Bảo hiểm y tế cộng đồng
Nguyễn Văn Tuấn
Bài đă đăng trên
Thời báo Kinh tế Sài G̣n
(số đầu tháng 5/2007)
Giới quan sát quốc tế nhận xét
không sai rằng so với các nước với nền kinh tế tương đương và
cùng thu nhập, Việt Nam đă đạt được những thành quả y tế đáng
khâm phục. Tuy nhiên, hệ thống y tế nước ta c̣n tồn tại rất
nhiều vấn đề cần phải giải quyết. Một trong những vấn đề đó là
bảo hiểm y tế cho dân số. Bài viết này đề nghị một giải pháp
bảo hiểm y tế cộng đồng.
Tính từ thời điểm Đổi mới
cho đến nay, nước ta đă đạt được nhiều thành tựu y tế đáng kể.
Tỉ lệ tử vong ở trẻ em và trẻ sơ sinh giảm thấp hơn cả những
nước trong vùng. Tuổi thọ trung b́nh hiện nay tương đương hay
cao hơn các nước trong vùng, và tiếp tục gia tăng. Nhưng như là
một hệ quả của phát triển kinh tế, khoảng cách giữa người giàu
và nghèo càng ngày càng gia tăng, nhất là trong lĩnh vực sức
khỏe. Năm 1996, 34 triệu người không có khả năng mua bảo hiểm y
tế hay thanh toán bệnh viện phí [1]. Tỉ lệ tử vong ở trẻ em
thuộc gia đ́nh nghèo vào năm 1992 là 3,44% (tính trên số trẻ em
mới sinh), và đến năm 1997, con số này vẫn không giảm (3,36%);
tuy nhiên, trong cùng thời gian, tỉ lệ tử vong ở trẻ em thuộc
gia đ́nh được xem là “không nghèo” giảm từ 3,94% xuống c̣n 2,45%
[2]. Năm 1992, trong số 20% người nghèo nhất, 35% được xem là
thiếu dinh dưỡng và 73% trẻ em nằm trong nhóm “thiếu cân”; đến
năm 1997, cũng trong số 20% người nghèo nhất, tỉ lệ suy dinh
dưỡng thậm chí tăng lên đến 40%, và tỉ lệ trẻ em thiếu cân giảm
c̣n 69% [3]. Nói tóm lại, tính trung b́nh th́ t́nh h́nh y tế
nước ta có cải tiến tốt, song khoảng cách giữa người giàu và
nghèo dẫn đến t́nh trạng thiếu công bằng trong chăm sóc sức khỏe
cho người dân là một vấn đề nghiêm trọng.
Một xu hướng chung trên thế giới
ngày nay là các nước giàu có chi tiêu cho y tế nhiều hơn các
nước nghèo, dù sức khỏe của họ nói chung tốt hơn so với các nước
nghèo. Ở nước ta hiện nay, tổng số chi tiêu cho y tế chiếm
khoảng 5,1% tổng số GDP [4]. Tỉ lệ này c̣n khá khiêm tốn, nếu
so với 5,5% ở Trung Quốc, 6% ở Hàn quốc, 8% ở Nhật, và 9,2% ở
Úc. Thật ra, đó chỉ là con số trung b́nh, v́ theo một nghiên
cứu chuyên sâu cho thấy ở các hộ nghèo nông thôn, chi tiêu cho y
tế chiếm khoảng 13% tổng thu nhập, so với các hộ “không nghèo”
chi phí này chỉ chiếm 3-5% ngân sách gia đ́nh [5].
Theo một nghiên cứu ở các nước đang phát
triển, kể cả Việt Nam, khoảng 1 phần 3 bệnh nhân đáng lẽ phải
được điều trị ở bệnh viện nhưng không có khả năng tài chính để
nhập viện. Thực tế ở c̣n cho thấy có không ít bệnh nhân phải …
trốn bệnh viện (dù trong t́nh trạng bệnh), v́ không có tiền để
thanh toán viện phí.
Phần lớn những người không có bảo
hiểm y tế phải dựa vào hệ thống “mua – trả” (tức mua dịch vụ y
tế và trả tiền tại chỗ cho từng trường hợp). Bệnh nhân đến khám
bác sĩ và trả tiền thuốc và dịch vụ khám bệnh. Theo một ước
tính, hệ thống “mua – trả”này chiếm đến 8% ngân sách gia đ́nh
của người dân hiện nay. Hệ thống này c̣n là nguồn thu nhập
chính của bác sĩ và những người cung cấp dịch vụ y tế công cộng.
