTO cao hơn thực tế.
Gien FTO và bệnh đái tháo đường. Dựa vào số
liệu của nghiên cứu WTCCC và UKT2DG, phân bố số đối tượng theo
thể gien và nhóm có thể tóm lược trong Bảng 1 dưới
đây. Qua bảng này, có thể ước tính odds ratio bằng 1.15 (và
khoảng tin cậy 95%: 1.00 – 1.34). Tuy nhiên, các tác giả báo
cáo rằng odds ratio của mối liên hệ này là 1.27, với khoảng tin
cậy 95% là 1.16 – 1.37! Trong các nghiên cứu lâm sàng và dịch
tể học, một odds ratio thấp hơn 2 được xem là “không đáng kể”,
và không thể ứng dụng trong thực hành lâm sàng.
Bảng 1. SNP rs9939609 và bệnh đái tháo đường
|
Thể gien |
Nhóm đái tháo đường (cases) |
Nhóm đối chứng (controls) |
|
AA |
374 |
515 |
|
AT |
984 |
1480 |
|
TT |
555 |
966 |
|
Tổng số |
1913 |
2961 |
Odds ratio giữa nhóm AA và AT+TT: [374 × (1480+966)] / [515 ×
(984+555)] = 1.15
Gien FTO và tỉ trọng cơ thể. Dựa vào số liệu trong Bảng
1 của bài báo [1], có thể sử dụng phương pháp hồi qui tuyến tính
để ước tính độ tăng BMI cho mỗi biến thể của SNP rs9939609, và
kết quả có thể tóm lược trong Bảng 2 dưới đây. Phân tích tổng
hợp các nghiên cứu cho thấy, mỗi biến thể của SNP rs9939609 tăng
0.42 kg/m2 (khoảng tin cậy: 0.35 đến 0.49 kg/m2).
Các tác giả báo cáo hệ số này là 0.36 kg/m2 (khoảng
tin cậy 95%: 0.34 – 0.46). Ngoài ra, các biến thể của SNP
rs9939609 chỉ giải thích khoảng 0.4% (chứ không phải ~1% như các
tác giả báo cáo) các khác biệt về BMI giữa các cá nhân trong
quần thể nghiên cứu. Có thể nói rằng dựa vào hệ số xác định
bội, ảnh hưởng của gien FTO rất khiêm tốn, nếu không muốn nói là
không đáng kể.
Bảng 2. Ước số và sai số chuẩn về độ
tăng tỉ trọng cơ thể (BMI) cho mỗi biến thể của SNP rs9939609
cho từng nghiên cứu
|
Nghiên cứu |
Ước số gradienta |
Sai số chuẩn (standard error) |
Hệ số xác định bội (R2)b |
|
WTCCC |
0.859 |
0.189 |
0.0106 |
|
UKT2D |
1.153 |
0.329 |
0.0198 |
|
UKT2DG |
0.643 |
0.153 |
0.0059 |
|
EFSOCH |
0.518 |
0.138 |
0.0080 |
|
UKT2DG |
0.342 |
0.104 |
0.0030 |
|
ALSPAC |
0.401 |
0.063 |
0.0060 |
|
NFBC66 |
0.341 |
0.085 |
0.0040 |
|
Oxford |
0.353 |
0.208 |
0.0040 |
|
Caephilly |
0.316 |
0.145 |
0.0030 |
|
EPIC |
0.361 |
0.111 |
0.0040 |
|
BWHHS |
0.439 |
0.118 |
0.0040 |
|
InCHIANTI |
0.374 |
0.193 |
0.0040 |
|
Tất cả các
nghiên cứu |
0.42
(Khoảng tin cậy 95%: 0.35,
0.49) |
0.034 |
Trung vị = 0.004 |
a: Mô h́nh phân tích hồi qui
tuyến tính là BMI = a + b×alleles; trong đó a
là BMI trung b́nh cho những người không có biến thể gien A, b
là ước số gradient cho mỗi biến thể. Chẳng hạn như trong
nghiên cứu WTCCC, mỗi biến thể A của SNP rs9939609 tăng BMI
0.859 kg/m2.
b: Hệ số xác định bội
(coefficient of determination) là phần trăm dao động BMI có thể
giải thích bằng các biến thể của SNP rs9939609. Chẳng hạn như
trong nghiên cứu WTCCC, các biến thể của SNP rs9939609 giải
thích 1.06% những khác biệt về BMI giữa các cá nhân.
Gien FTO và béo ph́. Xin nhắc lại, “béo ph́” ở đây được
định nghĩa bằng tiêu chuẩn BMI (những cá nhân với BMI ≥ 30 kg/m2).
