Một lần đi phỏng vấn
Nguyễn Văn Tuấn
Thành thật cám
ơn các bạn đă có lời chúc mừng đến tôi nhân việc tôi vừa được cái research
fellowship. Tôi không biết dịch chữ fellowship này ra tiếng Việt như thế nào
cho hợp lí, v́ như các bạn biết, chữ fellow có nhiều nghĩa và chọn nghĩa nào phù
hợp nhất là một khó khăn. Nghĩa thông thường nhất của chữ fellow là bạn, đồng
chí, gă, thằng cha, hay thậm chí c̣n có nghĩa người đi cầu hôn, theo đuổi cô gái
nào đó! C̣n nghĩa trong khoa bảng th́ cũng nhiều: nghiên cứu sinh, thành viên
trong ban giám hiệu (chỉ áp dụng cho Đại học Oxford), thành viên viện nghiên
cứu. Nếu hiểu Australian National Health and Medical Research Council (NHMRC,
Hội đồng nghiên cứu y khoa và y tế quốc gia Úc) là một “viện” th́ nghĩa sau cùng
có lẽ là chính xác nhất.
Có được
research fellowship chẳng làm thay đổi ǵ cả: tôi vẫn là tôi. Có thay đổi chăng
là tôi có “tự do” (tức là không phải lo lắng chuyện “cơm áo gạo tiền”) sống sót
thêm 5 năm nữa trong cuộc cạnh tranh khốc liệt trong nghiên cứu y khoa bên này.
Sự thật là thế, chứ chẳng có ǵ ghê gớm lắm đâu. Tôi chỉ sợ là nếu nói thêm th́
sẽ bị hiểu lầm ykhoa.net trở thành một diễn đàn kiểu vỗ vai khen nhau, mèo khen
mèo dài đuôi, rất ḱ cục. V́ vậy, để tỏ ḷng cám ơn, tôi xin cống hiến cho các
bạn một vài kinh nghiệm trong việc xin research fellowship để các bạn rút kinh
nghiệm sau này.
Nhu cầu cho chương tŕnh
NHMRC fellowship
Nước Úc chỉ
có 20 triệu dân, nên lực lượng nghiên cứu khoa học không hùng hậu như các cường
quốc lớn như Mĩ hay Anh. V́ là nước nhỏ, nên Úc phải biết “liệu cơm gấp mắm”
trong việc tài trợ cho nghiên cứu khoa học, và điều này có nghĩa thực tế là môi
trường cạnh tranh ở Úc gay gắt hơn ở các nước lớn. Đó là chưa nói đến những
tiêu cực, những phe phái, và những ḱ thị tinh vi (kiểu trí thức, khác với ḱ
thị thông thường) đă làm cho bao nhiêu người bất măn bỏ xứ ra đi. Tuy nhiên,
công bằng mà nói, Úc đă đạt được những thành tựu rất đáng tự hào về hoạt động
khoa học trên trường quốc tế, với nhiều người đoạt giải Nobel và lượng báo cáo
khoa học tính trên đầu người c̣n hơn cả Mĩ và một vài nước trong nhóm OECD.
Nhưng đó là là những thành tích của 40 hay 50 năm về trước, c̣n trong thời gian
gần đây th́ t́nh trạng xuống dốc trong các đại học và viện nghiên cứu đă được
báo động nhiều lần. T́nh trạng chảy máu chất xám càng ngày càng trầm trọng,
Ngoài con số hàng ngàn chuyên gia bỏ xứ sang Mĩ và Âu châu làm việc, c̣n có hàng
trăm các nhà khoa học tŕnh độ tiến sĩ, giảng sư, và giáo sư bỏ Úc sang làm việc
tại Mĩ với khả năng hồi hương rất thấp v́ thiếu ngân sách cho nghiên cứu khoa
học và cơ cấu sự nghiệp không rơ ràng. Chẳng riêng ǵ Mĩ, mà ngay cả nước láng
giềng đang lên như Singapore cũng đang chiêu dụ các nhà khoa học Úc sang làm
việc trong các đại học và trung tâm nghiên cứu của họ.
Hệ quả là
hoạt động khoa học của Úc đang xuống cấp rơ ràng. Có người so sánh rằng những
ngành mũi nhọn mà Úc từng đi tiên phong mấy mươi năm về trước nay lại sau Mĩ đến
10-20 năm! Chính phủ ư thức được t́nh trạng khoa học nước họ đang trên đà tụt
hậu, nên năm nay Quốc hội dự trù một ngân sách lên đến 5 tỉ đôla để chấn hưng và
phát triển khoa học. Ngân sách khổng lồ này được dự trù cho 5 năm, với nhiều
chương tŕnh cụ thể như xây dựng cơ sở vật chất, chấn chỉnh đội ngũ nghiên cứu
khoa học, cung cấp học bổng cho nghiên cứu sinh nước ngoài làm nghiên cứu tại
Úc, và cung cấp ngân quĩ cho các nhà khoa học Úc thực hiện các dự án nghiên cứu
ở nước ngoài, nhất là các nước Á châu.
Một trong
những phương cách để chấn hưng và phát triển khoa học là chấn chỉnh lại đội ngũ
nhà khoa học. Chính phủ Úc thiết lập một số chương tŕnh Fellowship (giống như
cấp “học bổng” hay nói đúng ra là lương bổng và chi phí nghiên cứu cho các nhà
khoa học chuyên nghiệp). Các chương tŕnh này bao gồm NHMRC Fellowship chủ yếu
dành cho các nhà khoa học thực nghiệm như y sinh học, ARC Fellowship (Australian
Research Council) chủ yếu dành cho các nhà khoa học tự nhiên, và Australia
Fellowship chủ yếu dành cho việc “chiêu dụ” các nhà khoa học Úc đang ở nước
ngoài, và nhiều chương tŕnh cho các nhà khoa học trẻ.
Cần nói thêm rằng ở
Úc ARC và NHMRC là hai cơ quan có trách nhiệm quản lí ngân sách khoa học. Thật
ra, đây không phải là “cơ quan” đúng nghĩa, mà là một hội đồng khoa học, mà
thành viên là các nhà khoa học trong nước thay nhau đứng ra quản lí và điều
hành. Mỗi năm, chính phủ giao cho hai hội đồng một ngân sách, và việc phân phối
tiền cho các dự án nghiên cứu được tiến hành theo những qui tŕnh được cộng đồng
khoa học nhất trí. Do đó, chương tŕnh fellowship cũng do hai hội đồng này quản
lí. Chính phủ hoàn toàn không can thiệp vào quyết định của hai hội đồng này.
