|
Mắm tôm
và dịch tả: phân biệt yếu tố nguy cơ và nguyên nhân
Nguyễn Văn Tuấn
Dựa vào quan sát rằng có đến
80% bệnh nhân tiêu chảy cấp (hay nói chính xác hơn là bệnh
tả) từng ăn thịt chó và mắm tôm trước khi mắc bệnh, các giới
chức y tế cho rằng mắm tôm là “nghi can” số một gây nên
dịch tiêu chảy mà đến nay đă ảnh hưởng đến hơn 1000 người. Dù
con số chính xác vẫn c̣n trong ṿng nghi ngờ và dù mối liên hệ
giữa bệnh dịch tả và mắm tôm vẫn chưa rơ ràng, các giới chức y
tế đă vội vă có biện pháp “mạnh” như ngưng sản xuất và vận
chuyển mắm tôm trong nội tỉnh cũng như ra tỉnh ngoài, thậm chí
tạm cấm sử dụng món ăn “quốc hồn quốc túy” này! Tôi e rằng tập
trung việc kiểm soát và can thiệp vào một yếu tố mắm tôm như thế
có thể dẫn đến sai lầm về chiến lược pḥng bệnh, v́ các yếu tố
quan trọng khác như nguồn nước và thói quen vệ sinh (hay thiếu
vệ sinh) cá nhân có thể bị sao lăng hay xem nhẹ.
Nguyên
nhân và yếu tố nguy cơ
Trước hết, cần nhắc lại một số định nghĩa và khái niệm dịch tễ
học (không phải lên lớp đâu, mà chỉ muốn nhắc v́ có thể chúng ta
quên). Nguy cơ (risk) mắc bệnh là xác suất một cá nhân
mắc bệnh trong một thời gian phơi nhiễm nhất định ở một cộng
đồng dân số. Nguyên nhân (cause) là yếu tố sinh học trực
tiếp gây nên bệnh. Chẳng hạn như vi khuẩn V. cholerae
trực tiếp gây bệnh dịch tả. Yếu tố nguy cơ (risk factor)
là một yếu tố -- qua các cơ chế gián tiếp hay trực tiếp -- làm
tăng nguy cơ mắc bệnh của một cá nhân. Chẳng hạn như uống nước
bị ô nhiễm không đun sôi là một yếu tố nguy cơ mắc bệnh dịch
tả.
Một yếu tố nguy cơ có thể là một nguyên nhân, nhưng cũng có thể
không phải là nguyên nhân, gây bệnh. Một yếu tố nguy cơ được
xem là nguyên nhân nếu hội đủ 5 điều kiện sau đây: sinh học:
mối liên hệ giữa yếu tố nguy cơ và bệnh phải có cơ sở sinh học
(như gien, biến thể DNA, đột biến DNA, dinh dưỡng, v.v…);
thời gian: phơi nhiễm yếu tố nguy cơ phải xảy ra trước khi
bệnh xảy ra; liên hệ theo tính liều lượng: người bị phơi
nhiễm yếu tố nguy cơ càng cao có nguy cơ mắc bệnh càng cao;
nhất quán: mối liên hệ phải được “chứng minh” trong nhiều
quần thể và nhiều nghiên cứu độc lập, chứ không phải chỉ một
quần thể hay một nghiên cứu; và can thiệp: nếu can thiệp
làm thay đổi mức độ phơi nhiễm yếu tố nguy cơ làm thay đổi nguy
cơ mắc bệnh.
Mối liên hệ giữa nguyên nhân và bệnh mang tính nhân-quả và xác
định: tất cả (100%) những người phơi nhiễm nguyên nhân (như bị
nhiễm trùng hay mang đột biến gien trong người) mắc bệnh. Nhưng
mối liên hệ giữa yếu tố nguy cơ và bệnh th́ mang tính bất định:
không phải bất cứ ai bị phơi nhiễm đều mắc bệnh, mà người phơi
nhiễm có nguy cơ mắc bệnh cao hơn người không phơi nhiễm.
