Văn hóa khoa học
Nguyễn Văn Tuấn
Trong một lần nói chuyện về đề tài béo ph́ và sắc đẹp con người,
người viết bài này đề cập đến một nghiên cứu ở Anh mà trong đó
các nhà khoa học đo lường các chỉ số nhân trắc như chiều cao,
ṿng eo, ṿng mông, cân nặng, và sử dụng các thuật toán thống kê
để phát triển một mô h́nh định lượng “đẹp” dựa vào các đo lường
trên. Đồng nghiệp và sinh viên trong cử tọa cười ồ lên và tỏ ra
ngạc nhiên về ư tưởng mà họ cho là rất lạ lùng đó. Có người c̣n
nói “Đúng là ở Tây phương người ta thừa tiền của để làm những
nghiên cứu vớ vẩn”! Thoạt đầu mới nghe qua th́ quả là … vớ vẩn
thật, nhưng suy nghĩ kĩ th́ công tŕnh nghiên cứu có ứng dụng
rất lớn trong y tế và thương mại. Cái mô h́nh thống kê để tiên
đoán cái đẹp đó không phải chỉ là phương tiện dành cho các thanh
niên để đi t́m người bạn đời, mà c̣n là một cơ sở khoa học để
các nhà sản xuất quần áo thời trang dựa vào đó mà phát triển
những chuẩn mực thích hợp cho từng độ tuổi và giới tính của một
quần thể, và qua đó họ có thể đánh giá được thị trường tiêu thụ
ra sao.
Phản ứng của đồng nghiệp và sinh viên Việt Nam trước những
nghiên cứu khoa học lạ mà tôi vừa kể trên đây không phải là cá
biệt, mà khá phổ biến. Trước những kết quả nghiên cứu có vẻ khá
hiển nhiên, chúng ta thường nói “Cái đó không làm nghiên cứu
cũng biết”. Thói quen suy nghĩ kiểu “không làm nghiên cứu
cũng biết” vô t́nh làm cho chúng ta thụ động, chỉ khoanh tay
nh́n thế giới, mà không chịu khó t́m ṭi và đào sâu suy nghĩ.
Thói quen này c̣n là một hàng rào cản trở tiến bộ khoa học, bởi
v́ nói thư thế là mặc nhiên công nhận một giả định rằng những ǵ
ḿnh biết là chân lí, không cần làm ǵ thêm. Vả lại, vấn đề
không phải đơn thuần là biết hay không biết, mà là định lượng
cái biết của ḿnh bao nhiêu, biết như thế nào, biết từ đâu, v.v…
Nói tóm lại, phải có một văn hóa khoa học th́ mới cảm nhận được
những nghiên cứu mà thoạt đầu tưởng như vớ vẩn và vô bổ ấy.
Vậy
th́ văn hóa khoa học là ǵ và có những đặc điểm ǵ? Theo định
nghĩa của giới xă hội học, văn hóa bao gồm những qui ước, giá
trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra và tích lũy
trong quá tŕnh tương tác giữa con người và môi trường tự nhiên.
Hoạt động khoa học dựa vào một số qui tŕnh, qui ước đă được
cộng đồng quốc tế chấp nhận và lấy làm chuẩn, và do đó hoạt động
khoa học tạo nên văn hóa khoa học. Chẳng hạn như trong khi làm
thí nghiệm, tất cả các dữ liệu liên quan đến phương pháp, số
liệu, h́nh ảnh, hay nói chung kết quả đều phải được ghi chép cẩn
thận trong nhật kí thí nghiệm, và nếu cần phải có một đồng môn
kí vào nhật kí. Tất cả các kết quả phải được tŕnh bày trong
các buổi họp hàng tuần trước đồng nghiệp và được “soi mói” cẩn
thận. Hay trong thực hành lâm sàng, bác sĩ phải tŕnh bày những
ca bệnh ḿnh phụ trách trong buổi họp giao ban, để các đồng
nghiệp khác bàn luận. Đó là một khía cạnh của văn hóa khoa học.