Tuy không can thiệp, nhưng khi bổ nhiệm fellowship th́ ông bộ trưởng dành quyền
… kí tên! Phía chính phủ họ lí giải rằng có chữ kí của bộ trưởng th́ mới nâng
cao uy thế và danh giá của fellowship, nhưng các nhà khoa học th́ không chắc về
lí giải này mấy v́ họ nghi là bộ trưởng chỉ … kiếm phiếu mà thôi.
Chương tŕnh
NHMRC fellowship này nhắm vào 5 mục tiêu chính như sau: Thứ nhất là khuếch
trương và nuôi dưỡng một đội ngũ khoa học gia ưu tú cho Úc. Thứ hai là đảm bảo
các nhà khoa học này một sự nghiệp vững vàng (tức họ không phải lo chuyện “cơm
áo gạo tiền”. Nên nhớ rằng tất cả các nhà khoa học đều phải kí hợp đồng hàng
năm với cơ quan chủ quản, và cái hợp đồng này là cọng dây thừng lơ lửng để nhà
khoa học phải làm việc hết ḿnh). Thứ ba là xây dựng một môi trường tri thức và
cơ sở vật chất để huấn luyện thế hệ khoa học gia trẻ. Thứ tư là khuyến khích
việc chuyển giao công nghệ và ứng dụng các thành tựu nghiên cứu vào thực hành
lâm sàng, hoạt động sản xuất, và qua đó nâng cao tính cạnh tranh của Úc. Thứ
năm là khuyến khích và tạo điều kiện để các nhà khoa học có những mối tương tác
với các cơ quan chính phủ và công ti kĩ nghệ. Nói tóm lại, mục tiêu chính của
chương tŕnh fellowship là nhắm vào việc xây dựng một đội ngũ khoa học gia loại
“hoa tiêu” cho Úc để nâng cao tính cạnh tranh của Úc trên trường quốc tế.
Cụm từ “nhà
khoa học ưu tú” không phải dễ định nghĩa và cũng chẳng ai qui định trên giấy
trắng mực đen như thế nào, nhưng qua trao đổi cá nhân với nhau, các hội đồng
thẩm định đều nhất trí rằng nhà khoa học ưu tú là người đứng trong nhóm “top 5%”
hay “top 10%” trong một lĩnh vực chuyên môn ở b́nh diện quốc tế (chứ không phải
quốc gia). Xuất phát từ định nghĩa bất thành văn này, NHMRC đề ra những tiêu
chuẩn chung và cụ thể cho fellow. Các tiêu chuẩn chung nhấn mạnh đến năng suất
khoa học, khả năng lănh đạo, đóng góp cho chuyên ngành ở b́nh diện quốc tế, huấn
luyện và đào tạo các thế hệ nhà khoa học trẻ, và hợp tác quốc tế. Các tiêu
chuẩn cụ thể bao gồm số lượng ấn phẩm khoa học (tức bài báo nghiên cứu khoa học,
sách chuyên môn, tất nhiên là không kể đến những bài báo trong hội nghị), chất
lượng các công tŕnh nghiên cứu, giải thưởng quốc tế, có hoạt động tích cực
trong các hội đoàn quốc tế, có đóng góp vào việc phát triển chuyên ngành qua các
hoạt động trong ban biên tập tập san chuyên môn, v.v…
Vấn đề đặt
ra là tuyển dụng những nhà khoa học ưu tú này từ đâu? Nguồn thứ nhất là từ các
giáo sư đang công tác tại đại học và viện nghiên cứu của Úc. Tất nhiên, cũng có
thể tuyển từ nước ngoài, đặc biệt là Mĩ và Âu châu. Mỗi năm, NHMRC gửi thông
báo đến những nơi vừa kể để mời các giáo sư và giảng sư đệ đơn xin làm fellow
của NHMRC. Người được bổ nhiệm các chức danh này có quyền (hay vinh dự) đề cụm
từ “NHMRC research fellow” trước tên ḿnh.
Được bổ
nhiệm NHMRC fellow, do đó, không chỉ là một vinh dự cho cá nhân nhà khoa học, mà
c̣n là một niềm hănh diện của trường đại học nơi ứng viên công tác. Thật ra,
đối với trường đại học họ “rảnh tay” và tiết kiệm một số tiền khá lớn, v́ họ
không phải trả lương cho nhà khoa học khi nhà khoa học đă được bổ nhiệm NHMRC
fellow! C̣n đối với nhà khoa học, họ không phải kí hợp đồng mỗi năm với trường
đại học, v́ mỗi fellowship được chính phủ nuôi dưỡng đến 5 năm. Nói tóm lại, cả
đôi bên – đại học và nhà khoa học – đều có lợi! V́ Nhà nước phải chi ra một số
tiền khá lớn để “nuôi” mấy ông bà fellows này ((hiện nay, toàn nước Úc có khoảng
300 research fellows, và mỗi fellow như vậy họ phải trả trung b́nh là 150.000
đôla một năm), nên họ phải đặt ra những tiêu chuẩn đặc biệt (hay khó khăn) để
đảm bảo rằng đầu tư của họ không lăng phí.
Qui tŕnh b́nh duyệt (phản
biện)
Nói chung
qui tŕnh xét duyệt đơn fellowship cũng không khác ǵ qui tŕnh xét đơn tài trợ,
tức phải qua b́nh duyệt (hay nói theo ngôn ngữ trong nước là “phản biện”).
Trong qui tŕnh này, tờ đơn fellowship đóng một vai tṛ cực ḱ quan trọng. Cũng
như bất cứ chương tŕnh nào đem lại lợi ích cũng kèm theo những điều kiện và khó
khăn. Đó là những khó khăn, hay có thể nói là rất khó khăn, trong quá tŕnh
chuẩn bị đơn fellowship. Cái khó khăn không chỉ v́ những qui định bất di bất
dịch về số chữ, số trang, nhưng ở chỗ ứng viên phải đi ngược về quá khứ cả hai
mươi năm về trước để t́m những chi tiết về các công tŕnh nghiên cứu ḿnh từng
làm, để thống kê hết những chỉ số liên quan đến những ấn phẩm khoa học. V́ quá
chi tiết như thế, đối với nhiều người, soạn thảo một đơn xin fellow của NHMRC là
một cơn ác mộng (nightmare).