Yếu tố nguy cơ là một khái niệm mang tính bao quát được đề xuất
từ thập niên 1960 (W. Kannel là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ
“risk factor” vào năm 1961) để mô tả những bệnh măn tinh phức
tạp như bệnh tim và ung thư. Phân biệt được
khái niệm nguyên nhân và yếu tố nguy cơ giúp cho chúng ta nhận
thức đúng về bệnh lí cũng như t́m những biện pháp pḥng chống
bệnh. Không phân biệt được hai khái niệm yếu tố nguy cơ và
nguyên nhân có thể dẫn đến hiểu lầm và có những hành động không
thích hợp và có thể gây tác hại đến một quần thể lớn.
Mắm tôm
không phải là nguyên nhân gây bệnh tả!
Theo dơi các thông tin liên quan đến
bệnh dịch tả (sẽ gọi tắt là “bệnh tả”) đang tiến triển ở một số
tỉnh phía Bắc nước ta hiện nay, tôi cảm thấy có một sự hiểu lầm
về yếu tố nguy cơ và nguyên nhân. Khi hỏi Bộ trưởng y tế, phóng
viên của báo
VnExpress cho biết: “Theo Bộ Y tế, 80% bệnh nhân
tiêu chảy cấp hiện nay có liên quan đến việc sử dụng mắm tôm.”
Nhưng chẳng hiểu sao, ngay sau đó, vẫn
VnExpress và vẫn
dẫn nguồn tin y tế lại nói: “Theo
Sở Y tế Hà Nội, có đến 90% số bệnh nhân kể trên đă ăn các thực
phẩm sống, chủ yếu là mắm tôm, mắm tép và đây chính là nguồn
truyền vi khuẩn gây bệnh.” Một bài báo trên
Thanh Niên cho biết con số là 100%: “Thứ trưởng Bộ Y tế
Trịnh Quân Huấn cho biết: ‘Tại các tỉnh có bệnh nhân dương tính
với vi khuẩn, 100% đều có ăn mắm tôm.” Các con số có xu
hướng … nhảy đầm! Không ngạc nhiên khi thấy từ nhảy đầm với
con số, giới báo chí tuyên bố mắm tôm là “nghi can số một gây
nên dịch tiêu chảy cấp tính nguy hiểm.” Các quan chức trong
Bộ y tế cũng có cùng nhận xét.
B́nh tĩnh!
Có thể nào căn cứ vào thực tế rằng phần lớn (hăy cứ cho là 80%)
những người mắc bệnh tả từng ăn mắm tôm (hay thịt chó) trước đó,
để kết luận rằng mắm tôm là nguồn truyền vi khuẩn gây bệnh hay
không? Tôi nghĩ câu trả lời là: không.
Cần phải phân biệt để hiểu hai phát biểu sau đây: (a) trong số
những người mắc bệnh tả, X% từng ăn mắm tôm, và (b) trong số
những người ăn mắm tôm, X% mắc bệnh tả. Câu thứ nhất đề cập đến
hệ quả (bệnh tả) đă xảy ra và truy t́m về quá khứ phơi nhiễm (ăn
mắm tôm). Câu thứ hai nói đến sự phơi nhiễm hôm nay để dự đoán
về khả năng bệnh xảy ra trong tương lai. Hai phát biểu bao hàm
thời gian tính khác nhau: câu thứ nhất nói về quá khứ và câu hai
đề cập đến tương lai. Hai câu phát biểu cũng mang bản chất khác
nhau: câu thứ nhất là chẩn đoán (diagnosis), và câu hai là dự
đoán (prognosis).
Chúng ta muốn biết về quá khứ hay tương lai ở đây? Nếu một
người đă mắc bệnh, vấn đề đầu tiên đặt ra là chữa trị , chứ
không phải suy đoán theo kiểu lí giải tháp ngà. Nhưng đối với
những người chưa mắc bệnh (hay nói theo ngôn ngữ dịch tễ học là
có nguy cơ mắc bệnh -- chưa nói đến nguy cơ cao hay thấp) câu
hỏi đặt ra là: nếu họ ăn mắm tôm (hay thịt chó), nguy cơ mắc
bệnh là bao nhiêu? Nếu nguy cơ này cao, th́ can thiệp để
pḥng ngừa là cần thiết.
