Cần hiểu đúng về
Ung thư và nguy cơ ung thư
Nguyễn Văn Tuấn
Hầu như ngày nào chúng ta cũng đều nghe qua một
yếu tố nào đó có liên quan đến ung thư. Có tủ lạnh trong nhà,
mặc soutien, tóc màu vàng, ở gần đường điện cao thế, sở hữu điện
thoại di động, nghiện cà phê, ăn nhiều thịt nướng, v.v… đều từng
được “tố cáo” là có liên quan đến ung thư. Thật ra, danh sách
trên c̣n rất dài và nhiều đến độ chúng ta ăn bất cứ thực phẩm
nào cũng đều dính dáng đến ung thư! Trong vụ nước tương
đen mà công chúng quan tâm hiện nay, đă xuất hiện khá nhiều
thông tin trái ngược nhau. Giới báo chí “xúm lại” tấn công các
giới chức y tế với đủ thứ ngôn từ đầy cảm tính. Nào là “cố t́nh
dấu diếm”, “né tránh”, thậm chí cả “ngụy biện”. H́nh như giới
báo chí không hiểu (hay không chịu hiểu rằng) trả lời câu hỏi
ung thư không phải chỉ nói đôi ba câu là xong.
Trả lời phỏng vấn của phóng viên, một bác sĩ chuyên về ung thư ở Thành
phố Hồ Chí Minh cho biết “3-MCPD là chất có thể gây bệnh ung thư
trên chuột như: ung thư tinh hoàn, ung thư vú, ung thư da b́u và
ung thư thận.” Hai chữ “có thể” đó rất quan trọng, v́ nó nói
lên t́nh trạng bất định của kiến thức y khoa. Tuy nhiên, sự bất
định của kiến thức y khoa lại mâu thuẫn câu trả lời mà bệnh nhân
muốn biết về tác hại: có hay không. Trong bài này, tôi chỉ muốn
công chúng, kể cả phóng viên báo chí, phân biệt cho được cụm từ
“mắc ung thư” và “nguy cơ mắc ung thư”. Hiểu và phân biệt được
hai cụm từ này sẽ giúp chúng ta tránh những hiểu lầm có thể dẫn
đến những hành động cảm tính không cần thiết.
Hai chữ “ung thư” thường gieo vào công chúng một nỗi sợ hăi, bởi v́ trong
cách hiểu của nhiều người, đó là một căn bệnh kinh tởm. Ngay cả
trong giới bác sĩ cũng sợ hăi ung thư. Tôi c̣n nhớ trong một
seminar bàn về các bệnh nan y, diễn giả tŕnh bày vấn đề bệnh
tim mạch, loăng xương, đái tháo đường bằng những h́nh hoạt họa
nhằm mục đích khuyến khích quần chúng thường xuyên tập thể dục,
ăn uống điều độ, giảm lượng chất béo trong cơ thể để giảm nguy
cơ bị bệnh tim. Có nhiều h́nh hoạt họa làm cho cử tọa cười
thoải mái, và buổi giảng làm nhiều người hài ḷng. Nhưng khi
qua đến phần ung thư th́ pḥng họp im phăng phắc, chẳng thấy ai
cười; ai cũng tỏ vẻ rất quan tâm.
Trong chúng ta, ai cũng nghe qua bệnh ung thư hay biết một người nào đó bị
ung thư. Một người dượng tôi qua đời v́ bệnh ung thư phổi. Ba
tôi bị ung thư tiền liệt tuyến nhưng ông qua đời v́ bệnh tim
mạch. Một người bạn tôi quen biết bị ung thư vú. Nh́n qua nh́n
lại, chúng ta thấy có khá nhiều người là nạn nhân của ung thư,
và có lẽ v́ thế hai chữ “Ung thư” có một lực ngầm nào đó rất đặc
biệt làm cho người ta phải ngán sợ. Đó là một bệnh có độ cảm
tính rất cao. Người ta cho rằng đó không phải là một bệnh đáng
đùa như bệnh tim được. V́ thế, cũng là tự nhiên thôi, khi chúng
ta t́m mọi cách để tránh nó. Nguyên tắc “pḥng bệnh hơn chữa
bệnh” rất phù hợp với bệnh ung thư.