Do đó, việc
chuẩn bị đơn rất công phu và tốn đến 2-3 tháng trời. Trung b́nh một đơn xin làm
fellow của NHMRC dài khoảng 100 trang. Trong đơn, ngoài những chi tiết cá nhân,
ứng viên c̣n phải liệt kê tất cả những ấn phẩm khoa học (không tính những bài
báo trong hội nghị khoa học) đă công bố, hệ số ảnh hưởng của tập san (impact
factor) là bao nhiêu, số lần trích dẫn bao nhiêu, và trong trường hợp bài báo có
nhiều tác giả, ứng viên phải nêu rơ vai tṛ của ḿnh trong bài báo là ǵ. Ngoài
phần ấn phẩm khoa học, ứng viên c̣n phải liệt kê tất cả những lần được các hội
nghị khoa học nước ngoài mời giảng, nói chuyện, hay chủ tọa; giải thưởng cấp
quốc gia và quốc tế, hoạt động ǵ trong các hội đoàn khoa học quốc tế; đóng vai
tṛ ǵ trong b́nh duyệt bài báo hay tham gia ban biên tập tập san nào, ở đâu,
chỉ số ảnh hưởng ra sao; đào tạo bao nhiêu thạc sĩ và tiến sĩ (không kể cử
nhân); đào tạo bao nhiêu hậu tiến sĩ; thành tích thu hút tài trợ từ nước ngoài
và trong nước ra sao; có đóng góp ǵ cho chính sách khoa học quốc gia và quốc
tế; có đóng góp ǵ cho cộng đồng và quần chúng; v.v…
Trường hợp của tôi,
đơn fellowship được chuẩn bị kĩ càng (v́ tôi đă có kinh nghiệm) ngay từ những
tuần nghỉ hè ở Bệnh viện Kiên Giang. Đơn của tôi được 3 đồng nghiệp đọc kĩ và
góp nhiều ư thẳng thắn nhưng rất có ích. Phải nói rằng các đồng nghiệp này rất
tận t́nh giúp đỡ, chỉ ra những lỗ hổng trong đơn, những “điểm nhấn” cần chú
trọng, cách tŕnh bày, thậm chí những sai sót chính tả. Không có họ, tôi không
thể nào có một đơn hoàn chỉnh được. Cần nói thêm rằng, mẫu đơn của NHMRC cực ḱ
máy móc, chứ không phải “tự do” viết ǵ th́ viết. Chẳng hạn như có chỗ họ qui
định chỉ mô tả trong ṿng một trang với kiểu chữ Times New Roman 12, nếu không
tuân theo qui định này th́ họ sẽ tự động trả lại đơn và chờ đến năm sau nộp!
Không có ngoại lệ. Và, cũng không phân biệt ứng viên là ai. Thành ra, nếu
không có đồng nghiệp đọc và góp ư, tôi nghĩ khó mà có một đơn fellowship hoàn
chỉnh được.
Tất cả các
tiêu chuẩn và qui tŕnh duyệt đơn đều được công bố rơ ràng trên mạng. Theo qui
tŕnh này, khi nhận được đơn, NHMRC sẽ thành lập một số ủy ban chuyên ngành để
duyệt đơn. Mỗi ủy ban có 6 thành viên, được tuyển chọn từ các nhà khoa học.
Thông thường những thành viên này là những người đă được bổ nhiệm fellow của
NHMRC, nhưng cũng có khi chính những thành viên này cũng là những người đang đệ
đơn xin chức fellow. Như đề cập trên, chính sách của chính phủ Úc là các quan
chức nhà nước không can thiệp vào qui tŕnh bổ nhiệm; tất cả việc bổ nhiệm và
điều hành ngân quĩ đều do chính các nhà khoa học cùng nhau thực hiện theo các
qui tắc đă được cộng đồng khoa học chấp thuận.
Nhiệm vụ
chính của các ủy ban này là tuyển duyệt các đơn và thực hiện cuộc phỏng vấn.
Khi nhận được đơn từ các ứng viên, ủy ban sẽ gửi đơn đến 4 chuyên gia (trong số
này phải có 2 chuyên gia từ nước ngoài) để b́nh duyệt. Cũng như phản biện một
bài báo khoa học hay đơn xin tài trợ nghiên cứu, ứng viên sẽ không biết các
chuyên gia này là ai. Ứng viên có quyền đề cử chuyên gia b́nh duyệt và phải nêu
lí do. Những người từng đứng tên tác giả với ứng viên trong các ấn phẩm khoa
học hay những người có quan hệ mật thiết (như thầy / cô cũ) sẽ không có tư cách
để b́nh duyệt đơn. Ứng viên cũng có quyền liệt kê các chuyên gia mà ứng viên
không muốn họ duyệt đơn ḿnh và phải nêu lí do. Tuy nhiên, rất ít khi nào
ủy ban gửi đơn cho các chuyên gia mà ứng viên đề cử, v́ họ thừa biết các chuyên
gia này là bạn bè hay đồng nghiệp thân cận với ứng viên, nên chắc chắn họ sẽ có
những ư kiến thiếu khách quan. Đôi khi (rất hiếm), ủy ban lại gửi đơn cho chính
chuyên gia mà ứng viên đề nghị không nên duyệt đơn!
Dựa vào đề
nghị của 4 báo cáo b́nh duyệt, ủy ban sẽ loại những ứng viên không đủ tiêu
chuẩn, và chọn những ứng viên có triển vọng để phỏng vấn. Thông thường, số ứng
viên bị loại bỏ trong ṿng một này là 70-80%, tức chỉ có 20-30% được mời phỏng
vấn (hay vào ṿng hai). Cuộc phỏng vấn rất quan trọng, v́ nó có thể đem lại
thành công hay thất bại cho ứng viên. Có thể xem cuộc phỏng vấn là một cơ chế
để sàng lọc ứng viên. Nên nhớ rằng, tất cả các ứng viên được mời phỏng vấn đều
là những người đă đạt tiêu chuẩn fellow, nhưng đơn giản v́ NHMRC không đủ ngân
sách cho tất cả ứng viên, nên họ phải sử dụng cuộc phỏng vấn để … loại bớt ứng
viên sao cho vừa đủ ngân sách.