Chúng ta hăy h́nh dung một t́nh huống đơn giản như
sau: có một cộng đồng gồm 1 triệu người, và trong số này có 20%
người ăn mắm tôm và 80% không ăn mắm tôm. Trong cộng đồng này
có 1000 người mắc bệnh tả, và trong số này có 80% (hay 800
người) từng ăn mắm tôm. Vậy câu hỏi quan trọng đặt ra là: trong
những người ăn mắm tôm (hay không ăn mắm tôm) nguy cơ mắc bệnh
tả là bao nhiêu. Để trả lời câu hỏi này, chúng ta có thể sử
dụng các số liệu trên và lập một bảng số liệu đơn giản như sau:
|
Thói quen
|
Bệnh tả |
Tổng số |
|
Mắc bệnh tả |
Không mắc bệnh tả |
|
Ăn mắm tôm |
800 |
199.100 |
200.000 |
|
Không ăn
mắm tôm |
200 |
799.800 |
800.000 |
|
Tổng số |
1.000 |
999.000 |
1.000.000 |
|
Bảng 1.
Ví dụ minh họa cho khái niệm “yếu tố nguy cơ”. |
Như vậy, trong số 200.000 người ăn mắm tôm, tỉ lệ mắc bệnh là
0,4% (lấy 800 chia cho 200.000), và trong số 800.000 người không
ăn mắm tôm, tỉ lệ mắc bệnh là 0,025% (lấy 200 chia cho
800.000). Do đó, nguy cơ mắc bệnh ở những người ăn mắm tôm cao
hơn nguy cơ ở những người không ăn mắm tôm 16 lần (0,40 /
0,025). Nói cách khác, ăn mắm tôm không phải là nguyên nhân
nhưng là một yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh tả.
Cần nói thêm rằng trong ví dụ trên, tôi dùng con số chẵn và cố
gắng mô phỏng theo con số mắc bệnh (khoảng 1000), nhưng trong
thực tế dân số ở các tỉnh phía Bắc cao hơn 1 triệu. Nói cách
khác, trong thực tế, tỉ lệ (hay nguy cơ) mắc bệnh rất thấp, chứ
không như trong bảng số liệu giả thuyết trên. Cũng phải nói
thêm rằng trong ví dụ trên, tôi chỉ dựa vào giả thuyết 90% những
người mắc bệnh từng ăn mắm tôm, nhưng trong thực tế chúng ta
chưa biết tần số này là bao nhiêu, nên chưa thể kết luận ǵ về
tầm quan trọng của mắm tôm như là một mầm mống phát sinh bệnh
tả.
Như đề cập trên, ảnh hưởng của yếu tố nguy cơ đến bệnh
hoặc là gián tiếp, hoặc trực tiếp. Chúng ta biết rằng nguyên
nhân gây bệnh là vi khuẩn V. cholerae, và vi khuẩn này có
thể tồn tại trong mắm tôm. Nhưng vi khuẩn này cũng có thể tồn
tại trong các thực phẩm khác, và nhất là trong nguồn nước sinh
hoạt hàng ngày.
Ví dụ trên, tôi lặp lại, c̣n rất đơn giản, v́ chúng ta
chỉ mới xem qua một yếu tố mà thôi. Trong thực tế, người ăn mắm
tôm cũng phải uống nước, và các thực phẩm khác. Rất khó để đánh
giá do nguồn phơi nhiễm nào (ăn mắm tôm, hay ăn thịt heo, hay
thịt chó, hay uống nước thiếu vệ sinh, v.v…) là yếu tố chính.
Chính v́ thế mà chỉ chú trọng vào một yếu tố duy nhất như mắm
tôm, tôi e rằng chúng ta đă quá xem thường các mầm móng gây bệnh
khác. Mầm móng nào? Phần dưới đây, tôi sẽ điểm qua các nghiên
cứu trong quá khứ để cho thấy rằng c̣n có nhiều yếu tố nguy cơ
đáng quan tâm khác.
