|
Giải nobel y học hay sinh lí
học 2007 và lợi ích cho người bệnh
Nguyễn Văn Tuấn
Theo thông lệ hàng năm, ngày 8 tháng 10 vừa
qua, Hàn lâm viện Thụy Điển vừa công bố tên các nhà khoa học
được trao giải Nobel về sinh lí học hay y học (physiology or
medicine). Năm nay, qua b́nh chọn một thời gian, 3 nhà khoa học
được trao giải thưởng cao quí (1,54 triệu USD) này: giáo sư
Mario R. Capecchi, 70 tuổi (Viện nghiên cứu y khoa Howard
Hughes, Đại học Utah, Mĩ); giáo sư Martin J. Evans, 66 tuổi (Đại
học Cardiff, Anh); và giáo sư Oliver Smithies, 82 tuổi (Đại học
North Carolina, Mĩ). Ba nhà khoa học cùng nghiên cứu về di
truyền và công nghệ sinh học, là những người tiên phong trong
việc phát triển một mô h́nh khoa học có tên khá “dân giả” là
“nốc ao” (“knock-out”, nhưng thuật ngữ khoa học là “gene
targeting” hay “homologous recombination” – tái hợp tương đồng)
để thẩm định ảnh hưởng của gien trên chuột. Trong bài này, tôi
sẽ bàn ngắn gọn về ư nghĩa của công tŕnh “nốc ao” của ba nhà
khoa học này.
Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn có viết một câu nhạc rất
thơ mà cũng thấm đẩm triết lí nhà Phật, “Hạt bụi nào hóa kiếp
thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi”, như để nhắc nhở sự
mong manh, tính phi vĩnh cửu của một đời người. Nhưng lời nhạc
và ư nghĩa của nó c̣n gián tiếp (hay chủ ư?) ví von một chân lí
khoa học về sự cấu trúc cơ bản của cơ thể con người. Quả thật,
theo thuyết sinh học phân tử (molecular biology), mỗi chúng ta
được h́nh thành bắt đầu từ chỉ một tế bào. Tế bào này cứ phân
chia liên tục và sản sinh ra nhiều tế bào mới để cấu tạo thành
một con người “trưởng thành”. Do đó, cơ thể con người được cấu
tạo bằng nhiều tế bào. Vài ước tính mang tính lí thuyết cho
thấy con số tế bào trong con người dao động từ 60.000 tỉ đến
100.000 tỉ!
Xin nhắc lại vài thông tin căn bản: trung tâm
của mỗi tế bào là nhân (nucleus). Nhân hàm chứa những chất liệu
di truyền mà ta thường gọi là DNA (viết tắc từ chữ
deoxyribonucleic acid). Mỗi nhân thường có hàng triệu DNA. Mỗi
DNA gồm có bốn mẫu tự (c̣n gọi là nucleotide): A (adenine), C
(cytosine), G (guanine), và T (thymine). Một mảng DNA tạo thành
một gien. Và nhiều gien tạo thành một bộ di truyền hay nhiễm
sắc thể (chromosome). Cơ thể Con người có 23 đôi nhiễm sắc
thể. Có thể nói một cách ví von bằng cách dùng quyển sách như
là một ví dụ để minh họa cho mối liên hệ giữa gien, nhiễm sắc
thể, và bases. Trong sách có 23 chương (chromosome); mỗi chương
có nhiều câu chuyện (gien); mỗi câu chuyện có nhiều đoạn văn
(exons); mỗi đoạn văn có nhiều chữ (codons); và mỗi chữ được
viết bằng 4 mẫu tự (bases).
Gien có chức năng gửi các tín hiệu hóa học đi
đến tất cả các nơi trong cơ thể. Những tín hiệu này có chứa đầy
đủ các thông tin, các “chỉ thị” cụ thể cho các cơ quan trong cơ
thể con người phải vận hành ra sao. Nếu những gien trong cơ thể
hoạt động “b́nh thường”, và sản phẩm hay tín hiệu của gien được
chuyển giao một cách thích hợp th́ cơ thể con người không có vấn
đề; nhưng nếu trong quá tŕnh vận hành của gien có sự cố th́ hậu
quả là cơ thể sẽ mất thăng bằng và dẫn đến bệnh tật cho con
người.