Theo tôi, đặc điểm thứ nhất của văn hóa khoa học là thói quen
đặt câu hỏi. Đứng trước một sự kiện hay sự
vật, người có văn hóa khoa học phải đặt câu hỏi tại sao, đào sâu
suy nghĩ, và từ đó phát hiện vấn đề. Một khi đă phát hiện được
vấn đề th́ giải pháp để giải quyết cũng có thể theo sau. Chính
v́ thế mà có người nói trong khoa học, biết được câu hỏi, biết
được vấn đề cũng có nghĩa là đă thành công 50% trong nghiên cứu.
Kĩ năng phát hiện vấn đề được hệ thống giáo dục phương Tây phát
đặc biệt chú trọng ngay từ bậc tiểu học. Ngay từ lúc mới vào
học, học sinh các nước Tây phương đă khuyến khích tự ḿnh t́m
hiểu thế giới chung quanh, đặt câu hỏi, và tranh luận trước lớp
học. Nhưng ở nước ta, phương pháp giáo dục phổ thông đ̣i hỏi
học sinh phải nhồi nhét một số kiến thức cơ bản, và giải quyết
những vấn đề theo một công thức đă định sẳn, nhưng không khuyết
khích cách đặt vấn đề, phát hiện vấn đề.
Một điểm đáng chú ư khác là giáo dục Việt Nam một cách vô h́nh
đặt người học sinh và sinh viên vào một vị trí học thuật khiêm
tốn. Sự tôn ti trật tự trong học thuật đó đ̣i hỏi người học
sinh và sinh viên phải biết ḿnh đang ở vị trí không có quyền
đặt vấn đề, không có quyền tranh luận. Hệ quả là chưa lên tiếng
th́ đă bị phê b́nh ngay “con nít mới học vài ba chữ biết ǵ mà
nói”, hay “không biết th́ dựa cột mà nghe”, hay thậm chí “hỗn
với thầy cô”. Thái độ trù dập như thế làm thui chột khả năng
phát hiện vấn đề và làm suy giảm sự tự tin của học sinh. Trưởng
thành trong môi trường thứ bậc trong học thuật như thế, không
ngạc nhiên khi sinh viên của chúng ta ra ngoài du học tuy rất
khá trong việc trả bài, học trong khuôn khổ của sách giáo khoa,
nhưng khi học cao lên một bậc hay thoát ra ngoài sách vở th́ họ
rất lúng túng trong nghiên cứu khoa học, v́ họ không biết cách
đặt vấn đề và cũng thiếu tự tin để tŕnh bày vấn đề.
Đặc điểm thứ hai của văn hóa khoa học là “nói có sách, mách
có chứng.” Kiến thức mang tính kế thừa từ đời này sang đời
khác. Thành ra, đối với người có tinh thần khoa học nghiêm túc,
phát biểu có cơ sở và tài liệu tham khảo là điều đương nhiên.
Mở bất cứ một sách giáo khoa hay thậm chí sách tham luận nào ở
các nước Tây phương, chúng ta đều thấy phần tài liệu tham khảo
dồi dào, ngay cả những thư từ trao đổi cá nhân cũng được tŕnh
bày cẩn thận với sự cho phép của đương sự. Cách làm việc này
c̣n là một cách kế thừa di sản của người đi trước, và cũng là
một cách ghi nhận công trạng của họ.
Nhưng rất tiếc là ở nước ta, văn hóa “nói có sách mách có chứng”
này vẫn chưa được chấp nhận rộng răi. Có thể t́m thấy khá nhiều
sách khoa học ở Việt Nam không kèm theo một tài liệu tham khảo
nào. V́ không có tài liệu tham khảo, người đọc không biết tất
cả những phát biểu trong sách là phát kiến của tác giả, hay mượn
của người khác mà không chịu ghi nhận. Nếu là phát kiến của
chính tác giả th́ không có ǵ để nói, nhưng nếu lấy từ tài liệu
của người khác th́ đó là một vi phạm đạo đức khoa học.
Phải nói thêm rằng “nói có sách, mách có chứng” có nghĩa là dựa
vào tài liệu tham khảo gốc mà người phát biểu phải có trong tay,
tận mắt nh́n thấy, và từng đọc qua. “Nói có sách, mách có chứng”
không có nghĩa là trích dẫn nguồn tài liệu hạng thứ, hay trích
dẫn từ một nguồn nào đó mà người phát biểu chưa từng đọc qua.