Các yếu tố
nguy cơ bệnh tả
Rất tiếc là cho đến nay, ở Việt Nam chưa có nhiều
nghiên cứu về nguy cơ và qui mô bệnh dịch tả được công bố trên
các diễn đàn y học quốc tế, nên chúng ta chưa biết rơ các yếu tố
nguy cơ bệnh dịch tả ở nước ta là ǵ. Có khả năng có nghiên cứu
công bố trên các tập san ở trong nước nên thông tin chưa phổ
biến ra ngoài. Do đó, tôi dựa vào y văn nước ngoài để tŕnh bày
trong phần bàn về các yếu tố nguy cơ của bệnh dịch tả.
Kinh nghiệm từ các vụ bộc phát bệnh tả tại một số nước
trên thế giới cung cấp cho chúng ta nhiều yếu tố nguy cơ đáng
chú ư. Trong thời gian 2001 đến 2004, bệnh dịch tả bộc phát ở
tỉnh Sistan-va-Baluchestan, và các nhà nghiên cứu Iran đă làm
một việc có ư nghĩa: họ tiến hành nghiên cứu dịch tễ học để hệ
thống hóa đặc điểm vùng bị nhiễm vi khuẩn và nhận dạng các yếu
tố nguy cơ [1]. Qua kết quả phân tích dữ liệu, các yếu tố nguy
cơ sau đây được phát hiện:
|
Bảng 2. Yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh tả qua kết
quả nghiên cứu ở Iran
|
|
Yếu tố
nguy cơ |
Tỉ số nguy cơ (relative risk) và khoảng tin cậy 95% |
|
Uống nước
và bia từ các hàng quán bên lề đường |
10.2 (2.5 – 40.2) |
|
Không rửa
tay sau khi đi tiêu hay đi tiểu |
22.1 (2.9 – 167.1) |
|
Không rửa
tay trước khi ăn uống |
3.6 (1.0 – 12.8) |
|
Ăn thức ăn
c̣n dư lại từ hôm trước |
4.0 (1.2 – 13.2) |
|
Uống nước
giếng / sông |
2.8 (1.1 – 7.2) |
|
Chú thích diễn dịch:
Tỉ số nguy cơ liên quan đến một yếu tố nguy cơ có thể
diễn dịch qua một ví dụ như sau: những người đi tiêu /
tiểu mà không rửa tay có nguy cơ mắc bệnh dịch tả, tính
trung b́nh, cao hơn 22,1 lần so với những người có rửa
tay sau khi đi tiêu hay đi tiểu. |
Kết quả phân tích trên cho thấy các yếu tố nguy cơ nguy hiểm
nhất là không làm vệ sinh tay sau khi đi tiêu / tiểu và trước
khi ăn uống. Uống nước sông hay nước giếng cũng là một yếu tố
quan trọng. Ngoài ra, kết quả của họ c̣n cho thấy đàn ông có
nguy cơ mắc bệnh cao hơn phụ nữ đến 3,7 lần, và người mù chữ có
nguy cơ mắc bệnh cao hơn người biết chữ khoảng 6 lần.
Năm 1997, bệnh dịch tả bộc phát ở vài vùng ở Tanzania [2]. Các
nhà nghiên cứu tận dụng “cơ hội” này để tiến hành một nghiên cứu
dịch tễ học và kết quả cung cấp cho chúng ta một số yếu tố nguy
cơ có vẻ “gần” với những đặc điểm sinh sống ở nước ta.
