Trái chanh và pḥng chống bệnh tả
Nguyễn Văn Tuấn
Đôi khi phương tiện pḥng chống bệnh nằm
nay trong tầm tay của chúng ta. Trong quá tŕnh truy t́m tài
liệu tham khảo về các yếu tố nguy cơ và biện pháp pḥng chống
bệnh tả tôi “phát hiện” rằng trái chanh có hiệu quả tiêu diệt vi
khuẩn V. cholerae rất hữu hiệu. Nhưng các chỉ dẫn của Bộ Y tế
về pḥng chống bệnh tả không nhắc đến chanh! Bài viết ngắn này
giới thiệu đến các bạn và đồng hương hiệu quả của chanh, một
loại trái cây mà bất cứ ai trong chúng ta cũng từng biết qua.

Năm 1885, nhà sinh vật học người Đức tên Robert Koch khám phá vi
khuẩn Vibrio cholerae (viết tắt là V. cholerae)
chính là thủ phạm gây bệnh tả. Cơ chế gây bệnh của vi khuẩn
tương đối phức tạp, nhưng có thể mô tả ngắn gọn như sau: vi
khuẩn V. cholerae tương tác với các protein sản sinh ra
một độc tế có tên là cholera trong đường ruột để “mở cửa” các
kênh ion và từ đó gây ra t́nh trạng mất nước trong cơ thể. Hệ
quả là bệnh nhân bị tiêu chảy và ói mửa. Một cá nhân phải tiếp
thụ 2 triệu vi khuẩn mới mắc bệnh tả.
Nhưng vi khuẩn V. cholerae có thể sống trên
mặt nước và trong nước giếng trong một thời gian dài, và từ đó
làm ô nhiễm nguồn nước ở qui mô lớn. Hầu hết các trận dịch tả
trên thế giới đều bắt nguồn và lan truyền qua nước. Băo lụt
cũng là một phương tiện lan truyền vi khuẩn đến các vùng xa
hơn. Vi khuẩn c̣n tồn tại trong các loại thực phẩm như cua,
ghẹ, ṣ, trái cây, rau cải, và gạo. Nạn dịch tả xảy ra ở Mĩ vào
thập niên 1970s bắt đầu từ ṣ và cua bị nhiễm vi khuẩn ở Vịnh
Mexico.
Tuy nhiên, vi khuẩn V. cholerae khó sống trong môi trường
axít hay nhiệt độ cao. Vi khuẩn không tồn tại trong điều kiện
pH < 2.4. Chính v́ thế mà không phải ai nhiễm vi khuẩn đều mắc
bệnh, bởi v́ khi vi khuẩn xâm nhập vào bao tử, chúng sẽ bị axít
của bao tử tiêu diệt. Nhưng nếu một cá nhân tiếp thụ nhiều vi
khuẩn (trên 2 triệu), một số sẽ sống sót, xâm nhập vào ruột non,
và có khả năng gây bệnh. Phần lớn trường hợp bệnh tả tương đối
nhẹ, chỉ có khoảng 5% là nặng. Ngày nay với y khoa hiện đại,
bệnh tả có thể điều trị khỏi tương đối nhanh, và không c̣n là
một mối đe dọa nguy hiểm cho con người. Nhưng nếu không điều
trị th́ bệnh có thể gây ra tử vong cho một số trường hợp.
Pḥng bệnh hơn chữa bệnh. Lợi dụng “điểm yếu” của
vi khuẩn V. cholerae (khó sống trong môi trường axít),
các nhà nghiên cứu thí nghiệm sử dụng chanh để tiêu diệt vi
khuẩn, và kết quả rất khả quan. Một loạt nghiên cứu thí nghiệm
cho thấy chỉ cần một hay hai trái chanh có thể dễ dàng tiêu diệt
vi khuẩn trong ṿng vài phút. Trong một thí nghiệm được tiến
hành ở Nam Mĩ, nơi mà người dân hay ăn gạo với xốt (sauce) đậu
phộng, các nhà nghiên cứu cho gạo bị nhiễm vi khuẩn và theo dơi
sự tăng trưởng số vi khuẩn trong một thời gian từ 30 phút đến 24
giờ. Sau đó họ khử trùng bằng 1, 2, và 5 trái chanh, và xem xét
bao nhiêu vi khuẩn tồn tại. Kết quả (Bảng 1). Chỉ cần
sử dụng 1 trái chanh sau 3 giờ (180 phút) không c̣n vi khuẩn nào
tồn tại.