Đây là một vấn đề trong khá nhiều bài báo nghiên cứu khoa học ở
nước ta, v́ nhiều tác giả có xu hướng trích dẫn tài liệu theo
những bài báo khác, chứ không có tài liệu gốc, và hệ quả là
nhiều phát biểu rất sai lầm, một sai lầm mang tính truyền nhiễm.
Đặc điểm thứ ba của văn hóa khoa học là tôn trọng sự thật
khách quan. Làm khoa học là một hành tŕnh đi t́m sự thật,
khai hóa, truyền bá cái mà chúng ta gọi là “văn minh”, và v́ thế
khoa học đặt sự thật trên hết và trước hết, trước tất cả những
định kiến cá nhân. Khoa học dựa vào những sự thật có thể thấy,
có thể nghe, có thể sờ được, chứ không dựa vào kinh nghiệm cá
nhân hay suy luận theo cảm tính. Điều quan trọng và cần thiết
trong khoa học là không chỉ sự thật, mà là sự thật có liên quan
đến vấn đề đang được điều tra. Những sự thật này phải được thu
thập (i) có tổ chức, trực tiếp, và khách quan; (ii) độc lập với
lí thuyết; và (iii) một cách tin cậy để làm nền tảng cho suy
luận.
Một số sinh viên khi làm nghiên cứu chưa quán triệt văn hóa khoa
học nên có xu hướng sửa số liệu hay bỏ qua số liệu. Người viết
bài này từng có một kinh nghiệm thú vị: khi phân tích mối tương
quan giữa lượng đường trong máu và độ cholesterol trong máu, nhà
nghiên cứu phát hiện một bệnh nhân với số liệu “trệch hướng” với
mô h́nh, và đơn phương quyết định bỏ số liệu của bệnh nhân này
để phân tích lại. Đây là một vi phạm nghiên trọng trong hoạt
động khoa học. Văn hóa khoa học không cho phép chúng ta làm như
thế. Trong hoạt động khoa học, tất cả những thất bại hay bất
b́nh thường đều được khai thác, xem xét kĩ lưỡng để học hỏi thêm.
Có khi chính những dữ liệu bất thường này là đ̣n bẫy để chúng ta
phát hiện một cái mới thú vị khác. Thuốc viagra được phát hiện
một cách t́nh cờ v́ phản ứng của thuốc không nằm trong “dự kiến”
của các nhà nghiên cứu. Nhiều khám phá khoa học b́nh thường đă
được thực hiện từ những dữ liệu bất b́nh thường như thế. Tôn
trọng sự thật khách quan để một cách nói rằng những giả thuyết
sai lầm có thể cho ra những kết quả đúng nhưng ngẫu nhiên; tuy
nhiên, không một giả thuyết đúng nào có thể cho ra những kết quả
sai lầm.
Đặc điểm thứ tư của văn hóa khoa học là làm việc và thực hành
dựa vào bằng chứng khách quan. Trong khoa học, niềm tin và
kinh nghiệm cá nhân không thể xem là khách quan, và không thể
làm nền tảng để hành động, nếu những kinh nghiệm đó chưa qua thử
nghiệm khách quan. Trong y khoa, học
thuyết y học thực chứng (evidence-based medicine) ra đời với
phương châm thực hành lâm sàng phải dựa vào bằng chứng đúc kết
từ các nghiên cứu khoa học. Học thuyết này đă lan rộng sang các
ngành nghề khác như y tế công cộng, môi trường học, thậm chí
quản lí hành chính. Theo đó, chúng ta phải hành xử và phán xét
dựa trên cơ sở dữ kiện nghiên cứu, những dữ kiện được thu
thập một cách khách quan, chứ không dựa vào cảm tính hay theo
phong trào hay áp lực.
Người Việt chúng ta c̣n quá quen với thói quen phát biểu theo
kinh nghiệm cá nhân, niềm tin, thậm chí theo cảm tính. Chẳng
hạn như năm ngoái, khi bệnh xơ hóa cơ delta bùng phát,
một số chuyên gia phát biểu một cách
khẳng định rằng (“theo kinh nghiệm của tôi”) nguyên nhân bệnh là
do tiêm chích thuốc nhiều lần. Cần nói ngay rằng kinh nghiệm cá
nhân dù rất quan trọng và có khi quí báu, nhưng không thể thay
thế cho các sự thật được đúc kết từ những nghiên cứu khoa học
khách quan.