|
Bảng 3. Yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh tả qua kết
quả nghiên cứu ở Tanzania |
|
Yếu tố
nguy cơ |
Tỉ số nguy cơ (relative risk) và khoảng tin cậy 95% |
|
Dự đám
tang gần đây |
2.7 (1.1 – 6.8) |
|
Nhà có
vách làm bằng bùn |
1.7 (1.2 – 2.5) |
|
Trần nhà
không có tole hay ngói |
2.0 (1.4 – 2.8) |
|
Không có
cầu tiêu / nhà xí trong nhà |
11.4 (6.3 – 20.5) |
|
Uống nước
không đun sôi |
1.9 (1.1 – 3.2) |
|
Tắm sông |
11.4 (6.3 – 20.5) |
|
Ăn cá khô
|
13.0 (7.3 – 23.3) |
|
Ăn tôm và
tôm khô |
3.1 (1.6 – 5.9) |
|
Ăn rau cải
sống (không nấu chín) |
1.3 (0.9 – 2.0) |
|
Chú thích diễn dịch:
xem bảng 2. |
Kết quả trên một lần nữa cho thấy các yếu tố như nguồn
nước uống, nhà xí, tắm sông (và ngạc nhiên thay, ăn cá khô) là
những yếu tố rất quan trọng có liên quan đến bệnh dịch tả. Chú
ư trong danh sách “yếu tố nguy cơ” trên cũng khá phù hợp với một
bản tin gần đây trên báo
Tuổi Trẻ, mà theo đó, “Tại tỉnh Hải Dương (mới phát hiện
có người mắc bệnh khoảng ba ngày nay) nhưng số bệnh nhân đă xấp
xỉ 100 người, phần lớn trong số này cùng ăn cỗ tại một đám tang,
với các thực phẩm truyền thống như thịt lợn, ḅ, gị chả.”
Tất nhiên, dự đám tang không phải là nguyên nhân, nhưng chỉ là
một yếu tố nguy cơ gián tiếp!
Cần phải nói thêm rằng bệnh dịch tả không phải mới ở
nước ta. Trong thời gian 1991-2001, cả nước ghi nhận có 17.385
trường hợp bệnh dịch tả; trong số này, 28% xảy ra ở phía nam
miền Trung, 27% ở các bờ biển phía bắc miền Trung. Tỉ lệ phát
sinh là 2,7 trên 100.000 dân số. Các yếu tố nguy cơ được ghi
nhận qua các trường hợp này liên quan đến nguồn nước: lượng mưa
nhiều, nước uống thiếu vệ sinh hay bị nhiễm trùng, và thiếu cầu
tiêu, cầu tiểu [3].
Nước, nước
và nước
Các nghiên cứu trên đây cho chúng ta thấy rất rơ ràng
rằng bệnh dịch tả có nhiều yếu tố nguy cơ, chứ không phải chỉ
mắm tôm hay thói quen ăn thịt chó. Do đó, không ngạc nhiên khi
chúng ta đọc tin “Không
ăn mắm tôm, rau sống... vẫn mắc bệnh”. Một
bài báo khác cho biết “Xuất hiện bệnh nhân tiêu chảy
không phải do ăn mắm tôm”. Những tin này không làm chúng ta
ngạc nhiên. Nhưng các tin này đồng thời cho thấy nếu chúng ta
chỉ tập trung vào tấn công và khống chế món “quốc hồn quốc túy”
đó là một sai lầm nghiêm trọng.
Thế nhưng, như có thể hiểu được, các giới chức vẫn có
những phản ứng mạnh. Tiêu biểu cho phản ứng mạnh đó được
Thanh Niên tường thuật như sau: “Thứ trưởng Bộ Y tế Trịnh
Quân Huấn cho biết: chúng tôi đă yêu cầu các địa phương có cơ sở
sản xuất mắm tôm, mắm tép cần tạm ngưng việc vận chuyển mắm tôm
trong nội tỉnh cũng như ra tỉnh ngoài. Hiện tại, mắm tôm sẽ tạm
cấm sử dụng.” C̣n
Bộ trưởng y tế th́ có ư kiến rằng: “Chúng tôi đang soạn
thảo văn bản hướng dẫn cách xử lư. Nếu mắm tôm vẫn c̣n niêm
phong trong túi th́ hăy để nguyên. C̣n nếu định vứt đi th́ người
dân phải cho cloramin B vào lọ mắm trong một thời gian.”
Với những phân tích vừa tŕnh bày, tôi e rằng mắm tôm chịu hàm
oan ở đây.