|
Bảng 1. Tăng trưởng của vi khuẩn V. cholerae và
hiệu quả diệt khuẩn của chanh
|
|
Gạo với xốt (sauce) |
Thời gian (phút) |
|
0 |
30 |
180 |
360 |
720 |
1440 |
|
Xốt đậu phộng không có chanh |
15870 |
2269 |
34065 |
>400000 |
>500000 |
>500000 |
|
Xốt đậu phộng + 1 trái chanh |
6258 |
3678 |
0 |
0 |
201 |
0 |
|
Xốt đậu phộng + 2 trái chanh |
3142 |
762 |
0 |
0 |
0 |
0 |
|
Xốt đậu phộng + 5 trái chanh |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
|
Nguồn: Xem tài liệu tham khảo [1]
|
Một thí nghiệm khác trên cá (bị làm cho nhiễm vi
khuẩn V. cholerae) cho thấy chỉ cần khử trùng bằng một
trái chanh, trong ṿng 5 phút, 99,9% số vi khuẩn bị tiêu diệt.
Sau 2 giờ khử trùng, không c̣n một vi khuẩn nào tồn tại [2].
Tương tự, khi bắp cải và rau xà lách được khử (pha trộn) bằng
chanh, trong ṿng 5 phút, không c̣n vi khuẩn tồn tại [3].
Ngoài ra, chanh c̣n có hiệu quả diệt các vi khuẩn
gây tiêu chảy như V. vulnificus, V. mimicus, V.
anguillarum và V. parahemolyticus. Một thí nghiệm từ
Nhật cho thấy khi các vi khuẩn trên cho “tiếp xúc” với chanh
(nồng độ pH = 2.1 đến 2.2), sau 40 phút không một vi khuẩn nào
tồn tại [4].
Nghiên cứu lâm sàng về hiệu quả của chanh ở người
cũng cho thấy chanh có hiệu quả giảm nguy cơ mắc bệnh tả đến
70%-80%. Ngay cả cà chua cũng có thể giảm nguy cơ mắc bệnh đến
57% [1].
Các bằng chứng khoa học trên đây cho thấy một cách nhất quán
rằng chanh có hiệu quả diệt vi khuẩn V. cholerae rất hữu
hiệu. Thế nhưng, ngạc nhiên thay, trong các văn bản chỉ dẫn
pḥng chống bệnh tả mà Bộ Y tế công bố không đề cập đến chanh!
Chanh là một loại trái cây rất phổ biến và thông dụng ở nước
ta. Do đó, các nghiên cứu vừa tŕnh bày cũng có nghĩa là phương
tiện pḥng chống bệnh tả nằm trong tay chúng ta.
Cố nhiên, pḥng chống bệnh tả không chỉ tập trung
vào một yếu tố nguy cơ hay chỉ dựa vào một biện pháp. Các biện
pháp khác như nấu chín thức ăn, uống nước đun sôi, làm sạch
nguồn nước bằng cholorine, rửa tay trước khi bữa ăn hay sau khi
đi tiểu / tiêu, tránh ăn rau cải sống, v.v… cũng là những biện
pháp thực tế mà mỗi gia đ́nh đều có thể thực hiện được. Nhưng
cũng phải thú nhận một thực tế là rất ít người có thể suốt ngày
này sang tháng nọ ăn rau luộc chín. Trong trường hợp (hay đối
với những người vẫn c̣n) “mặn mà” với rau sống (và mắm tôm) th́
trái chanh có thể là một liệu pháp an toàn để pḥng chống vi
khuẩn mà đảm bảo một bữa ăn thú vị.