Một kinh nghiệm trong y
học trước đây cho thấy giải quyết vấn đề theo kinh nghiệm và
niềm tin cá nhân có thể gây ra nhiều tai họa nguy hiểm. Ở các
nước Tây phương khoảng 20 năm trước đây thay thế estrogen từng
được xem là một “thần dược” cho những phụ nữ sau măn kinh, và
các giáo sư y khoa tin vào hiệu quả của thuốc này đến nỗi cảnh
báo các sinh viên y khoa rằng nếu mai đây khi hành nghề họ không
sử dụng thuốc cho vài bệnh liên quan đến măn kinh là một cái tội!
Cho đến khi khoảng cuối thập niên 1990s, nhiều nghiên cứu khách
quan cho thấy thay thế hormone có thể gây ra nhiều tác hại cho
bệnh nhân hơn là lợi ích.
Có lẽ thói quen
thực hành dựa vào bằng chứng khách quan đă làm thiệt tḥi y học
cổ truyền ở nước ta. Các thuật điều trị cổ truyền đă được thực
hành qua hàng ngh́n năm, nhưng hiệu quả của chúng vẫn chưa được
nghiên cứu một cách có hệ thống. Chúng ta vẫn c̣n tin và hành
xử theo tin đồn, theo truyền thuyết, thậm chí theo những niềm
tin dị đoan.
Đặc điểm thứ năm của văn hóa khoa học là hệ thống hóa những
ǵ ḿnh biết, không dấu diếm. Trong hoạt động khoa học, tất
cả những giả thuyết, phương pháp nghiên cứu, phương pháp phân
tích, kết quả, và ư nghĩa của kết quả đều phải được hệ thống hóa
trong một báo cáo khoa học, và công bố cho toàn thế giới biết.
(Tất nhiên, đôi khi v́ quyền lợi kinh tế và an ninh quốc gia,
một số phương pháp không được công bố). Đặc điểm “văn hóa mở”
này rất quan trọng và có lẽ là một yếu tố thúc đẩy phát triển
khoa học ở các nước Tây phương. Đọc lại những nghiên cứu khoa
học đơn giản từ thế kỉ 19 và đầu thế kỉ 20, tôi không khỏi thầm
khen những ghi chép cẩn thận (có khi cẩn thận đến từng dấu chấm
và con số lẻ) của những nhà nghiên cứu thời đó, không có dấu
diếm ǵ cả. Nhưng ở nước ta, “văn hóa dấu nghề” h́nh như vẫn
c̣n tồn tại trong không ít nhà khoa học. Những câu chuyện về
giáo sư cố t́nh không truyền hết kĩ năng cho sinh viên và nghiên
cứu sinh ở nước ta đôi khi nghe qua rất khôi hài, nhưng rất tiếc
là lại thực tế.
Trong hoạt động khoa học, báo cáo khoa học thường được gửi cho
một tập san chuyên ngành để đồng nghiệp có cơ hội thẩm định, và
nếu không có vấn đề, sẽ công bố để đồng nghiệp khắp nơi trên thế
giới biết được. Công bố báo cáo khoa học trên các tập san
chuyên môn c̣n là một h́nh thức “thử lửa” và bảo đảm chất lượng
của nghiên cứu. Trên b́nh diện quốc gia, công bố báo cáo khoa
học trên các diễn đàn khoa học quốc tế là một cách không chỉ
nâng cao sự hiện diện, mà c̣n nâng cao năng suất khoa học, của
nước nhà. Ở phương Tây người ta thường thống kê số lượng bài
báo khoa học mà các nhà khoa học công bố trên các tập chí chuyên
ngành để đo lường và so sánh hiệu suất khoa học giữa các quốc
gia.
