|
http://www.saigontimes.com.vn/tbktsg/detail.asp?muc=140&Sobao=858&SoTT=5
Cổ phần hóa: chưa phải cách duy nhất
Cổ phần hóa
có phải là giải pháp duy nhất để đổi mới hệ thống bệnh viện
công? Hội nghị quốc gia về thí điểm cổ phần hóa bệnh viện công
tổ chức trong hai ngày cuối tuần rồi giúp chúng ta có cái nh́n
toàn diện hơn về vấn đề này.
Nguyên Tấn
Lạc quan
Bác sĩ Nguyễn
Thế Dũng, Giám đốc Sở Y tế TPHCM, đă dành hơn nửa buổi sáng của
ngày hội thảo thứ nh́ để chỉ nhằm giải đáp một câu hỏi đang gây
“nóng sốt” dư luận: V́ sao phải cổ phần hóa Bệnh viện B́nh Dân?
Đây là bệnh viện được cho phép xây dựng đề án thí điểm cổ phần
hóa trong một công văn truyền đạt ư kiến của Thủ tướng Chính phủ
cách đây hai năm. Có thông tin cho hay, theo sau B́nh Dân, hàng
loạt bệnh viện khác hiện cũng đang nối đuôi nhau xin được cổ
phần hóa như Từ Dũ, 115, Mắt, Hùng Vương...
Theo ông Dũng,
có ba cái lợi cơ bản khi cổ phần hóa bệnh viện. Một, là huy động
được nguồn vốn dồi dào của xă hội để đầu tư cho hệ thống bệnh
viện công. Do thiếu vốn, cơ sở vật chất của các bệnh viện công
thường được trang bị kém. “Ví dụ, mặc dù là bệnh viện chuyên
khoa ngoại loại 1 nhưng Bệnh viện B́nh Dân đến nay vẫn chưa sắm
được một cái máy chụp CT trong khi một số cơ sở y tế tư nhân đă
có. Hoặc khoa niệu được xem là mạnh nhất của bệnh viện nhưng
trang thiết bị ở đây vẫn chưa cho phép thực hiện các ca ghép
thận trong khi Bệnh viện Đa khoa 115 đă làm được” - ông Dũng
phân tích. Hai, là giúp đổi mới phương thức quản lư bệnh viện.
“Hầu hết giám đốc các bệnh viện công của thành phố chưa qua
trường lớp đào tạo quản lư nào cả. Cổ phần hóa sẽ làm cho cơ chế
quản lư minh bạch hơn, khoa học hơn và được giám sát chặt chẽ
hơn nhờ các cổ đông”. Đặc biệt, khi chuyển sang hoạt động theo
cơ chế lời ăn lỗ chịu, bệnh viện không c̣n phải “ngửa tay” xin
bao cấp nữa.
Nói cách khác,
Nhà nước sẽ giảm bớt được đáng kể gánh nặng về đầu tư cho các
bệnh viện và có thể sử dụng khoản kinh phí tiết kiệm này điều
tiết cho những lĩnh vực y tế khác đang cần để phục vụ an sinh xă
hội tốt hơn như: y tế dự pḥng, y tế cơ sở, đào tạo nhân lực
ngành. Ông Dũng dẫn chứng, tại TPHCM mỗi năm Nhà nước phải chi
bao cấp trung b́nh tới 40 triệu đồng/giường bệnh và theo một cơ
chế rất bất hợp lư là “thanh toán trước, trả sau”. Như vậy, hiện
cả thành phố có 29 bệnh viện công với tổng cộng 13.000 giường
bệnh th́ gánh nặng bao cấp về tài chính sẽ rất lớn, nhất là khi
nhu cầu về khám chữa bệnh đang ngày càng gia tăng.
Mặc dù, theo ông
Dũng, với cơ chế hạch toán khi đă cổ phần hóa giá viện phí chắc
chắn sẽ tăng cao hơn so với trước nhưng bù lại người dân sẽ được
đảm bảo tốt hơn về dịch vụ và công nghệ kỹ thuật y tế. Đặc biệt,
trong đề án cổ phần hóa của ḿnh, Bệnh viện B́nh Dân cho biết sẽ
trích lợi tức từ 60% cổ phần của cổ đông nhà nước để lập quỹ an
sinh xă hội, hỗ trợ những bệnh nhân nghèo và các đối tượng chính
sách. Để có thể thực hiện đề án trên, bệnh viện cũng đề nghị Nhà
nước cho một số ưu đăi như: vay vốn lăi suất 0,4% /tháng theo
chương tŕnh vay vốn kích cầu; miễn tiền thuê đất trong năm năm
đầu cổ phần hóa; miễn 100% thuế thu nhập doanh nghiệp trong năm
năm đầu và giảm 50% trong năm năm tiếp theo...
