Vi khuẩn gây tiêu chảy và ư nghĩa tiêm chủng
Nguyễn Văn Tuấn
Trong các ư kiến trước, tôi
có đề nghị nên xem xét một kế hoạch tiêm chủng cho những người
đang ở trong vùng lũ lụt, nhất là trẻ em. Tuy nhiên có ư kiến
ngần ngại thực hiện chính sách tiêm chủng. Tổ chức Y tế thế
giới đă từng có khuyến cáo sử dụng vắc-xin pḥng bệnh tả tại
những vùng xảy ra lũ lụt. Miền Trung đang xảy ra lũ lụt và có
nguy cơ cao bộc phát bệnh tả và tiêu chảy. Vậy tại sao các giới
chức y tế vẫn c̣n ngần ngại? Bài viết này điểm qua y văn về các
vi khuẩn gây bệnh tiêu chảy ở nước ta và lặp lại đề nghị tiêm
chủng cho những đối tượng có nguy cơ cao ở miền Trung.
Những con số về bệnh tả lại có xu hướng … nhảy đầm! Theo
báo chí th́ “tính từ ngày 23-10 đến nay đă có khoảng
1.500 người nhập viện, 159 người trong số này dương tính với vi
khuẩn tả.” Một đọan khác, bài báo trích lời phát biểu của
Bộ trưởng Bộ Y tế: “chúng tôi cũng công bố 15% tổng số ca
tiêu chảy cấp là do vi khuẩn tả”. Rất tiếc là những con số
này không nhất quán. Có hai khả năng: một là con số 1500 sai,
và hai là con số 15% sai. (Thật ra, c̣n một khả năng khác nữa:
cả hai đều sai, nhưng chúng ta sẽ không xét đến khả năng này).
Nếu con số 15% là đúng (159 ca bị nhiễm vi khuẩn tương đương với
15% tổng số ca bệnh tiêu chảy), th́ tổng số ca bệnh tiêu chảy
phải là 1060 (lấy 159 chia cho 0,15), chứ không phải 1500. Vậy
th́ câu hỏi đặt ra là: có bao nhiêu trường hợp bệnh tiêu chảy
cấp tính?
Nếu con số 1500 bệnh tiêu chảy cấp tính là đúng, th́ con số 15%
ắt phải sai. Chúng ta thử làm một tính toán đơn giản: lấy 159
chia cho 1500 và nhân cho 100, kết quả là 10,6%. Thế th́ câu
hỏi là: có bao nhiêu trường hợp tiêu chảy với dương tính vi
khuẩn V. cholerae?
Đây là một câu hỏi quan trọng, chứ không phải là tṛ chơi con số
thống kê nữa. Biết được tần số vi khuẩn giúp chúng ta có một
cái nh́n tổng quan và đi đến việc phát triển chính sách / biện
pháp y tế công cộng để pḥng bệnh. Chúng ta biết rằng bệnh tiêu
chảy có nhiều nguyên nhân, trong đó bệnh tả là một trong những
nguyên nhân quan trọng dẫn đến tiêu chảy. Bệnh tả do vi khuẩn
V. cholerae gây ra. Do đó, vi khuẩn V. cholerae cũng là
một nguyên nhân của bệnh tiêu chảy.
Ngoài vi khuẩn V. cholera, các vi khuẩn khác cũng có thể gây ra
chứng tiêu chảy như rotavirus nhóm A, E. coli, Shigella spp,
v.v… Nhưng rất tiếc cho đến nay, chúng ta vẫn chưa biết ngoài vi
khuẩn V. cholera chiếm khoảng 15% (hăy cứ cho đó là con số hiện
hành), số 85% c̣n lại bị nhiễm các vi khuẩn nào.