Thật ra, chi phí cho dịch vụ y tế
không cao bằng so với chi phí cho thuốc men. Thật vậy, tính
trung b́nh, khoảng 70% ngân sách y tế gia đ́nh chi tiêu cho
thuốc men. Có thể nói rằng các cơ sở và nhân viên bán thuốc tư
là những nhà cung cấp dịch vụ cứu viện, chứ không phải
nhà cung cấp dịch vụ sức khỏe. Nhưng thực tế ở nước ta
cho thấy đây lại là những nhà cung cấp sức khỏe, bởi v́ bệnh
nhân nghèo không có khả năng trả những dịch vụ y tế đắt tiền. Ở
các nước đă phát triển, Nhà nước kiểm soát chặt chẽ hệ thống
cung cấp thuốc cho bệnh nhân, nhưng ở nước ta, phải nói rằng hệ
thống kiểm soát các cơ sở bán thuốc c̣n quá lỏng lẻo. Điều này
dẫn đến lạm phát giá thuốc đến nổi nhiều bệnh nhân chỉ chờ chết
v́ không có khả năng mua thuốc.
Giải pháp nào ?
Năm 1993, chính sách bảo hiểm y tế ra đời.
Theo đó tất cả các công nhân viên chức nhà nước bắt buộc phải
đóng bảo hiểm y tế. Tuy nhiên, trong dân số nói chung, số người
tự nguyện mua bảo hiểm c̣n khá thấp. Sau một năm chính sách bảo
hiểm y tế ra đời, chỉ 1% dân số mua bảo hiểm; đến năm 1997, con
số này là 5,5%; và con số dự kiến hiện nay là trên dưới 13%.
Nói cách khác, có ít nhất là 85% dân số không có bảo hiểm y tế
[6]. Điều này không ngạc nhiên, v́ thu nhập của phần lớn nông
dân vẫn c̣n thấp (trung b́nh mỗi ngày khoảng 25.000Đ đến
40.000Đ), do đó đối với họ, bảo hiểm y tế vẫn là một nhu cầu xa
xỉ [7].
Tăng đầu tư của Nhà nước để
nâng cao cơ sở vật chất y tế. Trong khi số người cao tuổi ở
nước ta tăng dần hàng năm, nhưng cơ sở vật chất cho y tế th́
không tăng. Hiện nay, số người trên 60 tuổi chiếm khoảng 6,7%
tổng dân số, và con số này dự kiến sẽ gia tăng nhanh trong ṿng
10 năm tới v́ tuổi thọ trung b́nh sẽ tăng từ 71 tuổi lên khoảng
75 tuổi. Hệ thống y tế phải phát triển theo nhu cầu gia tăng
dân số, nhưng rất tiếc là trong ṿng một thập niên qua, số bệnh
viện ở nước ta không tăng. Chẳng hạn như năm 1997, cả nước có
13.269 cơ sở y tế, nhưng đến năm 2005, con số này giảm xuống c̣n
13.243 [8].
Vẫn theo số liệu của Bộ Y tế, tổng số giường
bệnh trong năm 1997 là khoảng 198 ngàn, nhưng đến năm 2005, con
số này giảm xuống c̣n 197 ngàn. V́ gia tăng dân số, cho nên số
giường bệnh tính trên 10.000 dân số giảm từ 26,6 năm 1997 xuống
c̣n 23,7 năm 2005 [8]. Do đó, không ngạc nhiên khi thấy tất cả
các bệnh viện đều quá tải. Nhiều bệnh viện, hai, thậm chí ba,
bệnh nhân phải nằm cùng một giường! T́nh trạng này, đối với các
nước tiên tiến, là một khủng hoảng y tế, nhưng ở nước ta, th́
t́nh trạng này vẫn kéo dài hết năm này sang năm khác, mà có khi
c̣n trầm trọng hơn [9].
Kinh nghiệm ở Úc cho thấy hệ thống bảo hiểm y
tế tư nhân chỉ bổ sung, chứ không thể thay thế hệ thống chăm sóc
sức khỏe của Nhà nước. Nói cách khác, không c̣n con đường nào
khác: Nhà nước phải tăng ngân sách y tế. Hiện nay, đầu tư của
Nhà nước cho y tế c̣n quá khiêm tốn. Thật vậy, trong tổng số
chi tiêu cho y tế của cả nước, Nhà nước chỉ đóng góp khoảng 28%,
phần c̣n lại (72%) là từ dân hay tư nhân [4]. Ngoài ra, chi
tiêu của Nhà nước cho y tế chỉ chiếm 6,1% tổng số chi tiêu của
Nhà nước. Tỉ lệ này c̣n khiêm tốn so với các nước láng giềng
như Campuchea (16%), Lào (khoảng 7%), Mă Lai (6,5%), Trung Quốc
(10%, và Nhật (16.4%). Trong tương lai, có lẽ Nhà nước phải
dành ít nhất là 10% GDP cho y tế.