Nếu ứng viên được
bổ nhiệm là NHMRC fellow, tùy theo cấp bậc, ứng viên sẽ được cung cấp một ngân
sách chủ yếu là lương bổng trong ṿng 5 năm. Ứng viên có thể chọn bất cứ đại
học hay trung tâm nghiên cứu nào để nghiên cứu. Nói cách khác, với một NHMRC
fellowship trong tay, ứng viên bây giờ là người chọn đại học, chứ không phải đại
học chọn ứng viên. V́ số tiền khá lớn và kéo dài đến 5 năm, cho nên ủy ban b́nh
duyệt xem đây là một sự đầu tư tri thức, hay một cuộc đánh bạc. Mà, đă là đầu
tư, th́ họ phải cẩn thận xem xét khả năng đầu tư sẽ đem lại tối đa lợi ích.
Chính v́ thế mà họ phải xét đến thành tựu trong quá khứ, hiện tại và tương lai
của ứng viên. Những thông tin trong đơn cũng chưa đủ, nên họ cần phải trực tiếp
phỏng vấn ứng viên để xác định và xác minh các thông tin, cũng như tư cách của
ứng viên xem có xứng đáng với chức danh hay không. Do đó, cuộc phỏng vấn đóng
vai tṛ rất quan trọng, v́ kết quả phỏng vấn có thể là yếu tố chính quyết định
sự thành bại của ứng viên.
Phỏng vấn
Năm năm
trước tôi đă từng trải qua một lần phỏng vấn, và lần đó tôi thất bại. Tất
nhiên, một lần thất bại là một kinh nghiệm chẳng mấy ǵ vui, nếu không muốn nói
là rất “đau”. Đau chẳng phải v́ mất việc làm (chẳng có ứng viên nào mất việc,
v́ họ đều là những giáo sư hay tiến sĩ cả) nhưng v́ một lần thất bại như thế làm
tổn thương đến danh dự và niềm tự hào của họ, nhất là đối với những giáo sư cao
tuổi và có tiếng trên trường quốc tế (giáo sư nào mà không có tự hào). Nên nhớ
rằng hầu hết các ứng viên đều là những giáo sư, có nhiều người là chủ nhiệm một
bộ môn, lănh đạo một nhóm nghiên cứu, thậm chí có người là viện trưởng viện
nghiên cứu, v.v… Riêng tôi th́ phải nói là có “đau”, nhưng chẳng thấy tổn
thương ǵ cả v́ tôi không mang trong người cái “tôi” quá lớn như nhiều đồng
nghiệp khác. Có lẽ lớn lên với câu nói của ông bà “thua keo này, bày keo khác”,
nên tôi vẫn kiên tŕ theo đuổi mục tiêu “lấy” cho được cái NHMRC fellow. Sau khi
chuẩn bị cẩn thận cả 5 năm trời, lần này tôi quyết định đệ đơn xin chức fellow
của NHMRC. Sau 4 tháng chờ mong b́nh duyệt, tôi nhận được thư mời đi phỏng vấn,
kèm theo một vé máy bay. (Hội đồng NHMRC sẵn sàng trả vé máy bay và khách sạn
để phỏng vấn ứng viên ở xa).
Năm nay,
ngoài tôi ra, trường tôi có một số ứng viên khác cũng được mời phỏng vấn. Được
tin này và rút kinh nghiệm từ mấy năm trước, trường đại học chuẩn bị cho “gà
nhà” rất cẩn thận. V́ có liên quan đến danh dự của trường, cho nên trường đại
học rất quan tâm và hết ḷng giúp đỡ chúng tôi. Trước hết, trường mời một
chuyên gia về truyền thông (communication) đến giảng cho chúng tôi về những kĩ
thuật, kĩ năng trong việc trả lời phỏng vấn, thậm chí cách thức, điệu bộ trong
khi phỏng vấn. Sau đó, trường cho mời một NHMRC fellow đến nói về kinh nghiệm
của ông sau các cuộc phỏng vấn, và trực tiếp hướng dẫn chúng tôi cách trả lời
những câu hỏi cụ thể. Sau cùng, trường tổ chức những cuộc phỏng vấn diễn tập
(rehearsal interview) cho từng ứng viên. Nói là “diễn tập”, nhưng cách thức họ
làm hoàn toàn giống như một cuộc phỏng vấn thật! Qua những diễn tập này, chúng
tôi học rất nhiều kinh nghiệm, có người thậm chí c̣n viết ra hàng chục câu hỏi
khả dĩ và … học thuộc ḷng cách trả lời! Trước khi đi phỏng vấn, hiệu trưởng
đại học c̣n gửi cho chúng tôi mỗi người một email với lời chúc may mắn!
Qua nhiều
tuần chờ đợi, ngày phỏng vấn thật cũng đến. Dậy sớm từ 4 giờ sáng và ôn bài.
Trên đường lái xe ra phi trường trong lúc cả thành phố c̣n ngủ, tôi không cách
nào xua đuổi được những câu hỏi sẽ gặp phải trong ḱ phỏng vấn này. Thật là
khổ! Tôi đón chuyến bay sớm nhất để đến Thành phố Melbourne. Buổi sáng ở phi
trường Melbourne nhộn nhịp làm sao. H́nh như ai cũng quá bận bịu với công việc
của họ, chẳng ai quan tâm đến một kẻ đang đau khổ như tôi! Trên đường từ phi
trường về khách sạn (lần này, NHMRC tổ chức phỏng vấn tại một khách sạn 5 sao),
tôi t́m cách bắt chuyện với anh tài xế taxi để t́m cách quên một cuộc “chiến
đấu” sắp đến. Anh tài xế taxi tử tế chia tay tôi với câu nói đầy t́nh cảm: “Tôi
thành thật chúc giáo sư may mắn và hi vọng ông sẽ thành công”. Tôi cám ơn anh
và thầm nhủ ḷng có ai muốn thất bại đâu, nhưng cuộc đời này thành bại là chuyện
thường t́nh mà!