Ung thư là bệnh có nhiều nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp. Nguyên nhân
trực tiếp là qui tŕnh sản xuất và tái sản xuất của tế bào bị
rối loạn, dẫn đến một cơ phận trong cơ thể bị hư hỏng một cách
tuyệt vọng. Tế bào phát triển nhanh nhưng “mất trật tự”, và lan
sang các cơ phận khác trong cơ thể, và cuối cùng “ăn sống” cơ
thể làm cho cơ thể phải chết. Hoạt động sản xuất và tái sản
xuất của tế bào chịu sự điều khiển của gien. Cho đến nay, ngoài
vài trường hợp ung thư vú và ung thư phổi, những bệnh mà giới
khoa học đă t́m ra vài gien (như gien BRCA1, BRCA2 và vài gien
mới phát hiện trong tháng qua), phần c̣n lại chúng ta vẫn không
biết các gien này là ǵ và ở đâu. Một cách để “đo lường” mức độ
ảnh hưởng của gien hay biết được tín hiệu của gien là xem xét
trong gia đ́nh có thân nhân nào từng bị ung thư hay không (giới
y khoa gọi là “tiền sử gia đ́nh”).
Nhưng gien không hoạt động một ḿnh, mà chịu sự chi
phối của các yếu tố môi trường và hormone. Nói cách khác, gien
chỉ kích hoạt gây ung thư khi bị phơi nhiễm với một yếu tố môi
trường nguy hiểm nào đó. Yếu tố môi trường ở đây bao gồm thói
quen ăn uống, thuốc lá, bia rượu, vận động cơ thể, môi trường
làm việc, mức độ phơi nhiễm với các hóa chất trong cuộc sống,
v.v… Do đó, các nguyên nhân gián tiếp gây ra ung thư là các yếu
tố môi trường và hormone. Có nghiên cứu ước tính rằng khoảng
95% các trường hợp ung thư mà bác sĩ điều trị là do các yếu tố
môi trường gây ra, và gien là nguyên nhân gây ra khoảng 5% các
trường hợp ung thư.
Thật ra, ước tính như thế cũng quá đơn giản, v́ khó mà qui bao nhiêu
trường hợp ung thư do gien và bao nhiêu do môi trường, trong khi
chúng ta chưa biết gien nào là “thủ phạm”. Tại sao những người
có tiền sử gia đ́nh ung thư nhưng lại không bao giờ mắc bệnh ung
thư? Tại sao một số người không bao giờ hút thuốc lá lại bị ung
thư? Chúng ta không có câu trả lời dứt khoát, mà chỉ có thể đặt
giả thiết để giải thích vấn đề. Giả thiết đặt ra là do sự tương
tác giữa gien và môi trường. Theo giả thiết này, người có tiền
sử gia đ́nh mắc bệnh ung thư (tức có khả năng người đó mang
trong người gien có hại) nhưng v́ môi trường sống có lợi, cho
nên người đó không mắc ung thư. Một người không bao giờ hút
thuốc lá có thể bị ung thư v́ người đó mang trong người gien
nguy hại hay bị phơi nhiễm một yếu tố nguy cơ khác. Theo giả
thiết tương tác này, phần lớn ung thư chỉ xảy ra khi đối tượng
hội đủ hai điều kiện có nhiều gien (không chỉ một gien) nguy hại
và sống trong một môi trường với nhiều yếu tố (không phải chỉ
một yếu tố) nguy hiểm. Tuy nhiên, mối ảnh hưởng tương tác giữa
gien và môi trường đến ung thư là một câu hỏi lớn, một bí ẩn
khoa học, mà cho đến nay, vẫn chưa có ai có giải đáp thỏa đáng.