Bảo hiểm y tế cộng đồng
(BHYTCĐ). Như đề cập trên, trong khi người nghèo phải chi
đến 13% ngân sách gia đ́nh cho y tế, nhưng hơn 80% hộ nghèo
không có bảo hiểm y tế, và vấn đề đặt ra nhiều thách thức cho
viện chăm sóc sức khỏe cho người nghèo. Một giải pháp đă được
thực hiện thành công ở Trung Quốc [10] và một số nước có nền
kinh tế phát triển tương đương như nước ta là bảo hiểm y tế cộng
đồng. Mục tiêu của chương tŕnh BHYTCĐ là phổ quát hóa bảo hiểm
y tế ở b́n diện cho toàn quốc, bằng cách huy động và sử dụng
ngân quĩ từ địa phương và ngoài địa phương, kể cả ngoài hệ thống
y tế, dựa vào nguyên tắc tự nguyện. Triết lí của chương tŕnh
này là “lá lành đùm lá rách” (tương trợ xă hội): người giảu hỗ
trợ người nghèo, người có việc làm hỗ trợ người không có việc
làm, và người khỏe mạnh hỗ trợ người có bệnh.
Tùy theo quốc gia, chương tŕnh BHYTCĐ dựa
vào sự tự nguyện của dân trong các làng xă ở nông thôn, và
nguyên tắc hoạt động cũng giống như Quĩ tín dụng hiện khá thành
công ở nông thôn. Chương tŕnh BHYTCĐ có thể được quản lí bởi
chính quyền địa phương, công ti tư nhân (không lấy lời), hay Sở
Y tế tỉnh hay Sở thương binh xă hội. Một hội đồng quản trị được
bầu ra để quản lí quĩ BHYTCĐ, và công khai tất cả chi thu.
Theo chương tŕnh BHYTCĐ, mỗi làng xă cần vận
động khoảng 60% các hộ đóng góp vào quĩ y tế như là một h́nh
thức đầu tư cho sức khỏe. Quĩ có thể h́nh thành từ hai nguồn:
trích khoảng 1,5 đến 2% thu nhập, và Nhà nước đóng góp khoảng
0,2 đến 0,5% GDP. (Ở các nước Phi châu, ngay cả niên liễm 5%
đến 10% ngân sách gia đ́nh được xem là quá đắt và rất ít người
tham gia). Ở Thái Lan, sau 12 năm triển khai chương tŕnh, hiện
nay tỉ lệ dân số tham gia vào chương BHYTCĐ chỉ 35%, nhưng quĩ
có thể cung cấp bảo hiểm cho 100% dân số [11]. Quĩ BHYTCĐ chi
cho các dịch vụ như khám thai, tiêm vắc-xin cho trẻ em dưới 8
tuổi, dịch vụ cứu thương, và chi phí một số ngày nằm bệnh viện
mỗi năm cho hội viên. Qua thực tế triển khai tại các nước đang
phát triển ở Phi châu và Á châu, quĩ BHYTCĐ chẳng những tiết
kiệm ngân sách gia đ́nh mà c̣n cung cấp một “lá chắn” hữu hiệu
cho các hộ nghèo khi có vấn đề bệnh tật [12].
Thật ra, chương tŕnh BHYTCĐ cũng
từng được giới thiệu ở Việt Nam, nhưng việc triển khai chương
tŕnh vẫn c̣n gặp nhiều khó khăn. Do đó, cần phải nghiên cứu
thêm về tính khả thi và lợi ích của chương tŕnh đối với các hộ
nghèo và nông dân. Kinh nghiệm triển khai chương tŕnh BHYTCĐ ở
các nước đang phát triển cho thấy, một số yếu tố có ảnh hưởng
đến quyết định tham gia vào chương tŕnh: tiền niên liễm và uy
tín của chính quyền địa phương trong việc quản lí chương tŕnh.
Ngày nay, ở nước ta càng ngày càng có ít
người chết v́ những bệnh truyền nhiễm, nhưng phần đông chết v́
những bệnh liên quan đến ăn uống và thừa thải thực phẩm, và việc
điều trị thường quá khả năng tài chính của bệnh nhân. Những
bệnh thường hay gặp nhất ở nông thôn ngày nay là: cao huyết áp,
tiểu đường, khớp xương, tim mạch và tai biến mạch máu năo. Chi
phí cho điều trị, phần lớn là bệnh viện phí và thuốc, cho những
bệnh này đă và đang làm cho nhiều gia đ́nh điêu đứng.