Sao không tự
chủ?
Trưởng pḥng Tài
chính-Kế toán, Bệnh viện E Trung Ương, ông Vũ Quang Sinh đă gây
bất ngờ khi đặt một câu hỏi trái ngược với lập luận của bác sĩ
Nguyễn Thế Dũng: “Nếu cổ phần hóa để huy động vốn th́ tại sao
không huy động vốn theo Nghị định 43/2006 của Chính phủ (*),
trong khi cổ phần hóa th́ đang phải ḍ dẫm và chưa có luật?”.
Rồi ông Sinh tự giải đáp luôn: “Nghị định này hoàn toàn cho phép
các bệnh viện công lập được quyền tự chủ về tài chính, trong đó
có quyền huy động vốn và vay vốn tín dụng nhằm tạo ra các dịch
vụ để tăng thu nhập cho CBCNV và phục vụ tốt hơn cho bệnh nhân.
Mà nói thật, vốn của các tổ chức tín dụng hiện không thiếu, kể
cả vốn của CBCNV”. Đồng t́nh với ư kiến trên, ông Vũ Văn Chính,
chuyên viên đơn vị chính sách (Bộ Y tế) cho rằng cơ chế tự chủ
về tài chính c̣n giúp các bệnh viện công tiết giảm chi phí, nâng
cao hiệu quả hoạt động bằng cách có thể “outsourcing” một số
loại dịch vụ không thuộc chuyên môn của ḿnh như: ăn uống, giặt
giũ, chăm sóc, khách sạn... Nhưng không chỉ có vậy! Theo ông
Chính, Nghị định 43 cho phép tự chủ cả về tổ chức bộ máy nhân
sự. Nghĩa là, bệnh viện có thể thuê cả những chuyên gia bên
ngoài để điều hành, quản trị, chứ không chỉ có cổ phần hóa mới
làm được điều ấy.
Rơ ràng, theo
ông Chính, ở đây có hai cơ chế tương đương nhau về độ “thoáng”.
Chỉ có khác ở chỗ: nếu cổ phần hóa th́ bệnh viện sẽ mất đi một
phần tài sản, c̣n theo cơ chế tự chủ th́ tài sản của bệnh viện
vẫn được nguyên vẹn. Cổ phần hóa th́ bệnh viện phải chạy theo
lợi nhuận, c̣n theo cơ chế tự chủ th́ tính chất phi lợi nhuận
vẫn được bảo toàn. Đó là chưa nói đến có thể xảy ra khả năng các
cổ đông bên ngoài thao túng bệnh viện khi cổ phần hóa, tương tự
như trường hợp bên Việt Nam trong một số liên doanh trước đây bị
phía nước ngoài ép dẫn đến phải bỏ của, rút lui. Để đảm bảo
những phúc lợi y tế căn bản cho toàn dân với tính chất phi lợi
nhuận, theo ông Chính, không chỉ phải đổi mới cơ chế mà điều
không kém phần quan trọng là ưu tiên của Nhà nước đối với lĩnh
vực này như thế nào. Hiện ở Việt Nam chi phí cho y tế chiếm
khoảng 1% GDP trong khi các nước trong khu vực tỷ lệ này là
1,5-6%.
Khảo sát kinh
nghiệm thế giới, Tiến sĩ Dương Huy Liệu, Vụ trưởng Vụ Kế
hoạch-Tài chính (Bộ Y tế) cũng rút ra nhận định “trong số các
lựa chọn đổi mới th́ cổ phần hóa bệnh viện chưa phải là lựa chọn
tốt nhất, càng không phải là duy nhất”. Theo ông, thế giới có
bốn mô h́nh cơ bản về bệnh viện công: nhà nước bao cấp; giao
quyền tự chủ về tổ chức và tài chính cho tư nhân dưới sự kiểm
soát của nhà nước; cổ phần hóa và tư nhân hóa. Trong số bốn mô
h́nh nói trên th́ hầu hết các nước đều dừng lại ở mô h́nh giao
quyền tự chủ, v́ nó hài ḥa được mục tiêu phi lợi nhuận với hoạt
động hiệu quả của các bệnh viện công (thành công điển h́nh là
Singapore). Trong khi đó, cổ phần hóa “kết quả hết sức khiêm
tốn, thậm chí thất bại”. Tuy nhiên, cả hai ông Liệu và Chính đều
ủng hộ cho một cuộc thử nghiệm cổ phần hóa bệnh viện công tại
Việt Nam. Điều quan trọng, theo hai ông, là việc cổ phần hóa
phải hết sức thận trọng và chỉ nên thí điểm ở một vài bệnh viện
không thuộc hệ quy hoạch chủ chốt, c̣n những bệnh viện chủ chốt
như Bạch Mai, Việt Đức, Chợ Rẫy... th́ không bao giờ nên cổ phần
hóa. “Ví dụ, một tỉnh có hai bệnh viện đa khoa, một của Trung
ương và một của tỉnh th́ có thể cổ phần hóa bệnh viện của tỉnh.