Nhưng ở nước ta văn hóa công bố báo cáo khoa học trên trường
quốc tế vẫn chưa được h́nh thành rơ rệt. Phần lớn các công
tŕnh nghiên cứu tại nước ta chỉ được kết thúc bằng những buổi
nghiệm thu hay luận án. Thật vậy, phần lớn các nghiên cứu khoa
học ở nước ta chỉ được công bố trong các tập san nội địa dưới
h́nh thức bản tóm tắt hay không qua b́nh duyệt nghiêm chỉnh.
Trong hoạt động khoa học, cho dù công tŕnh đă được nghiệm thu
hay đưa vào luận án tiến sĩ hay thạc sĩ , nếu chưa được công bố
trên các diễn đàn khoa học quốc tế th́ công tŕnh đó coi như
chưa hoàn tất, bởi v́ nó chưa qua “thử lửa” với môi trường rộng
lớn hơn.
Theo tác giả Phạm Duy Hiển (Tạp chí Tia Sáng số Tháng 6
năm 2005) trong năm 2003, các nhà khoa học Việt Nam đă công bố
trên 7000 bài báo trên các tạp chí hay tập san khoa học trong
nước. Con số này rất ư là ấn tượng, song đó chỉ là những bài
báo “ta viết cho ta đọc” chứ trên trường quốc tế th́ sự hiện
diện của các nhà khoa học Việt Nam c̣n rất khiêm tốn. Vẫn theo
tác giả Phạm Duy Hiển, trong năm 2001 các nhà khoa học Việt Nam
chỉ công bố được 354 bài báo khoa học trên các tập san quốc tế,
mà 71% con số này là do cộng tác với các nhà khoa học ngoài Việt
Nam. Trong ngành y khoa, trong suốt 40 năm qua (tính từ 1965)
các nhà khoa học tại Việt Nam chỉ có khoảng 300 bài báo trên các
tập san y sinh học quốc tế. Đó là những con số cực ḱ khiêm tốn,
nếu so sánh với Thái Lan (5000 bài) hay Singapore (20.000 bài).
Đặc điểm thứ sáu của văn hóa khoa học là dân chủ. Thật
vậy, hoạt động khoa học là một môi trường dân chủ, hiểu theo
nghĩa tất cả các phát kiến của nhà khoa học đều được đồng nghiệp
b́nh duyệt nghiêm túc, và ngược lại, nhà khoa học cũng có cơ hội
b́nh duyệt các nghiên cứu của đồng nghiệp ḿnh. Dân chủ trong
khoa học c̣n có nghĩa một mô thức (paradigm) nào đó được đa số
cộng đồng khoa học chấp nhận, th́ mô thức đó được xem là chuẩn
để thực hành. Nhưng đến khi mô thức đó được chứng minh không
c̣n thích hợp hay sai, th́ vẫn theo tinh thần dân chủ, mô thức
đó sẽ được thay đổi bằng một mô thức mới.
Tinh thần dân chủ khoa học c̣n có nghĩa là các nhà khoa học lớn
và có kinh nghiệm phải lắng nghe ư kiến của các nhà khoa học trẻ,
chứ không có t́nh trạng “cây đa cây đề” dùng uy tín cá nhân để
lấn ép đồng nghiệp trẻ. Bất cứ ai từng đi dự các hội nghị khoa
học ở các nước Tây phương đều thấy những nhà khoa học cao tuổi,
những người mà chúng ta hay gọi là “cây đa cây đề” nghiêm chỉnh
lắng nghe đồng nghiệp trẻ tŕnh bày, hay trả lời nghiêm chỉnh
những phê phán, phản biện từ đồng nghiệp trẻ đáng tuổi học tṛ
hay con cháu ḿnh. Rất tiếc tinh thần dân chủ này chưa thể hiện
rơ ở nước ta, v́ vẫn c̣n khá nhiều giáo sư lâu năm tự cho ḿnh
cái quyền lên lớp giới trẻ mà không chịu lắng nghe hay đánh giá
thấp ư kiến của giới trẻ. Có nhiều vị thậm chí không chịu tiếp
cận một cái nh́n mới về một vấn đề cũ, và hệ quả là các trao đổi
chỉ có một chiều, thiếu dân chủ, làm cho hoạt động khoa học mất
hào hứng và tất nhiên là thiếu dân chủ.