Trong thời ḥa b́nh, giáo dục và y tế là hai
vấn đề xă hội được quan tâm nhiều nhất. Tại các nước Tây
phương, mỗi lần tranh cử là mỗi lần hai vấn đề này được đem ra
phân tích và bàn thảo nhiều nhất. Ở nước ta, trong thời gian
qua, vấn đề giáo dục đă được “mổ xẻ” nhiều, nhưng vấn đề y tế
tuy nhức nhối hơn và nghiêm trọng hơn th́ lại chưa nhận được
quan tâm đúng mức của quần chúng và chính quyền điạ phương.
Trong khi các bệnh viện tỉnh và huyện xuống cấp nghiêm trọng th́
chính quyền lại tập trung vào việc xây dựng các trụ sở ủy ban và
đảng ủy. Thay v́ tập trung đầu tư vào các cơ quan hành chính,
tôi đề nghị một mặt Nhà nước cần phải đầu tư nhiều hơn nữa cho y
tế, mặt khác, nông thôn Việt Nam cần có một quĩ bảo hiểm như
BHYTCĐ để đảm bảo mọi người dân hưởng các dịch vụ y tế và nâng
cao chất lượng cuộc sống cho mọi người dân.
Chú thích:
[1] Đỗ Nguyên
Phương. Health care in Vietnam in Doi Moi process. Ha Noi,
Health Publishing House.
[2] Nguyen Minh
Thang và B. Popkin. Income and health dynamics in Vietnam:
poverty reduction, increased health inequality. Population-E
2003; 58(3):253-264.
[3] Tài liệu từ
cuộc điều tra về mức sống của World Bank 1992 và 1997. Năm
1992, số hộ điều tra là 4800 trong 240 phường xă với 23.839 cá
nhân; năm 1997, số liệu được tính từ 6002 hộ (trong số này có
4305 là những hộ được điều tra từ 1992) với tổng số cỡ mẫu
28.509.
[4] Số liệu trích
từ bài báo “Vietnam’s health care system” A macroeconomic
perspective” của Susan J. Adams, đại diện International Monetary
Fund tại Hà Nội. Số liệu này có lẽ có nguồn từ Tổ chức y tế thế
giới: www3.who.int/whois/country.
[5] Segall M, et
al. Economic transition should come with a health warning: the
case of Vietnam. J Epidemiol Community Health 2002; 56:497-505.
[6] Tài liệu nghiên
cứu “Paying for health care in Vietnam: extending voluntary
health insurance coverage” của Matthew Jowett và Robin Thompson,
Đại học York (Anh), tháng 3/1999.
[7] Có thể lấy một
trường hợp tiêu biểu để hiểu thêm vấn đề. Một bệnh nhân tiểu
đường, mỗi lần đi khám bác sĩ đều có một toa thuốc trị giá
600.000 đồng có thể dùng trong ṿng 1 tháng. Đó là chưa kể các
dịch vụ thử nghiệm khác, cũng tốn khoảng 100.000 đồng một lần,
có khi lên đến cả triệu đồng. Một người nông dân làm trung b́nh
một ngày chỉ 25.000 đến 40.000Đ th́ rất khó trang trải toa thuốc
này. Trong thực tế, đă có nhiều trường hợp bệnh nhân ở nông
thôn hoặc là chờ chết, hoặc tự tử v́ không có tiền điều trị
bệnh.
[8] “Cơ sở y tế” ở
đây bao gồm bệnh viện, pḥng khám đa khoa, trạm y tế phường xă,
v.v… Số liệu này được trích từ báo cáo của Bộ Y tế và Tổng cục
Thống kê. Web: www.gso.gov.vn.
[9] Phát biểu
trước Quốc hội năm 2006, Bộ trưởng Trần Thị Trung Chiến nói: “Có
những bệnh viện không mổ được một ca ruột thừa … Tôi đă thiết
tha nhiều lần đề nghị đầu tư cho ngành y tế. Phải có kinh phí,
nếu không Quốc hội hỏi tôi, chất vấn thế này, tôi không làm sao
giải thích được.”
[10] Wang H, et
al. Community-based health insurance in poor rural China: the
distribution of net benefits. Health Policy and Planning 2005;
20(6):366-374.
[11] Hsiao W.
Design and implementation of social health insurance. Monograph
on Social Health Insurance for Developing Nations của World Bank
và Harvard University.
[12] Ekman B.
Community-based health insurance in low-income countries: a
systematic review of the evidence. Health Policy and Planning
2004; 19(5):249-270.
|