T́m trong y văn cho thấy trong quá khứ đă có khá nhiều nghiên
cứu về bệnh tiêu chảy ở nước ta. Như thường lệ, phần lớn các
nghiên cứu này đều do người nước ngoài thực hiện hay có sự cộng
tác của các nhà nghiên cứu Việt Nam. Một số dữ liệu thú vị có
thể kể đến như sau:
Trong thời gian từ 1966 đến 1969, một trận dịch tiêu chảy xảy ra
ở lính Mĩ tham chiến ở Việt Nam, chủ yếu ở miền Trung. Qua phân
tích 27.000 mẫu phân từ lính Mĩ bị tiêu chảy, các nhà nghiên cứu
phát hiện tần số vi khuẩn như sau: 39% vi khuẩn V. cholerae, 37%
có vi khuẩn Shigella spp, 15% E. coli, và 9% salmonella [1].
Trẻ em thường mắc bệnh tiêu chảy. Câu hỏi đặt ra do đó là tần
số các vi khuẩn này ờ trẻ em mắc bệnh tiêu chảy ra sao. Để trả
lời câu hỏi này, Isenbarger và đồng nghiệp theo dơi và phân tích
1655 trẻ em ở vùng Đồng bằng sông Hồng trong ṿng 12 tháng.
Trong thời gian theo dơi, có 2160 ca bệnh tiêu chảy; do đó, tính
trung b́nh mỗi em có khoảng 1,3 ca trong 12 tháng. Trong số ca
bệnh tiêu chảy, 65% bị nhiễm vi khuẩn Shigella (dạng s.
flexneri) [2].
Năm 2002, một nghiên cứu xuôi thời gian (prospective study) được
thực hiện ở tỉnh Khánh Ḥa. Trong thời gian 1/1995 đến 9/2001,
các nhà nghiên cứu ghi nhận 548 bệnh nhân, trong số này có 471
người lớn và 57 trẻ em. Phân tích vi sinh học cho thấy trong số
548 trường hợp tiêu chảy, có 53% dương tính với vi khuẩn V.
parahemolyticus [3].
Tiêu chảy đă từng được nghiên cứu ở Hà Nội. Trong một nghiên
cứu ở Hà Nội mới công bố trên tập san nhiễm trùng học quốc tế,
các nhà nghiên cứu phân tích số liệu từ 587 trẻ em mắc bệnh tiêu
chảy và 249 em không mắc bệnh (nhóm chứng). Trong nhóm tiêu
chảy, 41% xảy ra ở trẻ em dưới 1 tuổi. Phân tích vi sinh cho
thấy vi khuẩn rotavirus nhóm A hiện diện trong 47% trường hợp,
kế đến là E. coli (22,5%), Shigella spp (khoảng 5%) và
Bacteroides fragilis (khoảng 7%). Đáng chú ư là trong nghiên
cứu này các nhà nghiên cứu không phát hiện một trường hợp nào
với vi khuẩn V. cholerae và Salmonella [4].
Các
dữ liệu trên đây có ư nghĩa ǵ? Theo tôi, thứ nhất, các dữ liệu
trên trước hết cho chúng ta biết rằng bệnh do nhiễm trùng, kể cả
bệnh tả, vẫn c̣n là một mối đe dọa đến cộng đồng, bởi v́ một số
lớn người bị phơi nhiễm các vi khuẩn gây bệnh. Theo thống kê
của Tổ chức y tế thế giới Hàng năm trên thế giới có khoảng 12
triệu trẻ em chết trước tuổi 5, và trong số này 70% chết v́
những nguyên nhân liên quan đến bệnh tiêu chảy. Như vậy, các số
liệu trên cho thấy trẻ em dưới 5 tuổi cần phải được đặc biệt
theo dơi để ngăn ngừa bệnh bộc phát ở qui mô cộng đồng.
Thứ
hai, các nghiên cứu trên c̣n cho chúng ta thấy một xu hướng thú
vị về sự phân phối của vi khuẩn. Vi khuẩn quan trọng nhất vẫn
là V. cholerae (gây bệnh tả), Shigella dạng S.
flexneri, rotavirus nhóm A, E. coli, và Salmonella.
(Vi khuẩn V. parahemolyticus cũng có nhưng không đáng
kể). Trước đây V. cholerae rất hiếm thấy ở Hà Nội, nhưng lần
này, chúng ta thấy có đến 15% tiêu chảy cấp có nhiễm khuẩn này.