Do đó, có thể nói rằng phần lớn những khác biệt về
đặc tính của con người, kể cả thế chất và tâm thần, đều do tác
động của hai yếu tố: di truyền và môi trường. Thật ra, nói
chính xác hơn là những khác biệt giữa các cá nhân trong một quần
thể là hệ quả của sự tương tác giữa di truyền và môi trường.
Chẳng hạn như nhiều nghiên cứu trong thời gian ba thập niên qua
cho thấy các yếu tố di truyền có thể giải thích khoảng 70% những
khác biệt về mật độ xương, 40-60% những khác biệt về tỉ trọng cơ
thể (body mass index), 65-85% những khác biệt về chiều cao cơ
thể, 30-40% những khác biệt về nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường
giữa các cá nhân trong quần thể. Nhưng các yếu tố di truyền
không thể giải thích tất cả những khác biệt, v́ c̣n các yếu tố
môi trường cũng đóng vai tṛ không kém phần quan trọng.
Con người có bao nhiêu gien? Trước kia, khi công
tŕnh giải mă gen chưa hoàn tất, các nhà khoa học ước đoán rằng
cơ thể con người có khoảng 100.000 gien. Đến năm 2001, khi kết
quả giải mă đầu tiên được công bố, con số này giảm xuống c̣n
30.000 đến 40.000 gien. Nhưng nay, sau khi công tŕnh giải mă
gien hoàn tất, các nhà khoa học ước tính rằng cơ thể con người
hàm chứa chỉ khoảng 20.000 đến 25.000 gien. Như vậy số lượng
gien trong con người có thể c̣n thấp hơn số gien trong cơ thể
chuột (khoảng 30.000 gien)!
Ngoài chức năng quyết định đặc tính của cơ thể
con người, gien c̣n có chức năng … gây bệnh. Một khi gien đột
biến (tức là một mảng DNA đột nhiên bị thay đổi, như từ TGCCA
thành TCCCA chẳng hạn) có thể gây ra rối loạn tế bào, bệnh tật,
thậm chí tử vong. Chỉ một thay đổi rất nhỏ như thế có thể làm
cho chúng ta phải suốt đời đau khổ v́ gien! Một số bệnh chỉ do
một gien gây nên như bệnh sơ nang (cystic fibrosis), bệnh
Huntington, bệnh thiếu
hồng huyết cầu hình
lưỡi liềm (sickle
cell disease), v.v… thường chỉ v́ đột biến của một mẫu tự DNA
trong gien. Các bệnh này thường được gọi
là bệnh đơn gien (monogenic diseases). Nhưng phần lớn
các bệnh kinh niên mà chúng ta thường mắc phải như đái đường,
cao huyết áp, béo ph́, loăng xương, tai biến, v.v… là những bệnh
do nhiều gien và môi trường gây nên, nên hay gọi là các bệnh
đa gien (multifactorial diseases). Cho đến nay, y học vẫn
chưa t́n ra tất cả các gien liên quan đến các bệnh đa gien này.
Mô h́nh nốc-ao gien
Do đó, vấn đề đặt ra là làm sao biết được gien
nào có ảnh hưởng đến đặc tính hay bệnh nào ở con người. Đây là
vấn đề không đơn giản chút nào, v́ t́m gien có liên quan đến một
bệnh nào đó trong số 25.000 gien cũng chẳng khác nào “ṃ kim đáy
biển”. Một trong những vấn đề đặt ra cho y học thế kỉ 21 là
phát triển phương pháp để truy t́m những gien có ảnh hưởng đến
bệnh tật, và qua đó hi vọng sẽ t́m hiểu cơ chế ảnh hưởng của
gien để phát triển phương pháp điều trị bệnh. Công tŕnh nghiên
cứu, hay nói đúng hơn là mô h́nh, của giáo sư Mario R. Capecchi
và đồng nghiệp của ông (giáo sư Martin J. Evans và giáo sư
Oliver Smithies) thể hiện một sự đột phá trong nghiên cứu di
truyền.