Đặc điểm thứ bảy của văn hóa khoa học là kế thừa. Điều
đẹp nhất của văn hóa khoa học không chỉ là dân chủ mà c̣n mang
tính kế thừa, chuẩn bị cho một thế hệ tiếp nối. Không có kế
thừa, khoa học sẽ là đi vào bế tắc rất nhanh. Ở các nước phương
Tây (như ở Úc nơi người viết bài này đang làm việc), người ta có
những kế hoạch cụ thể, kể lập ra những ngân sách đặc biệt, để
nuôi dưỡng thế hệ nghiên cứu khoa học trẻ, những người đă có học
vị tiến sĩ và đang làm nghiên cứu hậu tiến sĩ. Ngân sách này
được phân phối cho các trung tâm nghiên cứu có điều kiện và cơ
sở vật chất để sử dụng các nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ và từng
bước đào tạo họ thành những nhà nghiên cứu độc lập, những con
chim đầu đàn. Ngoài ra, trong các hội nghị quốc gia, những “cây
đa cây đề” thậm chí nhường những chức vụ và vai tṛ quan trọng
cho giới trẻ đảm trách để chuẩn bị họ cho một tương lai kế thừa
sự nghiệp của những người đang sắp về hưu.
Nhưng ở nước ta, việc chuẩn bị cho thế hệ kế tiếp vẫn c̣n là một
… ư nguyện. Nhiều nhà khoa học trẻ được đào tạo bài bản từ
trong và ngoài nước vẫn chỉ là những cái bóng bên cạnh các “cây
đa cây đề”, chưa được giao những trọng trách. Có người chờ đợi
ṃn mỏi, và không đủ kiên nhẫn (cũng không thể trách họ) nên
đành phải t́m cách ra nước ngoài và khả năng quay về nước thật
thấp. Hệ quả là ngày nay, chúng ta thường nghe đến t́nh trạng
“lăo hóa” trong đội ngũ nghiên cứu khoa học nước nhà: trong khi
những nhà khoa học lớn sắp về hưu chúng ta vẫn chưa có một đội
ngũ xứng đáng kế thừa. Theo thống kê năm 2000, chỉ có 15% thầy
cô đại học có học vị tiến sĩ (một học vị cần thiết cho nghiên
cứu khoa học độc lập), và trong số mang hàm giáo sư, phần lớn ở
độ tuổi 60 – 65. Với một lực lượng yếu như thế, không ngạc
nhiên chúng ta chưa đủ khả năng để cạnh tranh trên trường quốc
tế như là một tập thể. Sự hụt hẫng này xảy ra v́ văn hóa kế
thừa trong khoa học ở nước ta chưa được h́nh thành.
Đặc điểm thứ tám của văn hóa khoa học là trách nhiệm xă hội.
Bản chất của khoa học là nhân đạo, và v́ thế hoạt động khoa học
c̣n phải có trách nhiệm với xă hội. Người làm khoa học, nói cho
cùng, cũng là một thành viên trong xă hội, chứ không thể nào
đứng ngoài hay đứng cao hơn xă hội. Nhà khoa học phải thông qua
các cơ chế dân chủ để truyền đạt tri thức, để có tiếng nói;
không thông qua các cơ chế này là biểu hiện của sự kiêu ngạo.
Trong thập niên 1960s, trước chiến dịch sử dụng chất độc da cam
ở Việt Nam, các nhà khoa học Mĩ cũng đă lên tiếng phản đối, và
một số c̣n lên án gay gắt hành động này và và yêu cầu Chính phủ
Mĩ phải ngưng ngay việc dùng hóa chất độc hại. Năm 1967, Hiệp
hội v́ Phát triển Khoa học Mĩ (American Association for the
Advancement of Science), với sự thúc đẩy của Giáo sư E. W.
Pfeiffer (Đại học Montana), khuyến cáo Bộ quốc pḥng Mĩ về hậu
quả lâu dài cho người dân và môi sinh Việt Nam do chiến dịch
phun hóa chất gây ra. Mới đây, Việt Nam bàn thảo dự án xây một
nhà máy điện hạt nhân, và các nhà khoa học trong và ngoài nước
cũng đă góp ư khá sôi nổi, và đó chính là một cách thể hiện
trách nhiệm xă hội của người làm khoa học. Trong thực tế, không
phải lúc nào các nhà khoa học cũng thành công trong việc thuyết
phục chính quyền, nhưng ai cũng nhất trí là nhà khoa học phải có
trách nhiệm với xă hội, và lên tiếng là một điều cần thiết.