Bởi v́ yếu tố nguy cơ có ư nghĩa đối với công tác y tế
công cộng, việc phân biệt yếu tố nguy cơ và nguyên nhân không
chỉ là vấn đề nhận thức, mà biến nhận thức thành hành động thực
tế. Nếu các thông tin về yếu tố nguy cơ trên có ư nghĩa ǵ đến
y tế công cộng, tôi nghĩ đến những ư sau đây:
Vấn đề nguồn nước. Cần có một chiến dịch đồng
bộ nhắm đến việc cải thiện nguồn nước, nguồn thực phẩm (kể cả
mắm tôm), giáo dục y tế cộng đồng, và tiêm chủng. Hơn một trăm
năm trước, người ta đă chứng minh rằng bệnh dịch tả ở London
(Anh) lan truyền qua nguồn nước bị nhiễm trùng từ phân người.
Cho đến nay, nhiều nạn dịch tả bộc phát cũng qua nguồn nước.
Chẳng hạn như nạn dịch ở Nam Mĩ vào năm 1991-1994, “thủ phạm” là
nhóm O1, El Tor của vi khuẩn V. cholerae lan truyền qua đường
nước thải từ một chiếc tàu hàng. Nạn dịch này gây tử vong cho
cả mười ngàn người. Nhiều nghiên cứu từ Phi châu, Iran, Á châu
và ngay cả tại Việt Nam cũng cho thấy nước uống và nước dùng cho
sinh hoạt hàng ngày chính là một yếu tố quan trọng lan truyền vi
khuẩn và gây bệnh. Do đó, cần phải chú trọng đến việc kiểm soát
và làm sạch nguồn nước. Người dân cần được hướng dẫn cách thức
làm sạch nguồn nước, và nhất là tránh không uống nước hồ, nước
sông, hay nước mưa mà chưa nấu chín.
Vi khuẩn V. cholerae có thể bị tiêu diệt ở
nhiệt độ cao hay môi trường nồng độ axít cao. Điều này có nghĩa
là nếu thực phẩm và rau cải được nấu chín, nước uống được đun
sôi, và nguồn nước sinh hoạt gia đ́nh được tẩy trùng bằng
chlorine, th́ nguy cơ nhiễm khuẩn hay mắc bệnh tả sẽ giảm rất
nhiều, nếu không muốn nói là ngăn ngừa.
Giáo dục cộng đồng về nguồn nước. Chúng ta cần
phát động một chương tŕnh y tế công cộng để báo cho người dân
biết về nguy cơ và các yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh tả.
Phần lớn các yếu tố liên quan đến bệnh dịch tả liên quan đến
t́nh trạng kinh tế, thậm chí văn hóa sinh hoạt của người dân;
cho nên cần phải có một chiến lược về lâu về dài nhằm cải thiện
môi trường vệ sinh và nhà xí. Phải thú nhận một thực tế là rất
nhiều người Việt chúng ta chưa có thói quen rửa tay trước bữa ăn
hay sau khi đi tiêu / tiểu, và cũng chưa xem nhà xí là một
phương tiện pḥng chống bệnh tật. (Rất nhiều nhà hàng, nhà ở
được xây dựng hoành tráng, nhưng cầu xí th́ rất ư là tồi tệ).
Nhưng thói quen thiếu vệ sinh tay và nhà xí đă được “chứng minh”
là những yếu tố quan trọng liên quan đến bệnh dịch tả.
Làm sạch nguồn nước có hiệu quả hơn can thiệp vào
mắm tôm. Các phân tích trên cung cấp cho chúng ta một thông
điệp gián tiếp khác là làm sạch nguồn nước sẽ đem lại hiệu quả
pḥng chống bệnh tả hơn là tập trung vào vấn đề mắm tôm như các
quan chức hiện nay đang làm. Lí do rất đơn giản: 100% người dân
phải dùng nước hàng ngày và do đó không ít th́ nhiều chịu phơi
nhiễm nước, nhưng chỉ có một thiểu số ăn mắm tôm trong một thời
gian ngắn. Rất ít ai ăn mắm tôm hàng ngày, nhưng 100% người dân
phải sử dụng nước hàng ngày. Chúng ta có thể làm một tính toán
đơn giản. Nếu những người ăn mắm tôm có nguy cơ mắc bệnh tả cao
gấp 16 lần (như ước tính) và 20% người dân trong cộng đồng thỉnh
thoảng ăn mắm tôm, th́ can thiệp vào mắm tôm có thể ngăn ngừa
được tối đa là 75% trường hợp bệnh. Nhưng nếu tỉ số nguy cơ mắc
bệnh tả liên quan đến nguồn nước là 16 (tính trung b́nh từ các
nghiên cứu trong quá khứ), và nếu can thiệp làm sạch nguồn nước,
chúng ta có thể ngăn ngừa tối thiểu là 94% trường hợp dịch tả.