Về mặt ư tưởng, mô h́nh của họ rất đơn giản, và có
thể minh họa bằng một ví von như sau: để biết xăng dầu có ảnh
hưởng đến sự vận hành của một cỗ máy, người ta có thể lấy xăng
dầu ra khỏi cỗ máy và thay thế bằng nước, và quan sát sự vận
hành của cỗ máy sau đó ra sao. Tương tự, nếu nhà nghiên cứu có
lí do để cho rằng gien A có ảnh hưởng đến bệnh ung thư, họ có
thể rút gien A khỏi cơ thể và thay thế vào đó bằng một gien khác
(hay một mảng DNA khác) và xem quá tŕnh phát sinh ung thư ra
sao. Đây là công nghệ có tên là “knock-out” (c̣n gọi là “gene
targeting” hay “homologous recombination”). Nói cách khác, công
nghệ nốc-ao có mục đích là “quật ngả” gien hiện hành và thay thế
nó bằng một gien mới để đánh giá xem gien bị quật ngả có thật sự
ảnh hưởng đến bệnh tật.
Vào thập niên 1980s, có thể nói đó là một ư
tưởng táo bạo. Ư tưởng trên được giáo sư Capecchi mô tả trong
một đề cương nộp cho Viện Y tế Mĩ để xin tài trợ vào năm 1980.
Các chuyên gia b́nh duyệt bác bỏ đề cương của ông, v́ họ cho
rằng dự án nghiên cứu đó bất khả thi! Bốn năm sau (1984), với
một số kết quả sơ khởi, giáo sư Capecchi lại nộp đề cương đó xin
tài trợ, và lần này ông được tài trợ. Lần này, các chuyên gia
b́nh duyệt phê trong đề cương rằng họ rất vui mừng khi thấy ông
đă không nghe lời họ mà vẫn kiên tŕ theo đuổi ư tưởng đó!
Nhưng v́ lí do y đức mô h́nh đó không thể thực hiện
trên con người. Không ủy ban y đức nào cho phép nhà nghiên cứu
thay thế gien của một con người cả. Đến đây th́ chuột cung cấp
cho các nhà nghiên cứu một giải pháp khả dĩ. Chuột được xem là
một con người thu nhỏ, v́ loài vật này có những cơ phận rất
giống với con người, và quan trọng hơn nữa, khoảng 95% các mảng
DNA trong chuột cũng t́m thấy trong con người. Chính v́ thế,
nghiên cứu trên chuột là một mô h́nh nghiên cứu cực ḱ có ích để
có thể ứng dụng trên con người.
Về mặt kĩ thuật, mô h́nh của giáo sư Capecchi và
đồng nghiệp của ông được thực hiện qua 6 bước như sau:
-
Bước 1, lấy tế bào từ túi phôi (blastocyst)
của chuột và trồng thành một gịng phôi tế bào mầm;
-
Bước 2, chuẩn bị một mảng DNA (nhân tạo) mà
nhà nghiên cứu muốn đánh giá tác động của gien;
-
Bước 3, đưa mảng DNA nhân tạo vào gịng tế
bào mầm bằng phương pháp transfection (tức làm cho tế bào bị
“nhiễm”);
-
Bước 4, tế bào mầm được cấy vào chuột sẽ
“sinh sôi nẩy nở” (theo cấp số nhân) trở thành nhiều tế bào
khác;
-
Bước 5, tiêm các tế bào mầm mới sản sinh vào
túi phôi của chuột;
-
Bước 6, một thế hệ chuột mới ra đời với cấu
trúc DNA mới của gen, và cho phép các nhà nghiên cứu ảnh
hưởng của việc “nốc ao” gien nguyên thủy.