Tôi vẫn c̣n
sớm 45 phút. Nhân viên tiếp tân của NHMRC mời tôi chờ trong đại sảnh với các
ứng viên khác. Chỉ có 3 ứng viên người Á châu, c̣n lại là dân “Tây” cả. Pḥng
chờ rất tiện nghi, với các điểm truy cập internet, cà phê, trà, thức ăn sáng,
báo chí, tivi, v.v… Tôi để ư thấy chẳng ai xem tivi hay đọc báo cả; ai cũng
chăm chú đọc tài liệu, mà tôi đoán là các bài phỏng vấn mẫu hay đang … ôn bài.
Nhiều người trẻ tỏ ra bồn chồn, dù vẫn cố giữ trên mặt một nụ cười tươi. Cũng
có những vị tóc bạc trắng đang chăm chú nh́n vào màn ảnh máy tính với vẻ nghiêm
nghị thường ngày của các sếp. Tôi bắt chuyện với một đồng nghiệp cỡ tuổi tôi,
đến từ Nam Úc, và được biết đây là lần phỏng vấn thứ 3 của anh, nhưng anh thú
thật là vẫn thấy hồi hộp. Riêng tôi th́ không thấy hồi hộp ǵ cả, v́ đă qua một
lần phỏng vấn, và tôi cũng từng phỏng vấn người khác. Hơn thế nữa, lần này tôi
được các chuyên gia “tập huấn” quá kĩ càng, và trước khi đi phỏng vấn, tôi đă
t́m hiểu về 6 thành viên trong ủy ban phỏng vấn, xem qua thành tích khoa học của
họ, kể cả những bài báo và tập san họ công bố, và thấy ḿnh tự tin hơn. Có được
sự tự tin này cũng quan trọng trong việc đương đầu với thành viên của ủy ban
phỏng vấn.
Tôi bắt
chuyện một ứng viên khác từ Sydney, đang giữ chức giáo sư y khoa ở Đại học
Sydney, và được biết nhiều chuyện bi hài trong phỏng vấn mà anh từng trải qua
với tư cách là thành viên trong ủy ban phỏng vấn. Chẳng hạn như có một cuộc
phỏng vấn hi hữu, mà trong đó ứng viên là một giáo sư 68 tuổi, một tên tuổi lớn
(hay nói theo ngôn ngữ ta là thuộc vào hàng “cây đa cây đề”). Cuộc phỏng vấn
trôi chảy, đến khi một thành viên trong ủy ban hỏi nửa đùa nửa thật rằng bao giờ
th́ ông định về hưu. Ông ứng viên giáo sư nổi nóng, tay đập mạnh xuống bàn một
cái “rầm”, ông đứng lên chỉ tay vào vị đặt câu hỏi và giận dữ quát: “Tại sao
ông dám hỏi tôi câu đó? Ai cho phép ông hỏi câu đó? Ông có biết phân biệt tuổi
tác là bất hợp pháp không? Ông muốn về hưu th́ cứ về, đứng có hỏi tôi bao giờ
về hưu, nghe chưa? Đó là một sự xúc phạm! Ông nợ tôi một lời xin lỗi. Trời
ơi! Nếu không có ǵ để hỏi tiếp th́ tôi sẽ bước ra khỏi pḥng này. Tôi c̣n
nhiều việc phải làm.” Vị thành viên đặt câu hỏi xúc phạm đó tái mặt, ủy ban
im lặng cả phút đến khi vị chủ tọa chính thức xin lỗi, ông ứng viên mới chịu
ngồi xuống. Ấy thế mà ông giáo sư đó được bổ nhiệm chức NHMRC fellow. Câu
chuyện cho thấy ủy ban tuyển dụng không quan tâm đến vấn đề xung đột cá nhân, và
họ hoàn toàn công minh.
Đang vui vẻ
với câu chuyện tôi gần quên giờ ḿnh sắp được phỏng vấn! Người đến mời tôi vào
phỏng vấn là một giáo sư tên GL ở Melbourne. Tôi nhận ra ngay v́ trước khi
phỏng vấn, NHMRC công bố danh sách, h́nh ảnh, nơi công tác và chuyên môn của 6
thành viên trong ủy ban phỏng vấn. Giáo sư GL tự giới thiệu, thân mật bắt tay
tôi, và hướng dẫn tôi vào pḥng họp. Trên đường đi, anh ta nói đùa chuyện thời
tiết, chuyện bầu cử liên bang sắp tới, hoàn toàn không đă động ǵ đến chuyện tôi
sắp đối phó.
Pḥng phỏng
vấn khá rộng, được bố trí một cách ấm cúng. Đèn “downlight” với ánh sáng vừa
phải, máy sưởi đang chạy (Úc đang vào mùa đông), và trên bàn được bày biện các
loại nước uống (tất nhiên là không có rượu bia). Cách họ bố trí bàn ghế cũng
đáng ghi nhận ở đây. Tôi được bố trí ngồi một bàn riêng; đối diện tôi là bàn
của vị chủ tọa cuộc phỏng vấn (tức là chair), hai bên là bàn của các thành viên,
trong đó có một người là phát ngôn viên (spokesperson) của cuộc phỏng vấn. Phía
góc trái của pḥng là một người thư kí với máy tính cầm tay và máy thu âm.
Nhiệm vụ của người thư kí này là thu âm lại tất cả những trao đổi trong cuộc
phỏng vấn, để pḥng sau này nếu có người khiếu nại th́ họ sẽ có bằng chứng để
giải quyết thỏa đáng và công bằng cho đôi bên.
Sau khi mời
ngồi và tự giới thiệu, người phát ngôn nói qua về các qui định trong cuộc phỏng
vấn. Theo các qui định này, cuộc phỏng vấn chỉ diễn ra đúng 30 phút (tuy trong
thực tế có khi dài hơn khoảng 5 phút là tối đa); ứng viên (tức là tôi) có quyền
phản đối câu hỏi, nhưng không có quyền căi lại với ủy ban (v́ họ không có th́
giờ đễ tranh luận); ứng viên phải trả lời ngắn gọn, đi thẳng vào vấn đề, không
nên dài ḍng lí giải hay biện minh; ứng viên có 5 phút để hỏi ủy ban về những
vấn đề ḿnh quan tâm; v.v… Tôi để ư thấy mỗi người đều có một chồng khá dầy về
hồ sơ của tôi với những tờ giấy vàng, đỏ, xanh khắp nơi, mà tôi đoán có lẽ họ
đang “chấm” đơn ḿnh đâu đó hay vấn đề ǵ đó.