Bởi v́ vi khuẩn chủ yếu lan truyền qua nguồn nước, điều đó chứng
tỏ rằng nguồn nước ở Hà Nội có thể bị nhiễm. Điều này cũng hàm
ư rằng biện pháp làm sạch nguồn nước bằng chlorine có thể là một
biện pháp thực tế nhất, cũng với các biện pháp kiểm tra thực
phẩm, để làm giảm nguy cơ mắc bệnh ở qui mô cộng đồng. Đă có
ước tính rằng nếu mỗi nhà có cầu xí đảm bảo vệ sinh, số trường
hợp tiêu chảy và bệnh tả có thể giảm đến 20%.
Đáng chú ư trong danh sách trên là vi khuẩn Shigella. Vi khuẩn
này xuất hiện dưới hai biến thể (hay dạng) chính: S. flexneri
và S. sonnei. Trong một nghiên cứu đặc biệt về các
trường hợp tiêu chảy do vi khuẩn Shigella gây ra tại một số nước
Á châu, các nhà nghiên cứu phát hiện rằng ở Việt Nam, trong số
11419 ca tiêu chảy, 72% có nhiễm vi khuẩn S. flexneri và
26% S. sonnei. Ở Trung Quốc, Nam Dương, Pakistan và
Bangladesh cũng có tỉ lệ tương tự như nước ta. Ngược lại, ở
Thái Lan, trong số 8612 ca tiêu chảy, 15% bị nhiễm S.
flexneri và 85% bị nhiễm S. sonnei [5]. Việc xét
nghiệm vi khuẩn này không khó và đă được phát triển [6] nhưng
quan trọng hơn đă có vắc-xin pḥng chống bệnh.
Thứ
ba là trong bối cảnh hiện nay (11/07) vấn đề sử dụng vắc-xin
trong việc pḥng chống bệnh tả và tiêu chảy có thể phải đặt ra.
Có hai nhóm đối tượng cần phải quan tâm ở đây: những người đang
sống trong vùng chịu ảnh hưởng (chủ yếu ở phía Bắc) và những
người đang sống với lũ lụt ở miền Trung. Đối với những người
đang ở trong vùng bị ảnh hưởng bệnh tả, tôi thấy cần phải có một
chiến dịch làm sạch nguồn nước bằng chlorine, chỉ người dân cách
tẩy trùng (nếu ăn mắm tôm hay rau cải th́ dùng trái chanh – rất
hữu hiệu diệt vi khuẩn V. cholerae), giáo dục y tế công cộng về
vệ sinh cá nhân và an toàn thực phẩm cho người dân. Bộ Y tế cần
phải sản xuất những đoạn phim ngắn và những tờ rơi để chỉ dẫn cụ
thể cho người dân phương thức pḥng bệnh tả.
Đối với người dân đang chịu nạn băo lụt ở miền Trung, vi khuẩn
có thể lan truyền theo đường nước và do đó nhóm này cũng có nguy
cơ nhiễm vi khuẩn cao. Cũng cần nhắc lại rằng miền Trung là
vùng có “tiền sử” bị dịch tả trong quá khứ nhiều lần. Tôi nghĩ
chúng ta có thể học bài học của Nam Dương để đi đến một chiến
dịch tiêm chủng ngừa các đối tượng có nguy cơ cao như trẻ em
dưới 5 năm tuổi, người cao tuổi, người với nhóm máu O, v.v… Đă
có nhiều nghiên cứu cho thấy tiêm chủng những vùng như thế có
thể đem lại hiệu quả lâm sàng và kinh tế cao [7-8].
Chúng ta có thể h́nh dung một t́nh huống đơn giản, nhưng không
phải là quá phi thực tế. Giả dụ một cộng đồng gồm 1000 trẻ em
dưới 5 tuổi đang ở vùng lũ lụt. Phải làm ǵ để pḥng chống bệnh
tiêu chảy và bệnh tả? Chúng ta có hai lựa chọn: một là tiến
hành một vận động mang tính giáo dục y tế công cộng, và hai là
tiêm chủng cộng với giáo dục y tế công cộng.