Ngày nay, mô h́nh gồm sáu bước trên của giáo sư
Capecchi và đồng nghiệp được xem là mô h́nh kinh điển trong
nghiên cứu ảnh hưởng của gien. Mô h́nh này đă mở ra một định
hướng nghiên cứu mới: định hướng nốc-ao. Kể từ khi mô h́nh này
ra đời, đă có hơn 40.000 công tŕnh nghiên cứu gien sử dụng mô
h́nh nốc-ao để nghiên cứu cơ chế và ảnh hưởng của gien đến bệnh
và các đặc tính sinh học của con người. Có thể nói không ngoa
rằng mô h́nh (tuy đơn giản so với tŕnh độ kĩ thuật hôm nay) của
họ đă làm một cuộc cách mạng trong di truyền học và góp phần cho
ra đời nền công nghệ sinh học ngày nay.
Lợi ích của mô h́nh
nốc-ao gien?
Nghiên cứu di truyền có 3 mục tiêu chính: tiên
đoán bệnh, t́m hiểu cơ chế của bệnh, và phát triển thuốc để điều
trị. Khi một gien có liên quan đến một bệnh được phát hiện, các
nhà khoa học có thể tiên đoán khả năng mà một cá nhân sẽ mắc
bệnh ngay từ lúc mới lọt ḷng mẹ (v́ gien không thay đổi theo
thời gian!), và do đó, y tế có thể t́m biện pháp pḥng ngừa hay
điều trị trước khi cá nhân mắc bệnh. Mục đích thứ hai của gien
là qua nghiên cứu cơ chế hoạt động của gien, các nhà khoa học có
thể biết cơ chế và quá tŕnh phát triển của bệnh như thế nào.
Lợi ích sau cùng là khi đă biết được cơ chế và quá tŕnh phát
triển, các nhà khoa học có thể bào chế thuốc hay phát triển một
thuật điều trị để ngăn ngừa bệnh cho một cộng đồng.
Cần nhắc lại rằng trong giai đoạn đầu của nền y học
thế giới, kể cả cho đến những thập niên đầu thế kỉ 20, việc chữa
trị bệnh hầu như chỉ tập trung vào chữa trị ở cấp “vĩ mô”, tức
là các phương thức trị bệnh chủ yếu dựa trên cơ chế bệnh sinh và
bệnh nguyên. Trừ nhóm bệnh nhiễm khuẩn là điều trị tương đối
có kết quả, c̣n lại hầu như chỉ giải quyết được tức thời giảm
triệu chứng, hoặc kéo dài sự chịu đựng của cơ thể mà không thể
tiệt căn. Ngay cả những bệnh truyền nhiễm th́ chữa khỏi, nhưng
những biến chứng hay di chứng của bệnh để lại lại là một chuyện
nan giải cho cả bệnh nhân và thầy thuốc, điển h́nh như biến
chứng thần kinh, hoặc các biến chứng tim của bệnh thấp khớp.
Các thuật điều trị nếu có thể hoặc bảo tồn hoặc thay thế nhưng
hầu như không thể nào gọi là chữa khỏi được. V́ thế, không ai
ngạc nhiên khi thấy hầu hết các thuật chữa trị hiện nay chỉ đem
lại hiệu quả cho khoảng 60 phần trăm bệnh nhân, và trong nhiều
trường hợp bệnh nhân lại chịu phản ứng phụ có hại cho sức khoẻ.
Trong nhiều thập niên gần đây, nghiên cứu y khoa đă bắt đầu
chuyển sang một phương hướng mới: đi t́m thuật chữa trị mới sao
cho có thể ứng dụng cho từng cá nhân bệnh nhân. Đó cũng là nhờ
tiến bộ của ngành sinh học phân tử, nghiên cứu về tế bào và cấu
trúc di truyền của tế bào.