Chính v́ sự bất định của khoa học như thế, nên không
ai dám phát biểu dứt khoát rằng ăn nhiều nước tương đen chứa
chất 3-MCPD, hay hút thuốc lá, hay uống rượu bia sẽ gây ung
thư. Người nào nói như thế là thiếu thành thật tri thức, hay
không biết ḿnh nói ǵ. Nhưng chúng ta có thể nói rằng trong
những người hút thuốc lá nhiều có nhiều người bị ung thư hơn
trong nhóm người không hút thuốc lá. Nói cách khác, nguy cơ mắc
bệnh ung thư ở những người hút thuốc lá cao hơn nguy cơ mắc bệnh
ở những người không hút thuốc lá.
“Nguy cơ” là cụm từ rất quan trọng trong phát biểu trên. Nguy cơ là chữ
xuất phát từ thuật ngữ risk trong tiếng Anh. Nguy cơ là
một khái niệm toán học có liên quan mật thiết đến xác suất. Có
thể lấy một ví dụ sau đây để minh họa cho khái niệm nguy cơ
trong y tế. Chẳng hạn như trong một cộng đồng cư dân gồm 1000
người, có 20 người bị bệnh ung thư. Chúng ta có hai cách phát
biểu về qui mô này: cách thứ nhất là dùng con số phần trăm:
Tỉ lệ bệnh ung thư trong cộng đồng là 2 phần trăm; cách thứ
hai là dùng tỉ số khả dĩ (likelihood ratio) bằng cách lấy
số người bị ung thư chia cho số người không bị ung thư: 20 /
980 = 0,082 (tỉ số khả dĩ bị ung thư là 0,082). Tỉ số khả dĩ
càng cao, xác suất bị ung thư càng cao. (Chú ư: nếu tỉ số này
là 1, điều đó có nghĩa là xác suất bị ung thư là 50%). Nói tóm
lại, nguy cơ ở đây chính là xác suất, là tỉ lệ, là phần trăm.
Như vậy, nguy cơ là tần số một sự kiện xảy ra.
Chẳng hạn như nếu tôi nói “Nguy cơ mà bạn bị ung thư là 0,10
hay 10%” th́ điều đó có nghĩa là trong 100 người như bạn, có
10 người bị ung thư, nhưng tôi không biết bạn có phải là một
trong số 10 người đó hay không. Nói cách khác, nó là một con số
áp dụng cho một quần thể, chứ không phải cho một cá nhân. Ấy
thế mà câu phát biểu đó dùng cho một cá nhân! Do đó, có người
cho rằng một phát biểu như thế hoàn toàn vô nghĩa, bởi v́ một cá
nhân là chỉ 1 cá nhân, mà 1 cá nhân th́ không có mẫu số.
Cách hiểu về nguy cơ hay xác suất như vừa tŕnh bày
trên là cách hiểu theo trường phái xác suất dựa vào tần số
(frequentist school of probability). Một định nghĩa xác suất
thứ hai được đề xuất từ thế kỉ 17 là trường phái xác suất chủ
quan (subjective probability). Theo trường phái này, xác
suất là một diễn đạt cá nhân. Chúng ta sử dụng xác suất hàng
ngày nhưng không để ư. Chúng ta vẫn thường nói “Hôm nay chắc
trời mưa quá”, hay “Tôi thấy anh h́nh như bị cảm lạnh”.
Đó là những cảm nhận cá nhân về một sự kiện, một t́nh trạng,
nhưng là những cảm nhận bất định, không chắc chắn. Cách phát
biểu như trên là một cách diễn đạt mối liên hệ của một cá nhân
đối với một sự kiện, nó không phải là một đặc tính khách quan
của sự kiện. Chính v́ thế mà có người đề nghị chúng ta nên nói
“xác suất về sự kiện” (probability for an event), chứ
không nên nói “xác suất sự kiện” (probability of an
event). Do đó, theo trường phái chủ quan này, xác suất, là một
số đo về sự bất định (degree of uncertainty), hay một
số đo về mức độ tin tưởng (degree of belief). Quay trở lại
câu nói “Xác suất mà bạn bị ung thư là 10%”, theo cách
hiểu này, là một cảm nhận chủ quan của cá nhân người phát biểu
đến bệnh nhân. Không có cách ǵ để chứng minh câu phát biểu đó
đúng hay sai (ngoại trừ xác suất là 0 hay 1).
