|
Cổ phần hóa bệnh viện công và
chất lượng
Nguyễn Văn Tuấn
Người viết bài này đă phát biểu 3 lần (trên Tuổi Trẻ và
Thời báo Kinh tế Sài G̣n) về vấn đề cổ phần hóa bệnh viện
công. Nhân thấy có người bàn đến vấn đề chất lượng, tôi muốn
nói thêm đôi lời để làm sáng tỏ hơn, v́ tôi có cảm giác nhiều
người nói chuyện chất lượng nhưng không căn cứ vào thực tế khách
quan. Bài viết ngắn này tŕnh bày kinh nghiệm ở nước ngoài với
hi vọng cung cấp thêm thông tin để thảo luận bớt phần cảm
tính.
Trước t́nh trạng quá tải và thiếu phát triển về cơ sở vật chất
do thiếu đầu tư từ Nhà nước, một số người đề nghị nên cổ phần
hóa bệnh viện công. Đề nghị này được nhiều người quan tâm, bởi
v́ nói cho cùng y tế (và giáo dục) là hai dịch vụ liên quan trực
tiếp đến người dân và phúc lợi xă hội. Mức độ phát triển của
hai dịch vụ này cũng chính là thước đo phát triển xă hội của một
quốc gia. Do đó, không ngạc nhiên khi thấy một số ư kiến phản
đối định hướng cổ phần hóa bệnh viện công.
Một
số người cho rằng cổ phần hóa là một xu hướng tất yếu trong nền
kinh tế thị trường, và là một giải pháp để tạo điều kiện cho tư
nhân đầu tư vào việc nâng cao cơ sở vật chất y tế nước nhà.
Cũng có ư kiến cho rằng nếu không cổ phần hóa th́ làm sao có thể
nâng cao chất lượng y tế. Vấn đề chất lượng y tế quả là vấn đề
nhức nhối và được mọi người quan tâm hiện nay. Nhưng cho rằng
phải cổ phần hóa để nâng cao chất lượng có nghĩa là giả định
rằng bệnh viện tư nhân có chất lượng cao hơn bệnh viện công.
Theo cảm quan thông thường có lẽ giả định này đúng, bởi v́ hỏi
một bệnh nhân -- nếu có điều kiện và cơ hội cho phép -- chọn
giữa bác sĩ tư và bác sĩ công, phần lớn họ đều chọn bác sĩ tư
[1]. Nhưng đó chỉ là cảm nhận chủ quan của bệnh nhân, nên cũng
khó mà suy luận rộng ra được.
Khó có thể thảo luận về một vấn đề một cách khoa học nếu không
có dữ liệu. vấn đề trong thảo luận về cổ phần hóa bệnh viện
hiện nay là chúng ta chưa có một nghiên cứu nào có hệ thống để
thẩm định chất lượng y tế của bệnh viện công và tư, cho nên rất
khó để biết cổ phần hóa có liên quan đến chất lượng y tế hay
không. Tuy nhiên, có thể tham khảo và t́m hiểu qua y văn về
kinh nghiệm ở nước ngoài và nhất là các nước trong vùng.
Nhưng nói đến chất lượng ở đây là nói đến khía cạnh ǵ? Trong y
tế, cụm từ “chất lượng” đề cập đến các khía cạnh chăm sóc sức
khỏe liên quan đến: thực phẩm cho bệnh nhân; môi trường bệnh
viện (bàn ghế, tử, giường, sạch sẽ, ánh sáng); dịch vụ chuyên
môn (y khoa, điều dưỡng, thiết bị); tiện nghi pḥng (riêng tư,
giờ thăm bệnh, tiện nghi); phục vụ cá nhân (riêng biệt, thông
tin, chú ư đến nhu cầu cá nhân); và sự đáp ứng của hệ thống cấp
cứu khi có sự cố. Các khía cạnh này có thể phát triển thành
những “chỉ tiêu” cụ thể để đo lường chất lượng bệnh viện. Ngoài
những chỉ tiêu mang tính định chất, c̣n có một chỉ tiêu quan
trọng nhất: đó là tỉ lệ tử vong trong ṿng hay sau khi xuất viện
30 ngày.
Trong thời gian qua, đă có khá nhiều nghiên cứu so sánh về chất
lượng y tế giữa các bệnh viện công và tư bằng cách sử dụng các
chỉ tiêu chất lượng và tỉ lệ tử vong. Một nghiên cứu trên 16,9
triệu bệnh nhân nhập viện từ năm 1984-1993 (10 năm) cho thấy
bệnh nhân từ các bệnh viện công và bệnh viện tư từ thiện có số
ngày nằm viện lâu hơn và tỉ lệ tử vong thấp hơn các bệnh viện tư
kinh doanh lấy lời [2].