***
Những đặc điểm mà tôi vừa nêu có lẽ chưa hoàn toán đầy đủ, nhưng
thiết nghĩ cũng nói lên được những khía cạnh cơ bản của văn hóa
khoa học. Tất nhiên, văn hóa khoa học có thể khác nhau giữa các
quốc gia, nhưng các đặc điểm phổ quát mà đại đa số những người
làm khoa học chấp nhận. Nh́n qua những đặc điểm trên, chúng ta
thấy văn hóa khoa học thực chất là những mô thức, những “mốt” mà
con người và xă hội tiếp nhận khoa học và công nghệ.
Văn hóa khoa học có ảnh hưởng đến văn hóa và xă hội nói chung.
Chẳng hạn như trong y học có văn hóa y học, và một trong những
đặc điểm của văn hóa đó là thực hành lâm sàng theo bằng chứng
nghiên cứu khoa học (tức là y học thực chứng), nhưng văn hóa này
c̣n ảnh hưởng đến các hoạt động khác ngoài y học, kể cả hoạt
động chính trị. Đó cũng là một đóng góp gián tiếp của văn hóa
khoa học cho văn hóa xă hội.
Trong thập niên vừa qua, văn hóa khoa học đă trở thành một “đề
án” được thảo luận rộng răi ở các nước Tây phương. Phần lớn
giới hoạch định chính sách quốc gia xem văn hóa khoa học là một
yếu tố trong phát triển kinh tế và phát triển xă hội. Đối với
giáo dục, văn hóa khoa học là một điều kiện cơ bản và cần thiết
mà người dân cần có để hiểu các vấn đề khoa học của xă hội hiện
đại, và từ đó mỗi công dân có thể đóng góp một vai tṛ tích cực
cho tranh luận xă hội. Dưới cái nh́n của các nhà xă hội học và
sử gia Tây phương, văn hóa khoa học là một điều kiện tất yếu cho
phát triển kinh tế và sáng tạo. Kinh nghiệm từ các nước Tây
phương tiên tiến cho thấy khoa học và văn hóa khoa học không chỉ
sản sinh ra một số giá trị mới để hiểu thế giới chung quanh, mà
c̣n thay đổi mục tiêu của hoạt động kinh tế, và thay đổi xă hội
thành mội môi trường khoa học hiện đại, và qua đó thúc đẩy hoạt
động khoa học.
Nếu kinh nghiệm của các nước Tây phương là một bài học, sự phát
triển khoa học và kinh tế ở nước ta không chỉ phụ thuộc vào việc
ta có ít hay nhiều viện nghiên cứu hay nhiều tiền, mà chủ yếu
phụ thuộc vào văn hóa khoa học. Có thể nói từ xưa, nước ta
không có một truyền thống khảo cứu khoa học. Lịch sử Việt Nam
cho thấy nước ta có nhiều anh hùng quân sự, nhà thơ, nhà sử học,
nhưng rất ít nhà khoa học, kĩ sư hay nhà kinh tế. Hệ thống giáo
dục của nước ta ngày xưa được mô phỏng theo hệ thống giáo dục
của Trung Quốc. Hệ thống này đ̣i hỏi người học sinh phải tuân
theo sách vở một cách máy móc, và không khuyến khích sự tự do
t́m ṭi, thử nghiệm. Nó ca ngợi sự học thuộc ḷng những điều
chỉ dạy của Khổng Tử, và khinh bỉ những ai làm nghề tay chân (kĩ
sư, khoa học gia, công nhân, nông dân, v.v…) hay làm thương mại.