Christiaan Barnard là nhà giải phẫu đầu tiên ghép tim
(heart transplantation) trên thế giới. Ông thuật lại một câu
chuyện mà tôi thấy cần phải viết ra đây để bàn về nguy cơ và xác
suất. Bệnh nhân thay tim đầu tiên trên thế giới của Barnard là
Louis Washkansky. Khi được đưa vào pḥng giải phẫu, Washkansky
đang say mê đọc sách trên giường như không để ư ǵ đến một sự
kiện lịch sử y khoa sắp xảy ra. Barnard vào pḥng giải phẫu, tự
giới thiệu với Washkansky, và giải thích tường tận rằng ông sẽ
cắt bỏ trái tim bệnh của Washkansky và thay vào đó là một trái
tim mới lành mạnh hơn. Barnard nói thêm: ông sẽ có cơ may
b́nh phục (there is a chance that you can get back to
normal life again). Washkansky không hỏi cái cơ may đó là bao
nhiêu, không hỏi ông có thể sống bao lâu nữa, mà chỉ nói “tôi
sẵn sàng” và quay lại tiếp tục đọc sách! Barnard cảm thấy rất
lo âu và bối rối, bởi v́ Washkansky rơ ràng không ư thức được
rằng đây là một sự kiện quan trọng trong đời của chính ông mà
c̣n là một sự kiện lịch sử trong y học. Nhưng bà vợ của
Washkansky hỏi: “Cơ may mà bác sĩ nói là bao nhiêu?” Barnard
trả lời: “80 phần trăm”. Mười tám ngày sau cuộc giải phẫu,
Washkansky qua đời. Ở đây, con số 80% phản ánh một độ tin
tưởng, một cảm nhận cá nhân của bác sĩ Barnard. Trong quan niệm
chủ quan, những bất định chính là những nguy cơ (risk).
Câu trả lời 80% thành công là một cách nói gián tiếp rằng nguy
cơ thất bại là 20%. Nguy cơ 20% này chính là nguy cơ tử vong
cho Washkansky.
Quay lại mối liên hệ giữa nước tương đen có chứa
chất 3-MCPD và ung thư, cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có bằng
chứng 3-MCPD trực tiếp gây ung thư, nhưng chúng ta có bằng chứng
cho thấy chất 1,3-DCP (được h́nh thành từ chất 3-MCPD) làm đột
biến gien trong chuột và gây ung thư. Nhưng không phải chuột
nào ăn nhiều chất 3-MCPD đều bị ung thư. Thật ra, tỉ lệ mắc
bệnh ung thư trong nhóm chuột ăn nhiều chất 3-MCPD cao hơn nhóm
chuột không ăn chất 3-MCPD cao hơn chỉ 40%, và ngay cả con số
này cũng c̣n nhiều bất định v́ số lượng chuột sử dụng cho thí
nghiệm chỉ trên dưới 10 con. Tuy có hạn chế về phương pháp,
bằng chứng vẫn là bằng chứng. Vấn đề đặt ra là chúng ta nên
hiểu và diễn dịch bằng chứng này như thế nào? Đây là một vấn đề
mang tính triết lí khoa học và y đức.