Hoặc có thể cổ phần hóa một số bệnh viện thuộc dự án xây
mới”-ông Liễu nói.
|
(*)
Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25-4-2006 của Chính phủ
quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về
thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài
chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập. |
LTS: Tiếp nối
bàn tṛn về vấn đề cổ phần hóa bệnh viện và trường đại học trên
TBKTSG số 20-2007 (ngày 10-5-2007), tuần này chúng tôi xin giới
thiệu tiếp ư kiến của hai chuyên viên thuộc CLB Chuyên viên
TBKTSG và một ư kiến phản hồi của bạn đọc về đề tài này.
Vấn đề là làm sao cho người nghèo có
tiền chữa bệnh
...Theo tôi quan
trọng không phải là Việt Nam theo mô h́nh y tế nào: bệnh viện
công, tư hay cổ phần mà vấn đề đặt ra ở đây là người bệnh có đủ
tiền (và làm sao có đủ tiền) để trả phí chữa trị hay không?
CHLB Đức và
nhiều nước phát triển đă thực hiện điều này qua chế độ bảo hiểm
sức khỏe công bằng: người có thu nhập thấp đóng ít, người có thu
nhập cao góp nhiều và trên giường bệnh mọi người đều như nhau,
ngoài trừ một ít trường hợp đặc biệt. Khi bị bệnh, bệnh nhân có
thể đến pḥng mạch bác sĩ để khám hoặc đến bệnh viện công hay
tư, miễn nơi nào thuận tiện và có điều kiện chữa trị bệnh của
ḿnh và sau đó hăng bảo hiểm sức khỏe của ḿnh sẽ thanh toán
trực tiếp với bệnh viện.
Tôi nghĩ, Việt
Nam theo nền kinh tế thị trường th́ không thể không có bệnh viện
tư nhân hay cổ phần, nhưng với “định hướng xă hội chủ nghĩa” th́
không thể không có sự công bằng xă hội. V́ vậy Việt Nam cần có
chế độ bảo hiểm sức khỏe công bằng để khi bị bệnh, mọi người
bệnh có điều kiện đến khám với bác sĩ, đến bệnh viện (dù công
hay tư) để chữa trị, ít ra đối với một số bệnh cơ bản mà không
bị phân biệt đối xử.
Trang Quan
Sen, Hannover - Đức
Nên bán hẳn
luôn
Cổ phần hóa
doanh nghiệp nhà nước là vấn đề mà tôi đă đặt ra trước Quốc hội
từ những năm 1995-1997 nhưng lúc đó ít có ai đồng t́nh. Thấy
ḿnh lạc lơng quá tôi đă rút lui. Nhưng lúc đó tôi đă phân biệt
những ǵ cần tư nhân hóa (privatization), cái ǵ Nhà nước vẫn
phải giữ. Ngồi trong Quốc hội 17 năm, tôi nhận ra rằng nguyên
nhân chính của những khó khăn kinh tế của Việt Nam là ngân sách
nhà nước quá nhỏ so với nhu cầu phát triển của ta. Nhưng cái
nguyên nhân sâu xa hơn nữa là chính sách của Nhà nước chưa tạo
mặt bằng thuận tiện giúp người dân có thể tham gia các hoạt động
kinh tế để họ giàu lên, đóng nhiều thuế cho ngân sách, làm cho
ngân sách ngày một lớn thêm. Nếu Nhà nước cứ phải tiêu hao tiền
lo cho các doanh nghiệp nhà nước đứng vững th́ không thể nào
ngân sách có đủ tiền để lo cho các dịch vụ công đến nơi đến
chốn. Cũng may là ta có các giếng dầu thô đang gánh một phần khá
quan trọng cho ngân sách nhà nước, nếu không th́ t́nh h́nh có
thể c̣n tệ hơn nữa.