Mở đầu cuộc
phỏng vấn, giáo sư chủ tọa yêu cầu tôi tŕnh bày lí do tại sao tôi đệ đơn xin bổ
nhiệm NHMRC fellow, và ông c̣n nói thêm rằng tôi chỉ có 2 phút để tŕnh bày câu
chuyện của ḿnh! Theo kinh nghiệm cá nhân và của nhiều người khác, đây là “câu
hỏi” không có câu trả lời, và họ muốn đánh giá cách tôi tŕnh bày ư tưởng có
mạch lạc, khúc chiết, và hệ thống không. V́ biết rằng họ muốn đánh giá xem tôi
có đáp ứng các tiêu chuẩn của một NHMRC fellow hay không, nên tôi phải sử dụng 2
phút này để tŕnh bày trường hợp của ḿnh hoàn toàn phù hợp với các mục tiêu mà
chương tŕnh fellowship đă đề ra.
Theo sau câu
hỏi đó, là hàng loạt câu hỏi từ các giáo sư thành viên trong ủy ban phỏng vấn.
Vị giáo sư chủ tọa chăm chú nh́n tôi, đôi khi khoanh tay nh́n tôi trả lời với
ánh mắt cười thân thiện (chắc là đang thông cảm cho tôi chăng), và thỉnh thoảng
ghi xuống giấy điều ǵ đó. Tôi thấy ông thường xuyên nh́n xuống đồng hồ một
cách kín đáo, như để kiểm tra xem tôi có quá giờ hay không. Họ hỏi tôi những
câu hỏi như sau:
- Nói cho chúng tôi nghe
3 công tŕnh tiêu biểu của ông đă làm thay đổi hay khác biệt (made a
difference) trong chuyên ngành. Ông có 2 phút để nói!
- Những bài xă luận và
review này là do ông tự nguyện viết hay tập san mời ông viết? Ông có bằng
chứng nào cho chúng tôi thấy là họ mời ông viết không?
- Các nhóm nào trên thế
giới đang là đối thủ cạnh tranh của ông, và ông đánh giá khả năng cạnh tranh
của ông trên trường quốc tế ra sao?
- So với những người làm
trong ngành loăng xương của ông trên thế giới, ông có biệt tài ǵ hay kĩ
năng ǵ đặc biệt để đảm bảo tính độc nhất vô nhị trong các công tŕnh của
ông?
- Nếu tự đánh giá, ông có
thể cho chúng tôi biết ông đứng vào hạng nào trên thế giới trong chuyên
ngành của ông?
- Ông có nghĩ rằng chất
lượng các ấn phẩm khoa học của ông đáp ứng yêu cầu của một NHMRC fellow
không? Tại sao?
- Ông có kế hoạch ǵ để
nâng cao năng suất khoa học hay chất lượng nghiên cứu trong tương lai?
- Chiến lược trong 5 năm
tới trong việc đào tạo của ông là ǵ?
- Ông có kế hoạch nào
khác để nâng cao tài trợ cho nghiên cứu không?
- Nói cho chúng tôi nghe
về hoạt động của ông trong các hiệp hội khoa học quốc tế!
- Ông phục vụ trong nhiều
ban biên tập, vậy thời gian đâu để làm nghiên cứu? Nếu chúng tôi nói “Ông
chẳng làm ǵ cả, phần lớn là nghiên cứu sinh làm và ông chỉ đứng tên” như
thế có công bằng không?
- Trong các hội nghị ở
nước ngoài mà ông tham dự với tư cách người nói chuyện hay khách mời, ai trả
chi phí cho ông?
- Quan hệ giữa ông và các
công ti dược như thế nào?
- Tại sao chúng tôi phải
cung cấp tài trợ và bổ nhiệm ông vào chức vụ NHMRC fellow, khi ông đang giữ
chức giáo sư ở trường ông?
- Tại sao ông giúp Việt
Nam? Có công bằng không nếu chúng tôi cung cấp tiền fellowship cho ông để
ông đi giúp cho Việt Nam?
- Nghiên cứu của ông đem
lại lợi ích ǵ cho y học và khoa học của Úc?
- Ông có đóng góp ǵ vào
chính sách khoa học của Úc hay nước ngoài?
Nói chung,
những câu hỏi không khó trả lời và đều nằm trong dự kiến của tôi. Thật ra, tôi
đă chuẩn bị cho những câu hỏi khó hơn, gai góc hơn về tài trợ, nhưng may mắn
thay họ không hỏi. Vấn đề tài trợ rất quan trọng v́ nó liên quan đến vận mệnh
của một nhóm nghiên cứu. Nếu liên tiếp mất tài trợ cho nghiên cứu, nhóm của tôi
có thể bị xóa bỏ trên bản đồ khoa học thế giới, sẽ có người mất việc, và chính
tôi cũng có thể mất việc v́ không có tiền để trả lương cho nhân viên, và không
có ai sẽ đứng ra điều hành các dự án của nghiên cứu sinh. Chính v́ thế mà hiện
nay, một phần lớn thời gian của những người như tôi tiêu ra viết đơn xin tài
trợ, chứ trực tiếp làm nghiên cứu rất ít. Đó là chưa kể mỗi năm phải kí hợp
đồng với viện nghiên cứu và trường đại học. Nếu trong năm, nhóm của tôi không
làm ra “sản phẩm” (tức là bài báo khoa học hay bằng sáng chế), đến khi kí hợp
đồng sẽ bị “hỏi thăm” ngay, và nếu trong ṿng 2 năm mà vẫn không có sản phẩm th́
họ sẽ không kí tiếp hợp đồng và nhiều rắc rối sẽ xảy ra sau đó. Nói chung áp
lực tài trợ và ấn phẩm khoa học lúc nào cũng đè nặng lên vai người đứng đầu nhóm
nghiên cứu. Hai áp lực này biến một giáo sư đứng đầu nhóm thành một doanh nhân
khoa học, và nhóm nghiên cứu thành một đơn vị kinh doanh tri thức nhỏ.