Do đó, có thể nói một cách vắn tắt rằng đa số các
bệnh tật, dù là thể xác hay tinh thần, đều gần như có thể bắt
nguồn từ những trục trặc của tế bào, hoặc gien. Nhưng hầu như
tất cả các thuật chữa trị bệnh tật hiện nay lại có tính cách
gián tiếp, và ước chừng. Giải phẫu, hay dùng dược phẩm đều chỉ
là những phương pháp trợ tiếp, cầm chừng, và chỉ tấn công bề
ngoài của căn bệnh, chứ chưa tiến sâu vào cơ chế hoạt động của
tế bào. Ngoài ra, tất cả các thuật chữa trị này đều dựa vào số
đông chứ không dựa vào cá nhân. Chẳng hạn như thuốc
alendronate, thử nghiệm cho thấy có hiệu quả cho số đông của một
nhóm bệnh nhân, và kết quả này được khái quát hóa cho hàng loạt
bệnh nhân khác.
V́ tế bào là đơn vị cơ bản nhất của con người, và
mỗi con người là một cá thể độc đáo (trên phương diện sinh học,
không ai giống ai), nên việc chữa trị bệnh tật bằng cách thay
thế các tế bào hay gien bị hỏng bằng các tế bào hay gien lành
mạnh là một phương pháp đang được giới khoa học chú ư nhiều nhất
hiện nay. Ngoài ra, việc thay thế những gien bị đột biến tai
hại bằng những gien tốt cũng là một phương hướng chữa trị đang
được ứng dụng cho một số bệnh. Chữa trị bằng tế bào hay bằng
gien, nếu không là một hi vọng sau cùng, th́ cũng là một phát
triển quan trọng nhất trong hành tŕnh chinh phục bệnh tật của
con người.
Mô h́nh nốc-ao có thể đóng góp vào việc hoàn thành
mục tiêu số 2 của nghiên cứu về gien, tức t́m hiểu cơ chế của
bệnh. Nhưng cho đến nay, sau hơn 2 thập niên kể từ mô h́nh
nốc-ao gien ra đời, y học vẫn chưa áp dụng thành tựu của mô h́nh
này trên con người. Chúng ta vẫn chưa biết gien nào thật sự
có ảnh hưởng đến bệnh nào. Ngay cả một số ít gien được công
nhận là có liên quan đến bệnh, chúng ta vẫn không biết tại sao
và cơ chế vận hành của gien ra sao. Do đó, cho đến nay, chúng
ta vẫn chưa thể điều trị bệnh bằng gien như từng hi vọng. Ngay
cả ở một vài trường hợp cá biệt mà bệnh nhân được điều trị bằng
cách thay đổi các mảng DNA cũng không (hay chưa) thành công.
Thật ra, mô h́nh nghiên cứu gien mà các nhà khoa học
theo đuổi có vấn đề. Như đề cập phần đầu của bài viết, phần lớn
bệnh là do nhiều gien và các gien này tương tác với các yếu tố
môi trường gây nên. Do đó, tập trung nghiên cứu chỉ một gien
như mô h́nh nốc-ao gien không thể nào thành công trong lâm sàng
được, và chắc cũng rất ít khả năng dẫn đến một thuật điều trị
bằng cách thay đổi một gien (bởi v́ bệnh do nhiều gien và nhiều
yếu tố môi trường). Đó chính là lí do tại sao cho đến nay,
chúng ta vẫn chưa biết ǵ cụ thể về gien và bệnh, chúng ta vẫn
chưa thể sử dụng gien để tiên đoán nguy cơ mắc bệnh trong thực
tế lâm sàng, dù hàng tỉ USD đă đầu tư cho các nghiên cứu này.
Trong vài năm gần đây, giới y khoa đă bắt đầu nghi
ngờ giá trị thực tế của giải thưởng Nobel. Vài năm trước đây,
giải thưởng được trao cho các nhà khoa học nghiên cứu về ... mùi
vị. Trước đó, giải thưởng được trao cho các nhà khoa học với
những công tŕnh chẳng liên quan ǵ đến y khoa. Năm 1949 giải
Nobel được trao cho một bác sĩ giải phẫu (Moniz) v́ phẫu thuật
thùy năo, hay lobotomy (hay c̣n gọi là leucotomy) trong việc
chữa trị chứng lọan thần kinh (psychotic). Trước khi phẫu thuật
được ứng dụng, bệnh nhân phải chịu nhiều cực h́nh như bị “nhốt”
trong một lồng sắt (straitjackets), tắm bằng nước lạnh, rồi mới
đến giải phẫu và giật điện. Ngày nay phẫu thuật thùy năo được
xem là một phẫu thuật vi phạm y đức. Do đó, không ít nhà nghiên
cứu chẳng để ư đến ai được hay không được giải thưởng này, v́ họ
cho rằng giải thưởng này càng ngày càng đi xa tôn chỉ của ông
Alfred Nobel. Thật vậy, giải thưởng Nobel được thiết lập theo
di chúc của ông Alfred Nobel, trong đó ông viết rằng giải thưởng
nên trao cho “những ai đă đem lại lợi ích lớn nhất cho con
người.”