Một
nghiên cứu thú vị khác ở Thái Lan [3] mà trong đó các nhà nghiên
cứu t́m hiểu và so sánh sự hài ḷng của bệnh nhân giữa các bệnh
viện công và tư. Họ chia các bệnh viện tư thành hai nhóm: bệnh
viện tư kinh doanh v́ lợi nhuận, và bệnh viện tư không v́ lợi
nhuận (non-profit). Họ hỏi bệnh nhân về các chỉ tiêu chất lượng
y tế (Bảng dưới đây), và kết quả cho thấy bệnh nhân có khuynh
hướng đánh giá cao các bệnh viện tư không lấy lời, kế đến là các
bệnh viện công, và sau cùng là các bệnh viện tư kinh doanh lấy
lời. Chỉ có 55% bệnh nhân bệnh viện tư v́ lợi nhuận cho biết họ
sẽ sử dụng dịch vụ một lần nữa, so với tỉ lệ 62% ở bệnh viện
công và 68% ở bệnh viện tư không v́ lợi nhuận.
Số phần trăm bệnh nhân trả lời
“tốt” và “rất tốt” cho các chỉ tiêu chất lượng y tế
|
Chỉ tiêu chất lượng y tế |
Bệnh viện công |
Bệnh viện tư kinh doanh
lấy lời |
Bệnh viện tư không lấy
lời (từ thiện) |
|
Sạch sẽ |
73 |
70 |
77 |
|
Tiện nghi |
70 |
71 |
75 |
|
Có bàn ghế đầy đủ |
39 |
48 |
39 |
|
Điều dưỡng chăm sóc bệnh
nhân |
76 |
71 |
83 |
|
Thái độ của điều dưỡng |
81 |
74 |
84 |
|
Bác sĩ khám tổng quát |
73 |
68 |
79 |
|
Khả năng chuyên môn |
90 |
83 |
96 |
|
Bác sĩ thường xuyên đến
thăm bệnh |
88 |
79 |
90 |
|
Thái độ của bác sĩ |
85 |
65 |
82 |
|
Thông tin về trước và
sau khi giải phẫu |
80 |
73 |
83 |
|
Thông tin về xét nghiệm
|
70 |
68 |
70 |
|
Thông tin về thuật điều
trị |
75 |
76 |
73 |
|
Thông tin về sử dụng
thuốc |
69 |
56 |
84 |
|
Chất lượng tổng quát
|
88 |
79 |
90 |
Nguồn:
Tangcharoensathien V, et al. Patient satisfaction in Bangkok:
the impact of hospital ownership and patient payment status.
Int J Quality Health Care 1999; 11:309-317.
Nói
chung, kết quả các nghiên cứu ở Âu châu cũng cho thấy một xu
hướng chung là về mặt thực phẩm, tiện nghi, và môi trường bệnh
viện, bệnh viện tư có chất lượng cao hơn bệnh viện công; nhưng
về các khía cạnh lâm sàng như điều trị, khả năng chuyên môn,
thời gian chăm sóc, thậm chí ngay cả thái độ bác sĩ và điều
dưỡng, các bệnh viện công và bệnh viện từ thiện có chất lượng
vượt xa các bệnh viện tư v́ lợi nhuận [4-5].
Nói tóm lại, kinh
nghiệm từ các nước khác và trong vùng cho thấy chất lượng chăm
sóc sức khỏe từ bệnh viện tư v́ lợi nhuận thấp hơn các bệnh viện
công và bệnh viện tư không v́ lợi nhuận. Tất nhiên, bệnh nhân ở
các bệnh viện công thường là những bệnh nhân nặng và có nhu cầu
y tế cao hơn các bệnh nhân ở bệnh viện tư. Dựa vào các kinh
nghiệm này, có thể nói rằng tư hữu hóa bệnh viện công khó có thể
nâng cao chất lượng y tế cho bệnh nhân.
Tài liệu tham khảo
[1] Mulu N, et al. The rise of
private practice: a growing disquiet with public services. PNG
Medical Journal 1992; 35:171-8.
[2] Yuan Z, et al. The
association between hospital type and mortality and length of
stay: a study of 16.9 million hospitalized Medicare
beneficiaries. Medical Care 2/2000; 38:231-245.
[3] Tangcharoensathien V, et al.
Patient satisfaction in Bangkok: the impact of hospital
ownership and patient payment status. Int J Quality Health Care
1999; 11:309-317.
[4] Camilleri D, et al.
Comparing public and private hospital care service. Int J
Health Care Quality Assurance 1998; 11:127-33.
[5] Pongsupap Y, et al. Choosing
between public and private or between hospital and primary care:
responsiveness, patient-centredness, and prescribing patterns in
outpatient consultation in Bangkok. Tropical Medicine and
International Health 2006; 11:81-9.
|