Chú thích và tài liệu tham khảo:
Phát biểu trên báo chí gần đây,
một quan chức y tế tỏ ra ngạc nhiên rằng bệnh tả xuất hiện ở Hà
Nội. Nhưng thật ra, bệnh tả không phải mới ǵ ở nước ta. Theo
y văn quốc tế (do người Pháp ghi lại), năm 1850, một trận dịch
tả xảy ra ở miền Trung và Nam nước ta làm cho hơn 2 triệu người
mắc bệnh. Năm 1885, một trận dịch lớn khác bộc phát làm cho
nhiều lính Pháp mắc bệnh; và trong số lính mắc bệnh tỉ lệ tử
vong lên đến 50%! Toàn quyền Paul Doumer cũng từng bị chết v́
bệnh tả. Từ năm 1910 đến 1930, trung b́nh mỗi năm có khoảng
5000 đến 30.000 trường hợp dịch tả được ghi nhận. Năm 1961, một
nạn dịch tả lớn bộc phát ở Nam Dương, và vi khuẩn V. cholerae
O1 lan truyền sang đến miền Nam nước ta làm cho 20.009 người mắc
bệnh và 821 người chết. Từ năm 1979 đến 1996, trung b́nh mỗi
năm có khoảng 3000 trường hợp dịch tả được báo cáo (xem Bảng
2). Phần lớn những trường hợp này xảy ra ở miền Trung và
Nam, đặc biệt là các tỉnh phía nam Trung phần như Phan Rang,
Phan Thiết, Nha Trang, v.v… Các yếu tố nguy cơ được ghi nhận qua
các trường hợp này liên quan đến nguồn nước: lượng mưa nhiều,
nước uống thiếu vệ sinh hay bị nhiễm trùng, và thiếu cầu tiêu,
cầu tiểu.
|
Bảng 2. Số trường hợp dịch tả ở Việt
Nam từ 1979 đến 1996 phân chia theo vùng
|
|
Năm |
Số trường hợp mắc bệnh theo vùng |
Tỉ lệ tử vong (%) |
|
Bắc |
Trung |
Nam |
Cao Nguyên |
|
1979 |
0 |
0 |
2017 |
0 |
9,6 |
|
1980 |
1685 |
0 |
6501 |
0 |
5,2 |
|
1981 |
442 |
1613 |
708 |
0 |
3,2 |
|
1982 |
0 |
126 |
1686 |
0 |
3,1 |
|
1983 |
78 |
3571 |
3750 |
0 |
2,0 |
|
1984 |
0 |
114 |
149 |
0 |
1,1 |
|
1985 |
381 |
3271 |
702 |
0 |
1,8 |
|
1986 |
1622 |
3147 |
832 |
0 |
1,2 |
|
1987 |
1018 |
218 |
833 |
0 |
1,1 |
|
1988 |
1389 |
916 |
224 |
12 |
1,6 |
|
1989 |
1 |
0 |
129 |
0 |
0,0 |
|
1990 |
0 |
798 |
1161 |
0 |
0,8 |
|
1991 |
3 |
142 |
0 |
0 |
2,1 |
|
1992 |
12 |
1849 |
649 |
0 |
0,5 |
|
1993 |
0 |
2684 |
776 |
0 |
0,3 |
|
1994 |
216 |
1822 |
626 |
1459 |
1,4 |
|
1995 |
814 |
3494 |
1327 |
453 |
0,7 |
|
1996 |
149 |
324 |
149 |
8 |
0,2 |
|
Nguồn: Xem tài liệu
[5] |
[1] Rodrigues A. Tropical Medicine and
International Health 2000; 6:418-422.
[2] Mata L, et al., Rev Biol Trop.
1994;42:479-85
[3] Rodigues A, et al. Am J Trop Med Hyg.
1997;57:601-4.
[4] Tomotake H, et al. J Nutr Sc Vitaminol
2006;52:157-160.
[5] Daksgaard A, et al. J Clin Microbiol
1999;37(3):734-741. |