Tuy không ai nghi ngờ rằng mô h́nh của ba nhà
khoa học vừa đề cập thể hiện một bước đột phá trong nghiên cứu
di truyền, nhưng ứng dụng của mô h́nh này trong y học lâm sàng
và điều trị bệnh nhân vẫn c̣n là câu hỏi lớn. Nói cách khác, mô
h́nh này chưa đem lại lợi ích thực tế ǵ cho bệnh nhân (chứ chưa
nói đến “lợi ích lớn nhất”). Và, trong tương lai, chưa chắc mô
h́nh này có thể ứng dụng rộng răi ở con người. Do đó, theo
người viết bài này, giải thưởng năm nay có thể nói là không phù
hợp với nguyện vọng và tinh thần trong di chúc của ông Nobel.
|
Giáo sư Mario R.
Capecchi: từ đứa trẻ giang hồ trở thành nhà khoa học
giải Nobel
Trong ba nhà
khoa học được trao giải Nobel y học hay sinh lí học năm
nay, có lẽ trường hợp của Mario Capecchi là đáng chú ư
nhất, v́ cuộc đời ông là một tấm gương sáng chói về phấn
đấu để thành công trong nghịch cảnh.
Mario R.
Capecchi chào đời ngày 6/10/1937 ở Verona, miền bắc nước
Ư, nơi nổi tiếng với chuyện t́nh Romeo và Juliet. Mẹ
ông là một nhà thơ và cha là một sĩ quan không quân
trong quân đội Ư, nhưng hai người không bao giờ chính
thức cưới nhau, v́ mẹ ông là một người có khuynh hướng
chống chủ nghĩa Phát-xít và chủ nghĩa Nazi, và dứt khoát
không chịu thành hôn với một sĩ quan không quân trong
quân đột Phát-xít dù hai người yêu nhau và có con.
Đến năm Mario
chưa tṛn 4 tuổi, mẹ ông bị bọn Gestapo bắt giam trong
trại tập trung nổi tiếng Dachau. Biết rằng thời gian tự
do của ḿnh không c̣n bao nhiêu nữa, bà quyết định bán
tất cả gia tài, kể cả ngôi biệt thự, cho một gia đ́nh
nông dân. Gia
đ́nh này cưu mang Mario một thời gian trong khi mẹ ông
đi tù. Đến khi gia đ́nh người nông dân khánh kiệt,
Mario đành phải rời nhà, và bắt đầu một cuộc sống giang
hồ. Mario lang thang hết phố này sang phố khác ở miền
nam nước Ư. Hết ngày này sang tháng nọ, ban ngày th́ đi
ăn xin, có khi tham gia các băng đảng đi ăn trộm, ban
đêm th́ ngủ trên vĩa hè. Bốn năm trời lang thang hết
nơi này sang nơi khác cho đến khi tấm áo bị rách nát,
Mario được đưa vào một bệnh viện trong t́nh trạng suy
dinh dưỡng trầm trọng.
Đến
khi cuộc thế chiến thứ 2 kết thúc, mẹ ông sống sót sau
những năm tù tội trong trại tập trung và được thả ra.