Tính toán đơn giản đó cho thấy can thiệp làm sạch nguồn nước
chính là một biện pháp hữu hiệu nhất, thực tế nhất, và đơn giản
nhất để ngăn ngừa bệnh tả.
Nghiên cứu khoa học. Chúng ta không thể hành
động nếu không có thông tin. Mặc dù bệnh dịch tả không mới ở
nước ta, nhưng cho đến nay các thông tin về qui mô, yếu tố nguy
cơ của bệnh vẫn c̣n quá khiêm tốn, nếu không muốn nói là “chẳng
có ǵ”. Điều này rất tương phản với các nước khác, kể cả các
nước Phi châu, nơi mà họ thu thập thông tin khá đầy đủ để đi đến
những chương tŕnh y tế dự pḥng rất hữu hiệu. Đây là thời điểm
lí tưởng để thực hiện các nghiên cứu dịch tễ học t́m hiểu về quá
tŕnh bộc phát bệnh cũng như các yếu tố địa phương và cá nhân có
liên quan đến bệnh. Những thông tin này rất cần cho việc hoạch
định một chiến dịch pḥng ngừa bệnh trong tương lai.
Bệnh dịch tả và vi khuẩn gây bệnh đă song hành cùng
con người qua nhiều năm [4], nhưng có xu hướng tập trung vào một
số vùng trên thế giới. Á châu và Nam Mĩ là những vùng chịu ảnh
hưởng bệnh này khá nhiều. Nngay cả trong vùng Á châu cũng có
những nước như Singapore hay ngay cả Thái Lan có tần số bệnh gần
như không đáng kể. Điểm khác biệt giữa các nước này và nước ta
là họ đă cải thiện nguồn cung cấp nước, có hệ thống kiểm tra
thực phẩm hữu hiệu, có đầy đủ thông tin, và nhất là có hệ thống
y tế công cộng tốt sẵn sàng ứng phó với một nạn dịch.
Bệnh tả là bệnh hoàn toàn có thể ngăn ngừa. Chúng ta cần học
hỏi từ kinh nghiệm của các nước này để tiến đến một định hướng
giảm tần số bệnh đến mức tối thiểu. Và, để tiến đến một định
hướng như thế, chúng ta cần có một chiến lược tổng thể và lâu
dài, chứ không nên tập trung vào một yếu tố như mắm tôm. Ở nước
ta, làm sạch nguồn nước cần phải được xem là một biện pháp số 1
trong bất cứ một chiến lược y tế công cộng nào để ngăn ngừa bệnh
tả và các bệnh khác.
Chú thích và tài liệu tham
khảo:
[1] Izadi S, Shakeri H, Roham P, Sheikhzadeh K. Cholera
outbreak in southeast of iran: routes of transmission in the
situation of good primary health care services and poor
individual hygienic practices. Jpn J Infect
Dis. 2006 Jun;59(3):174-8.
[2] Acosta CJ, Galindo CM, Kimario J,
Senkoro K, Urassa H, Casals C, Corachan M, Eseko N, Tanner M,
Mshinda H, Lwilla F, Vila J, Alonso PL. Cholera outbreak in
southern Tanzania: risk factors and patterns of transmission.
Emerg Infect Dis. 2001;7(3 Suppl):583-7.
[3] Kelly-Hope LA, Alonso WJ, Thiem VD, Anh DD, Canh do G, Lee
H, Smith DL, Miller MA. Geographical distribution and risk
factors associated with enteric diseases in Vietnam. Am J Trop
Med Hyg. 2007 Apr;76(4):706-12.
[4] Griffith DC, Kelly-Hope LA, Miller MA. Review of reported
cholera outbreaks worldwide, 1995-2005. Am J Trop Med Hyg. 2006
Nov;75(5):973-7.
|