Khi người Pháp vào Việt Nam, hệ thống giáo dục Trung Quốc được
thay thế bằng hệ thống giáo dục Pháp, phải nói là có “tiến bộ”
hơn, v́ những tri thức khoa học và kĩ thuật được đưa vào một
cách có hệ thống hơn, nhưng cũng, một phần lớn, chỉ để phục vụ
cho thực dân. Với cả một hệ thống giáo dục, học sinh phải học
thuộc ḷng sách giáo khoa nhằm cố thi đỗ trong các kỳ thi rất
gắt gao. Cách giáo dục "độc thoại" và "thụ động" này làm cho
người học sinh nản ḷng đi t́m hiểu, chất vấn những sự việc,
hiện tượng chung quanh xảy ra như thế nào và tại sao. Hậu quả
là nhiều thế hệ học sinh thụ động, kém tưởng tượng, không phát
triển được kĩ năng thực hành, sáng tạo và tính chủ động, tự lập;
không có cơ hội nghiên cứu khoa học. Do đó, phần lớn những kiến
thức về Việt Nam, dân tộc Việt Nam và tài nguyên Việt Nam lại
nằm trong tay các nhà khoa học ngoại quốc, thay v́ trong tay các
nhà khoa học Việt Nam.
Xă hội Việt Nam về căn bản vẫn là một xă hội nông nghiệp, và
chúng ta thường quen với những ước lệ chung chung, tư duy trung
b́nh, xu hướng ổn định (không muốn t́m thêm vấn đề!), thiếu tiêu
chuẩn cụ thể, vẫn dựa vào các giá trị truyền thống chưa từng qua
thử nghiệm khoa học, vẫn xem thường văn hóa “cân đo đong đếm”,
hay nói chung là vẫn chưa h́nh thành một văn hóa khoa học.
Nhưng có lẽ sẽ không ngoa khi nói rằng văn hóa Việt Nam đang
chuyển ḿnh trước thời ḱ mới, và cũng như trong quá khứ cứ mỗi
lần chuyển ḿnh, chúng ta tiếp thu một số đặc điểm văn hóa mới.
Trong thời ḱ hội nhập quốc tế như hiện nay, chúng ta rất cần
phát triển một văn hóa khoa học như là một bộ phận của văn hóa
dân tộc.
V́ thế, để phát triển kinh tế xă hội, chúng ta rất cần h́nh
thành văn hóa khoa học. Ngày nay, chúng ta nói rất nhiều đến
đổi mới tư duy kinh tế, nhưng tôi thấy ít người nhắc đến văn hóa
khoa học. Theo đó, phải dứt khoát đoạn tuyệt với h́nh thức chủ
nghĩa (như hám bằng cấp, học hành tài tử hiện đang c̣n rất phổ
biến trong người Việt). Thay vào đó là trang bị văn hóa t́m ṭi
cho mỗi học sinh khi họ cắp sách đến trường, trang bị cho họ tư
duy ham hiểu biết, say mê sáng tạo, trọng phương pháp, sẵn sàng
thích ứng với môi trường mới, dân chủ, và có ư thức trách nhiệm
với xă hội và đồng bào. Người có văn hóa khoa học phải có can
đảm tôn trọng sự thật khách quan, không câu nệ chủ nghĩa giáo
điều, hay thành kiến dân tộc; phải có tự tin và sáng tạo, không
máy móc đi theo đường ṃn, không làm theo sách vở một cách máy
móc; luôn luôn t́m ṭi học hỏi; biết áp dụng tinh thần khách
quan và khoa học vào mọi phương diện của đời sống cá nhân và xă
hội, không phải chỉ trong phạm vi chuyên môn; và phải biết hợp
tác, và ở một số người, biết lănh đạo theo những nguyên tắc dân
chủ văn minh.
Để đo lường tŕnh độ văn hóa đó, chúng ta cần phát triển những
tiêu chuẩn khách quan để đánh giá tŕnh độ văn hóa khoa học qua
những chỉ tiêu đầu vào (như số nhà khoa học, kĩ sư, chuyên gia;
số trung tâm nghiên cứu khoa học nghiêm chỉnh; đầu tư cho khoa
học; v.v…), hoạt động (đào tạo, đề bạt, hiểu biết về khoa học
trong công chúng, báo chí khoa học, v.v…), và đầu ra (bằng sáng
chế, bài báo khoa học, thành tựu trong ứng dụng khoa học, thương
mại hóa, v.v…). Chỉ khi nào chúng ta h́nh thành được một văn
hóa khoa học th́ mới có thể tạo ra một bước tiến mới cho khoa
học Việt Nam. |