Dựa vào các số liệu bổ sung báo cáo của bài báo, tôi tŕnh bảy
và phân tích trong Bảng 3 dưới đây. Tính chung (cho 12
nghiên cứu), trong số 4792 cá nhân với biến thể gien AA, có 31%
(hay 1497 cá nhân) được xem là béo ph́; trong số 10739 cá nhân
với biến thể gien TT, có 22% được xem là béo ph́. Do đó, nguy
cơ béo ph́ ở các cá nhân với biến thể gien so tăng 1.42 lần so
với các nhân với biến thể gien TT (0.31/0.22 = 1.43). Nhưng các
tác giả báo cáo rằng tỉ số nguy cơ liên quan AA là 1.67 lần
(khoảng tin cậy 95%: 1.47 – 1.89).
Khác biệt giữa ước tính của các tác giả và của tôi xuất phát từ
hai chỉ số thống kê khác nhau. Các tác giả sử dụng odds ratio
(OR), c̣n tôi sử dụng prevalence ratio (PR), để đo lường mối
liên hệ giữa SNP rs9939609 và béo ph́. Chỉ số nào đúng? Đă từ
lâu, giới dịch tễ học biết rằng đối với các bệnh có tỉ lệ hiện
hành cao (như tren 10%) trong cộng đồng, OR có khuynh hướng ước
tính độ ảnh hưởng quá cao, và trong thực tế vấn đề này đă gây ra
nhiều hiểu lầm trên tập san New England Journal of Medicine
vài năm trước đây [11] với bao nhiêu diễn dịch sai
lầm đến “cười ra nước mắt”! Đối với các bệnh như với tần số cao
trên 10%, PR là chỉ số thích hợp [12]. Do đó, không ngạc nhiên
khi ước số của các tác giả cao hơn những ước số của tôi. Chẳng
hạn như trong Bảng 3 dưới đây, đối với nghiên cứu
InCHIANTI, OR béo ph́ liên quan đến biến thể gien AA (so với AT
và TT) là 1.45 [tính từ (54×474) / (158×112)], trong khi đó PR
chỉ 1.30 [tính từ (54/166) / (158/632)]. Đây là một sai lầm
“ngây thơ” của các tác giả, v́ có lẽ họ không ư thức được ư
nghĩa của OR và PR.
Bảng 3. Mối liên hệ giữa SNP rs9939609
(trong gien FTO) và béo ph́:
|
Nghiên cứu |
Biến thể gien TT |
Biến thể gien AT |
Biến thể gien AA |
Tỉ số nguy cơ
giữa |
|
N |
Béo ph́ |
Tỉ số béo ph́ |
N |
Béo ph́ |
Tỉ số béo ph́ |
N |
Béo ph́ |
Tỉ số béo ph́ |
AA vs TT |
AA vs AT |
|
WTCCC
|
555 |
257 |
0.46 |
984 |
516 |
0.52 |
374 |
238 |
0.64 |
1.37 |
1.21 |
|
UKT2D
|
194 |
110 |
0.57 |
299 |
167 |
0.56 |
116 |
80 |
0.69 |
1.22 |
1.23 |
|
UKT2DG
|
966 |
524 |
0.54 |
1480 |
818 |
0.55 |
515 |
321 |
0.62 |
1.15 |
1.13 |
|
EFSOCH
|
635 |
67 |
0.11 |
867 |
138 |
0.16 |
244 |
37 |
0.15 |
1.44 |
0.95 |
|
UKT2DG
|
1254 |
214 |
0.17 |
1644 |
309 |
0.19 |
530 |
136 |
0.26 |
1.50 |
1.37 |
|
ALSPAC
|
2298 |
107 |
0.05 |
3083 |
157 |
0.05 |
995 |
89 |
0.09 |
1.92 |
1.76 |
|
NFBC66
|
1678 |
132 |
0.08 |
2068 |
193 |
0.09 |
689 |
90 |
0.13 |
1.66 |
1.40 |
|
Oxford
|
287 |
45 |
0.16 |
356 |
56 |
0.16 |
122 |
25 |
0.20 |
1.31 |
1.30 |
|
Caephilly |
515 |
67 |
0.13 |
624 |
101 |
0.16 |
189 |
32 |
0.17 |
1.30 |
1.05 |
|
EPIC
|
882 |
485 |
0.55 |
1189 |
847 |
0.71 |
354 |
256 |
0.72 |
1.32 |
1.02 |
|
BWHHS
|
1206 |
274 |
0.23 |
1540 |
427 |
0.28 |
498 |
139 |
0.28 |
1.23 |
1.01 |
|
InCHIANTI |
269 |
66 |
0.25 |
416 |
92 |
0.22 |
166 |
54 |
0.33 |
1.33 |
1.47 |
|
Tất cả các nghiên cứu |
10739 |
| |