Tôi từng
biết trong quá khứ, họ có thể xoáy mạnh vào phần ấn phẩm khoa học với những câu
hỏi rất “trực tiếp” như “chúng tôi thấy thành tích khoa học của ông mơng quá,
ông nghĩ sao?”, hay “với chất lượng tập san như thế này, ông nghĩ là ḿnh
xứng đáng với chức danh NHMRC fellow không?”, hay “t́nh trạng tài trợ
nghiên cứu của ông c̣n quá kém và có thể trong tương lai ông sẽ mất tài trợ, vậy
nếu chúng tôi cho ông cái fellowship này, ông đâu có chuyện ǵ để làm, phải
không?”, hay “trong vài năm gần đây ông công bố ít bài báo, vậy ông có
bằng chứng nào để đảm bảo ông sẽ nâng cao năng suất trong mấy năm tới?”
Trong trường hợp tôi, họ không hỏi tôi những câu như thế. Tôi đoán lí do họ
không tập trung vào điểm này v́ đó là “điểm mạnh” của tôi. Có lẽ họ thấy không
thể “tấn công” tôi ở điểm này nên họ t́m cách làm cho rơ vị trí quốc tế của
tôi. Riêng hai câu hỏi về Việt Nam tôi thiếu chuẩn bị, và hơi chút lúng túng
khi trả lời. Đến câu thứ hai về chuyện “công bằng” th́ máu trong tôi bắt đầu
nóng lên, và định “phản công” dữ dội, nhưng vị giáo sư chủ tọa đă kịp nhắc tôi:
“Giáo sư Nguyễn, ông chỉ trả lời hay phản đối câu hỏi, ông không có quyền hỏi
lại ủy ban!” Họ không xoáy thêm vào khía cạnh này.
Về thái độ,
tôi đă được cảnh báo nhiều lần rằng, trong cuộc phỏng vấn, người ta sẽ rất thẳng
thắn, và những khái niệm như lịch sự hay sỉ diện sẽ không có trong pḥng phỏng
vấn. Nói cho cùng, nhiệm vụ của ủy ban là t́m lí do để … loại bỏ ứng viên để
đạt chỉ tiêu ngân sách do chính phủ đề ra. Tuy nhiên, lần này tôi thấy ngược
lại: các thành viên trong ủy ban phỏng vấn rất thân thiện, lịch sự và lúc nào
cũng cố gắng tạo ra một không khí ḥa nhă, thân thiện với ứng viên. Có lẽ tùy
thuộc vào cá tính của các thành viên trong ủy ban. Cũng có lẽ các thành viên
trong ủy ban biết vị trí của ḿnh trong mối tương quan với vị trí của ứng viên
(tức là tôi) nên họ hành xử khác chăng? Tôi không biết, nhưng ngay cả những câu
hỏi có thể xem là “tế nhị”, họ cũng sử dụng từ ngữ rất nhẹ nhàng, và nhất là cái
“body language” (ngôn ngữ cơ thể) làm cho “cường độ tấn công” của câu hỏi giảm
đi rất nhiều. Điều tôi chú ư trong lần phỏng vấn này là họ không trực tiếp phê
b́nh về ứng viên, mà họ lại để cho ứng viên tự đánh giá ḿnh. Chẳng hạn như
trong lần phỏng vấn 5 năm về trước, họ hỏi tôi rằng “Ông công bố rất nhiều
bài báo, nhưng có phải thật sự ông là người chủ tŕ các công tŕnh đó hay chỉ là
người tham gia công tŕnh”, nhưng lần này, họ không hề đă động đến các ấn
phẩm khoa học và vai tṛ của tôi, mà chỉ hỏi tôi tự đánh giá chất lượng ra sao.
Có lẽ họ muốn chính ḿnh nói ra, và sử dụng phát biểu của ḿnh để đánh giá ḿnh
theo cái nh́n của họ.
Theo thống kê, mỗi
năm NHMRC nhận được khoảng 2000 đơn, nhưng chỉ có 500 ứng viên loạt vào ṿng 2
(phỏng vấn). Sau khi phỏng vấn, chỉ có 50 đến 100 ứng viên (tùy theo ngân sách
trong năm và tùy theo chương tŕnh) được bổ nhiệm làm NHMRC fellow. Tuy con số
không nhiều, nhưng nó cũng tốn chính phủ từ 50 triệu đến 100 triệu đôla, một số
tiền rất lớn. Tất nhiên, những người phụ trách điều hành NHMRC phải nói rằng
nếu ứng viên không được bổ nhiệm th́ điều đó không có nghĩa là ứng viên không
thuộc vào hàng ưu tú. Nhưng có mấy ai nghe lời giải thích (mang chút an ủi)
này! Trong thực tế, sự thất bại chẳng làm thay đổi công việc hay vị thế của ứng
viên, v́ họ vẫn là giáo sư, vẫn là những người lănh đạo một nhóm nghiên cứu, vẫn
hoạt động b́nh thường; có khác chăng là họ không được -- hay thất bại trong phấn
đấu để được -- “kết nạp” vào câu lạc bộ các nhà khoa học ưu tú.
Hoạt động khoa học
ở Úc mang tính cạnh tranh rất cao. V́ là nước nhỏ, cho nên việc cạnh tranh c̣n
gay gắt hơn các nước lớn như Mĩ hay Anh. Nhưng là người sinh đẻ và trưởng thành
từ nước ngoài như Việt Nam, sự cạnh tranh để được công nhận c̣n có phần cao hơn
so với các ứng viên người bản xứ. Nói cách khác, để bằng người bản xứ, ứng viên
người nước ngoài phải cao hơn họ ít nhất là một “cái đầu”. Tôi vẫn tự an ủi
rằng điều đó ḿnh phải chấp nhận thôi, v́ đây đâu phải là xứ sở của ḿnh, và nếu
họ có làm khó ḿnh th́ cũng có thể hiểu được.