Chuột không phải là con người. Một loại thuốc có thể chứng minh là an
toàn trên chuột không có nghĩa là nó sẽ an toàn trong con người,
và ngược lại. Tương tự, nếu yếu tố nào đó gây ra ung thư trong
chuột không có nghĩa là nó sẽ gây ra ung thư ở con người. Suy
luận từ những kết quả thử nghiệm trên chuột cho con người là một
suy luận nguy hiểm. Chính v́ thế mà các nghiên cứu trên chuột
hay trong ống nghiệm được y khoa đánh giá là những nghiên cứu có
giá trị thấp nhất, v́ độ tin cậy thấp nhất trong các nghiên cứu
y học.
Chúng ta không thể khái quát hóa những quan sát trên chuột sang con
người. Nhưng trong thực tế, tiến hành thử nghiệm trên con người
rất khó, có khi không thể làm được v́ lí do y đức. Thử tưởng
tượng xem: nếu chúng ta cho 1000 người ăn nửa lít nước tương có
chứa chất 3-MCPD mỗi ngày trong suốt 50 năm, và theo dơi xem bao
nhiêu người mắc bệnh ung thư. Không có ủy ban y đức nào cho
phép chúng ta làm một nghiên cứu như thế, và chắc cũng không có
một người nào có khả năng ăn nhiều nước tương như thế trong suốt
50 năm. Thành ra, chúng ta không có đạo đức nào khác hơn là đặt
vấn đề về sức khỏe con người qua một nhóm chuột. Và chúng ta
cũng không có đạo đức nào khác hơn là pḥng ngừa. Pḥng ngừa,
đứng trên quan điểm của y tế công cộng, là làm giảm nguy cơ mắc
bệnh, là không để cho một quần thể bị phơi nhiễm với những yếu
tố nguy cơ có thể gây bệnh. Do đó, cho dù kết quả nghiên cứu
trên chuột có phần hạn chế, chúng ta vẫn có lí do để khuyến cáo
rằng chất 3-MCPD có thể có hại cho sức khỏe, và nên tối thiểu
hóa phơi nhiễm chất này khi có thể.
Vấn đề ở đây là nguy cơ là một đo lường cho cộng
đồng có mẫu số, c̣n cá nhân th́ không có mẫu số và do đó, khái
niệm nguy cơ khó mà thuyết phục được bệnh nhân. Thật vậy, một
người bệnh đơn giản muốn biết: tôi năm nay 60 tuổi, ăn nhiều
nước tương chứa chất 3-MCPD, tôi hút thuốc lá, tôi hay uống bia,
vậy tôi có bị ung thư không? Câu trả lời mà bệnh nhân muốn biết
là “có” hay là “không”. Nhưng y khoa không thể nào trả lời rạch
ṛi như có hay không, trắng hay đen, mà chỉ có thể trả lời bằng
ngôn ngữ “nguy cơ”. Câu trả lời cho bệnh nhân là “dựa vào bằng
chứng nghiên cứu khoa học, cứ 100 người như anh (tức 60 tuổi,
hút thuốc lá, uống bia, ăn nước tương hàm chứa chất 3-MCPD) th́
có 3 người mắc bệnh ung thư trong ṿng 20 năm, nhưng tôi không
biết anh có nằm trong 3 trường hợp đó hay không. Tuy nhiên, v́
anh đang phơi nhiễm các yếu tố dễ gây bệnh, tôi đề nghị anh bỏ
hút thuốc lá, bớt rượu bia, và giảm lượng nước tương có chứa
chất 3-MCPD đến mức thấp nhất”.
Do đó, lần sau nếu bạn có đọc một bài báo hay một
bản tin hay phát biểu của một “chuyên gia” rằng một yếu tố nào
đó gây ra ung thư, bạn nên biết rằng đó là một phát biểu thiếu
chính xác, nếu không muốn nói là sai. Không! Không bao giờ có
một mối liên hệ xác định trong ung thư, không có một yếu tố đơn
thuần nào gây ung thư, không có một gien nào có thể gây ung thư;
các yếu tố môi trường hay/và gien tương tác với nhau làm gia
tăng (hay giảm) nguy cơ ung thư, chứ không gây ra ung
thư. |