Theo chiến lược thứ nhất, bởi v́ trong t́nh h́nh trốn lũ, các
gia đ́nh không có nhà xí vệ sinh hay nguồn nước sạch, cho nên
nếu dịch lan tràn, có thể 20% các trẻ em (hay 200 em) bị nhiễm
và mắc bệnh (theo y văn). Với chi phí điều trị và chăm sóc
(gián tiếp và trực tiếp) mỗi ngày trung b́nh 50.000Đ, và vẫn
theo y văn phải điều trị 5 ngày, th́ chi phí toàn bộ là 200 x
50.000 x 5 = 50 triệu đồng.
Theo chiến lược thứ hai, chúng ta vừa vận động y tế công cộng
vừa tiêm chủng ngừa. Theo y văn từ Việt Nam, chi phí tiêm chủng
khoảng 16.000đồng/em. Nhưng chúng ta phải tiêm cho 1000 em, do
đó chi phí là 16 triệu đồng. Vẫn theo y văn, tiêm chủng có thể
ngăn ngừa được 70% ca bệnh; do đó, chúng ta vẫn có 60 ca bệnh.
Chi phí điều trị và chăm sóc cho 60 ca bệnh này là 60 x 50.000 x
5 = 15 triệu. Như vậy tổng chi phí cho chiến lược 2 là 31 triệu
đồng. So với chiến lược thụ động tốn 50 triệu đồng, chiến lược
2 tiết kiệm cho xă hội đến 19 triệu đồng.
Các tính toán đơn giản trên đây cho thấy tiêm chủng có hiệu quả
kinh tế, nhưng quan trọng hơn là ngăn ngừa bệnh. Ví dụ tính
toán trên chỉ dựa vào 1000 trẻ em, nhưng trong thực tế th́ con
số này rất (hàng triệu), cho nên hiệu quả kinh tế và lâm sàng có
thể rất cao. Cố nhiên, mô h́nh cho hai chiến lược trên c̣n tùy
thuộc vào giả định về tỉ lệc mắc bệnh và chi phí, mà cho đến nay
chúng ta vẫn phải sử dụng số liệu từ nước ngoài. Chúng ta cần
số liệu ở Việt Nam!
Thật vậy, không thể nào hành động mà không có thông tin hay
không dựa vào thông tin. Do đó, việc thu thập thông tin khoa
học một cách có hệ thống qua các nghiên cứu dịch tễ học là một
nhu cầu rất lớn hiện nay. Có thể nói đây là cơ hội lí tưởng để
thực hiện những nghiên cứu dịch tễ học để t́m hiểu các yếu tố
nguy cơ và qui mô để phục vụ cho một chiến lược pḥng chống bệnh
về lâu về dài.
Tài liệu tham khảo:
[1] Sullivan TJ, Nhu-Tuan NT. Bacterial enterpathogens in the
Republic of South Vietnam. Mil Med 1971; 136:1-6.
[2] Isenbarger
DW, et al. Prospective study of the incidence of diarrhoea and
prevalence of bacterial pathogens in a cohort of Vietnamese
children along the Red River. Epidemiol Infect. 2001 Oct;127(2):229-36.
[3] Tuyet DT,
et al. Clinical, epidemiological, and socioeconomic analysis of
an outbreak of Vibrio parahaemolyticus in Khanh Hoa Province,
Vietnam. J Infect Dis. 2002 Dec 1;186(11):1615-20.
[4] Vu Nguyen
T, et al. Etiology and epidemiology of diarrhea in children in
Hanoi, Vietnam. Int J Infect Dis. 2006 Jul;10(4):298-308.
[5] von
Seidlein, et al. A multicentre study of Shigella diarrhoea in
six Asian countries: disease burden, clinical manifestations,
and microbiology. PLoS Med. 2006 Sep;3(9):e353.
[6] Nato F, et
al. Dipstick for rapid diagnosis of Shigella flexneri 2a in
stool. PLoS ONE. 2007 Apr 18;2(4):e361.
[7] Sur D, et
al. Occurrence, significance and molecular epidemiology of
cholera outbreaks in West Bengal. Indian J Med Res
2007;125:772-776.
[8] Naficy A,
et al. Treatment and vaccination strategies to control cholera
in Sub-Saharan Refugee Settings. JAMA 1998;279:521-525.
|