Nh́n người lại nghĩ đến ta
T́nh h́nh hoạt
động khoa học ở nước ta trong những năm gần đây bắt đầu có nhiều chuyển biến
tích cực. Các bộ liên quan đến hoạt động khoa học đă bắt đầu áp dụng những
chuẩn mực quốc tế để trong việc đào tạo tiến sĩ và đánh giá năng suất của các
nhà khoa học. Nhưng cách tổ chức các hoạt động khoa học ở nước ta, theo tôi,
vẫn c̣n nhiều bất cập. Trong khi cả nước có một trung tâm khoa học và công
nghệ, th́ các bộ, thậm chí các cục thuộc chính phủ, cũng có những viện nghiên
cứu riêng. Các nghiên cứu khoa học vẫn chủ yếu được thực hiện tại các viện
nghiên cứu, trong khi đó đóng góp các đại học c̣n quá khiêm tốn dù ở đây có đội
ngũ giáo sư và nghiên cứu sinh khá hùng hậu. Đó là chưa kể đến t́nh trạng chảy
máu chất xám rất trầm trọng ở trong nước, với nhiều nghiên cứu sinh không chịu
(hay không được tạo điều kiện & cơ hội) về nước tham gia nghiên cứu. Rơ ràng,
nhu cầu tổ chức lại đội ngũ nghiên cứu khoa học là rất cấp bách trong môi trường
cạnh tranh như hiện nay.
Hiện nay, có nhiều
mô h́nh tổ chức, và kinh nghiệm từ các nước có nền khoa học tiên tiến như Mĩ, Âu
châu, Úc và Canada có thể cung cấp cho chúng ta những mô h́nh có ích. Theo các
mô h́nh này, các viện nghiên cứu nhỏ hay trung b́nh (dưới 50 người) của các bộ
và cục nên sáp nhập với các đại học, nhưng vẫn giữ định hướng nghiên cứu của
họ. Cách làm này vừa tạo ra môi trường để các giáo sư trong trường cộng tác với
viện nghiên cứu, và sử dụng các nhà khoa học của viện trong công tác giảng dạy
và đào tạo nghiên cứu sinh.
Qui tŕnh phân phối
ngân quĩ cho nghiên cứu khoa học cũng cần nên xem xét lại, hay tốt nhất là thay
đổi. Hiện nay, các bộ như Bộ y tế ra đề tài nghiên cứu như “đơn đặt hàng” và
các nhà nghiên cứu đệ đơn xin ngân sách nghiên cứu. Theo tôi, cách làm theo
kiểu đơn đặt hàng này quá máy móc, công thức hành chính, làm hạn chế tầm hoạt
động của nhà nghiên cứu. Với cách làm này, nếu một nhà nghiên cứu không có kinh
nghiệm làm theo đơn đặt hàng của bộ chắc sẽ … thất nghiệp. Các nhà nghiên cứu
nên được khuyến khích tự do t́m ṭi và thực hiện những nghiên cứu mà họ muốn.
Tất nhiên, dự án các nghiên cứu này phải được duyệt nghiêm chỉnh, và cho dù họ
có muốn theo đuổi công tŕnh nghiên cứu, nhưng không chứng minh được khả năng và
triển vọng thành công th́ công tŕnh sẽ không được yểm trợ.
Một trong những vấn
đề mà Nhà nước hay nhắc đến trong năm qua là phương thức nào để thu hút các nhà
khoa học gốc Việt ở nước ngoài về nước tham gia nghiên cứu. Bàn thảo cũng đă
nhiều, nhưng việc thực hiện vẫn chưa đi đến đâu. Theo tôi, một cách để tạo điều
kiện cho các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài về nước là làm như Úc, tức là
thiết lập các chương tŕnh fellowship. Các fellow được bổ nhiệm sẽ được sung
vào các trường đại học và viện nghiên cứu, và họ được tạo điều kiện ưu tiên cho
nghiên cứu khoa học. Tất nhiên, các fellow này phải có chương tŕnh nghiên cứu
khả thi và các chương tŕnh này phải được b́nh duyệt một cách nghiêm chỉnh như
cách làm ở Úc hay ở Mĩ.
Trong hoạt
động văn hóa nghệ thuật, chúng ta có những danh hiệu như “nghệ sĩ ưu tú”, “nghệ
sĩ nhân dân” để ghi nhận những đóng góp của các nghệ sĩ có đóng góp quan trọng
vào đời sống văn hóa nghệ thuật của quốc gia. Trong hoạt động giáo dục, các
trường đại học ngoài những những chức danh như “giáo sư”, “phó giáo sư”, “giảng
viên”, c̣n có những danh hiệu như “nhà giáo ưu tú”, “nhà giáo nhân dân” để ghi
nhận những cống hiến của họ cho xă hội. Nhưng trong hoạt động khoa học, chúng
ta chưa có một chương tŕnh nuôi dưỡng các nhà khoa học ưu tú. Tôi không đề
nghị Nhà nước phải có những danh hiệu như “Nhà khoa học ưu tú” hay “Nhà khoa học
nhân dân” (v́ tôi nghĩ những danh hiệu như thế mang tính h́nh thức quá); tôi chỉ
đề nghị Bộ khoa học và công nghệ cùng với Bộ Y tế hay Bộ Giáo dục và Đào tạo lập
ra những chương tŕnh để nôi dưỡng các nhà khoa học ưu tú, những người đóng vai
tṛ “hoa tiêu” cho nghiên cứu khoa học của nước nhà.
Như có lần
phát biểu trước, nước ta đang hội nhập quốc tế, và theo tôi hội nhập phải bắt
đầu từ nghiên cứu sinh và các nhà khoa học trẻ. Chúng ta đang có một lực lượng
nhà khoa học trẻ được đào tạo từ nước ngoài, nhưng tiềm năng của họ chưa được
khai thác v́ nhiều người chưa có cơ hội nghiên cứu khoa học. Chúng ta cần có
một ngân quĩ hay chương tŕnh để tập trung các nhà khoa học trẻ và nâng đỡ họ
thành những nhà khoa học quốc tế. Ở các nước tiên tiến và Tây phương, Nhà nước
có khá nhiều chương tŕnh huấn luyện hậu tiến sĩ, và các quĩ dành cho các nhà
khoa học trẻ “đang lên”, tức có tiềm năng trở thành lănh đạo trong tương lai.
Tôi tin rằng những tiêu chuẩn của Úc rất cần được tham khảo khi thiết lập một
chương tŕnh như thế.
YKHOANET -
01/10/2007 |