Bà lang thang đi t́m Mario hết cô nhi viện này đến nhà
thương khác, và sau cùng mẹ cũng gặp con trong bệnh
viện, đúng vào ngày sinh nhật thư 9 của Mario! Vài tuần
sau, hai mẹ con quyết định rời Ư và khăn gói lên đường
sang Pennsylvania (Mĩ) định cư và đoàn tụ với cậu của
Mario, lúc đó đă định cư ở Pennsylvania và thành lập một
cộng đồng gồm các gia đ́nh gốc Ư ở đó.
Đến
Pennsylvania, Mario được bố trí học lớp 3. Là một đứa
trẻ lớn lên từ cuộc sống giang hồ, Mario nhanh chóng trở
thành trưởng lớp, chuyên “trị” những đứa học tṛ lưu
manh trong lớp. Sau đó, Mario theo học ở Trường cao
đẳng Antioch ở Yellow Spring (Ohio), một trường tư thuộc
vào hạng danh giá ở miền trung tây nước Mĩ. Thoạt đầu,
ông ghi danh học chính trị học, nhưng tốt nghiệp cử nhân
về hóa học và vật lí vào năm 1961 (lúc đó ông đă 24
tuổi)! Sau Antioch College, ông xin nhập học Đại học
Harvard, và người phỏng vấn ông (sau này là thầy hướng
dẫn) là James Watson (cha đẻ của DNA, giải Nobel năm
1962). Ông kể lại trong buổi phỏng vấn, ông rụt rè hỏi
Watson trường nào là nơi lí tưởng để ông theo học thạc
sĩ và tiến sĩ, Watson trả lời với một giọng “giang hồ”:
“Mẹ kiếp, nếu mày xin học bất cứ chỗ nào khác [ngoài
Harvard] th́ mày là một thằng điên” (nguyên văn: “You
would be f…ing crazy to go anywhere else.”) Năm 1967,
ông tốt nghiệp tiến sĩ vật lí sinh học (biophysics) từ
Đại học Harvard.
Năm
1969, ông được bổ nhiệm chức danh Assistant Professor
(giống như giáo sư dự khuyết); năm 1971 ông trở thành
Associate Professor (phó giáo sư) tại trường Y thuộc Đại
học Harvard. Ông không hài ḷng với các đồng nghiệp ở
Harvard, v́ theo ông, họ bảo thủ, không ḥa thuận với
nhau, và cũng không nâng đỡ các nhà khoa học trẻ. Năm
1973, ông rời Harvard và nhận chức giáo sư (Professor)
tại Đại học Utah. Lúc đó, ai cũng nói ông điên, v́ Đại
học Utah không có “tên tuổi” ǵ trên trường khoa học so
với Harvard, nhưng người thầy cũ của ông là giáo sư
James Watson khuyên rằng ở bất cứ nơi nào nhà khoa học
vẫn có cơ hội để trở thành xuất sắc. Năm 1988 giáo sư
Mario Capecchi trở thành chuyên gia nghiên cứu
(investigator) cho Viện nghiên cứu y khoa Howard Hughes,
một viện nghiên cứu hàng đầu trên thế giới. Quyết định
rời Harvard của ông hoàn toàn đúng, v́ sự nghiệp của ông
“khởi sắc” từ khi về làm ở Đại học Utah và Viện nghiên
cứu y khoa Howard Hughes. Cho đến nay, ông đă công bố
được 150 bài báo khoa học trên các tập san quốc tế, phần
lớn là các tập san có ảnh hưởng lớn và chất lượng cao.
Giải Nobel y học năm nay là một phần thưởng đẹp nhất
trong sự nghiệp khoa học, và một “happy ending” cho câu
chuyện đời đầy thăng trầm của giáo sư Mario R.
Capecchi. Cuộc đời và sự nghiệp của giáo sư Mario R
Capecchi cũng là một minh chứng cho quan điểm rằng tài
năng cần được nuôi dưỡng ở những môi trường tri thức cao
và thấp. Xă hội cần phải t́m cách nâng đỡ và nuôi dưỡng
những thành phần nghèo khó, những thành phần bên lề xă
hội, những thành phần thiếu học và những đứa trẻ ranh.
|
YKHOANET 10/10/2007 |