V́ ngân sách nhà
nước quá nhỏ nên lương bổng trong khu vực nhà nước cũng không
thể cao (thí dụ lương giáo viên Việt Nam chỉ bằng khoảng 1/10
lương giáo viên Thái Lan). V́ thế ngân sách không thể nào đầu tư
đến nơi đến chốn cho những dịch vụ công như bệnh viện và trường
học. Và Nhà nước chủ trương “xă hội hóa”, rồi nay lại “cổ phần
hóa” bệnh viện và trường học.
Rơ ràng người
dân chúng ta đang đứng trước hai ngả đường khó xử: muốn thấy Nhà
nước làm sao đóng đúng vai tṛ nhà nước th́ không được rồi, v́
đâu có đủ tiền; muốn cho cổ phần hóa th́ lại không biết làm sao
giúp dân nghèo, tầng lớp chiếm đại đa số và cũng là những người
không đóng bảo hiểm y tế, có điều kiện chữa bệnh.
Về dịch vụ y tế:
thực ra ít có nơi nào ở nước ta trị bệnh miễn phí cho dân, ngoại
trừ một số ít pḥng khám từ thiện. Bệnh nhân vào bệnh viện công
phải xuất tŕnh thẻ bảo hiểm y tế nếu không th́ phải trả tiền,
thậm chí nếu không có tiền đóng trước th́ không được điều trị.
Do đó tôi đồng ư là nên “giải tư” bệnh viện công để có tiền đầu
tư thêm thiết bị hiện đại. “Giải tư” đúng nghĩa là Nhà nước
không nên giữ cổ phần làm ǵ. Nhà nước chọn giữ lại vài bệnh
viện công tại thành phố lớn và một bệnh viện công tại các tỉnh,
các bệnh viện c̣n lại th́ Nhà nước mạnh dạn bán cho tư nhân để
lấy tiền đó đầu tư vào một số bệnh viện công c̣n lại tại thành
phố hoặc tỉnh lỵ để thật sự lo cho dân nghèo.
Vơ Ṭng Xuân,
Hiệu trưởng Đại học An Giang
Nên công ra
công, tư ra tư
Trong nền kinh
tế có nhiều thành phần như hiện nay th́ xă hội tất yếu bị phân
hóa thành nhiều tầng lớp giàu nghèo khác nhau. Các bệnh viện tư
nhân sẽ đáp ứng việc chữa bệnh theo yêu cầu của những người có
nhiều tiền. C̣n đa số người dân c̣n lại sẽ đến bệnh viện công
với các trang thiết bị y tế phù hợp với điều kiện kinh tế của
nước nhà, để được chữa trị bởi đội ngũ thầy thuốc có khả năng
chuyên môn cao. Nhà nước sẽ ưu tiên đầu tư cho các bệnh viện
công lớn và có chính sách hỗ trợ để nâng cao mức sống của đội
ngũ y bác sĩ làm việc tại đây.
Từ suy nghĩ ấy,
vào năm 1990, thời điểm c̣n quá ít bệnh viện tư nhân lớn, Bệnh
viện Chấn thương chỉnh h́nh TPHCM đă tổ chức thí điểm một pḥng
điều trị dịch vụ theo yêu cầu của bệnh nhân. Theo tôi th́ thời
điểm hiện nay dịch vụ này không c̣n phù hợp nữa.
Nhà nước chủ
trương xă hội hóa ngành y tế là rất đúng nhưng nên thực hiện
bằng việc khuyến khích tư nhân đầu tư xây dựng các cơ sở y tế.
Nhà nước không nên tiến hành xă hội hóa bằng việc cổ phần hóa
các bệnh viện công, biến bệnh viện thành một doanh nghiệp của
những nhà đầu tư đặt lợi nhuận là mục tiêu hoạt động chính
(doanh nghiệp bệnh viện là một tổ chức kinh tế kỹ thuật có tính
xă hội khác các doanh nghiệp kinh tế kỹ thuật khác).
Nhất thiết Nhà
nước phải làm chủ và kiện toàn các bệnh viện công lập thuộc loại
đầu ngành, các bệnh viện lớn ở từng địa phương để phục vụ đại đa
số người dân có thu nhập từ trung b́nh trở xuống. C̣n các bệnh
viện công loại nhỏ, hoạt động yếu kém th́ Nhà nước nên giải thể,
tổ chức đấu giá để trở thành bệnh viện tư.
Bác sĩ Huỳnh
Ḥa Thanh, nguyên Phó giám đốc
Bệnh viện
Chấn thương chỉnh h́nh TPHCM |