Đánh giá nguy cơ tác hại của thành phần 3-MCPD trong
thực phẩm lên sức khoẻ con người
Nguyễn Đ́nh Nguyên
Tóm tắt:
3-MCPD và 1,3-DCP là các hợp chất phát sinh do dùng acic
HCl đậm đặc thuỷ phân thực vật giàu protein (như đậu
nành) trong quy tŕnh sản xuất thực phẩm. Cho đến hiện
nay, 3-MCPD được xem là hoá chất hoạt năng theo cơ chế
không gây độc cho gen trong nghiên cứu trên cơ thể sống
(t́m thấy cơ chế này trên thực nghiệm mô biệt lập với
liều tiếp xúc cao); nhưng lại có tác động lên chức năng
sinh sản của chuột đực, cũng như làm tổn thương tăng
sinh và tạo khối u ở thận ở mô h́nh thực nghiệm động
vật. Với hoá chất có cơ chế hoạt động theo mô thức này
th́ cho phép xác định ngưỡng liều có thể gây hiệu ứng
sinh học, và từ đó có thể ước tính được liều thu nạp
hàng ngày cho mỗi cơ thể và liều tối đa cho phép hiện
diện trong thực phẩm. Tuy nhiên để có được nồng độ cho
phép trong thực phẩm lưu hành trên thị trường, nó hoàn
toàn phụ thuộc vào mức độ tiêu thụ loại thực phẩm đó (cụ
thể là nước tương) của người dân trong mỗi nước đó nhiều
hay ít. Đối với Việt nam, 3-MCPD có mặt trong sản phẩm
nước tương là việc không thể tránh khỏi, nhưng cho đến
hiện nay, vẫn chưa có một khảo sát có hệ thống nào xác
định được mức độ tiêu thụ nước tương của mỗi người dân
hàng ngày để có thể xác định được nồng độ tối đa 3-MCPD
cho phép có trong một đơn vị sản phẩm lưu hành trên thị
trường. Do vậy nghiên cứu khảo sát mức độ tiêu thụ tính
trên mỗi người dân về sản phẩm chế biến từ đậu nành (như
nước tương, dầu hào, gia vị v..v…) là cần thiêt v́ nước
tương là thực phẩm gia vị chính yếu được sử dụng ở Việt
nam.
Mở đầu
Thực
phẩm là yếu tố quan trọng song hành với sự sinh tồn của
loài người. Theo quá tŕnh tiến hoá và phát triển của
loài người, thực phẩm cũng được phát triển theo. Cùng
với sự tiến triển của khoa học công nghệ, công nghệ chế
biến thực phẩm cũng phát triển. Nguy cơ tác hại đến sức
khoẻ của thực phẩm từ nguồn thức ăn thô là nguy cơ tự
nhiên đến từ chính thành phần chứa trong thực phẩm hoặc
tạp nhiễm môi trường, cũng biến đổi theo quy tŕnh chế
biến thực phẩm công nghiệp là tạp nhiễm và phát sinh.
Có
nhiều nguồn nguy cơ tác hại đến sức khoẻ của thực phẩm,
nhưng tựu trung lại có thể sắp thành hai nhóm chính là
nhóm vi sinh vật và nhóm hoá chất. Nếu như thực phẩm thô
nguồn vi sinh vật là do tạp nhiễm hay do kư sinh th́
nguồn hoá chất là do nội tại, là thành phần chứa trong
thực phẩm đó. Thí dụ như nấm; trong các loại nấm độc,
thành phần alkaloid là hoá chất gây ngộ độc chết người.
Trong khi đó, nguy cơ vi sinh vật và hoá chất trong thực
phẩm công nghiệp th́ đa dạng và khó đánh giá hơn nhiều.
Đối với nguồn độc tố là hoá chất, ngoài nguồn nguy cơ do
tạp nhiễm hoặc tự sinh th́ c̣n do phát sinh trong dây
chuyền chế biến. Nguồn nguy cơ do phát sinh trong dây
chuyền chế biến có thể lại là một tai nạn nghề nghiệp mà
cũng có thể do nhà sản xuất cố ư để đạt được hiệu ứng
thành phẩm.
Nhu
cầu về một thực phẩm đáp ứng không những về dinh dưỡng
mà c̣n về tính an toàn và không gây hại cho sức khoẻ đối
với người tiêu dùng là cần thiết. V́ vậy mà các kỹ thuật
đánh giá mối nguy hại của một thực phẩm đối với sức khoẻ
cũng đ̣i hỏi phải phát triển để bắt kịp với công nghệ
chế biến thức ăn ngày càng cao và đa dạng (1, 2), nhằm
phát hiện và loại trừ bớt những nguy cơ tác hại đến cơ
thể người tiêu dùng.
Đánh
giá nguy cơ tác hại đến sức khoẻ của 3-MCPD một hoá chất
được sản sinh trong khâu chế biến sản phẩm x́ dầu nước
tương và dầu hào, một ví dụ điển h́nh của tai nạn nghề
nghiệp, là mục tiêu được đề cập trong bài viết này.
3-MCPD là ǵ,
đến từ đâu?
3-MCPD
(3-monochloropropane-1,2-diol) là một hoá chất thuộc
nhóm chlorpropanol được h́nh thành và hiện diện trong
thực phẩm thông qua các quá tŕnh phản ứng giữa một
nguồn có chứa clorine (ví dụ như muối ăn hoặc kể cả
nước) trong thực phẩn hoặc một thành phần nào đó trong
thực phẩm với các chất béo. Ngoài 3-MCPD, c̣n có 1,3-DCP
(1,3-dichloro-2-propanol), cũng thuộc nhóm này. Phản ứng
này được xúc tác bởi nhiệt độ qua quá tŕnh nhiệt phân
khi chế biến thực phẩm thí dụ như chiên nướng. Cho nên,
về lư thuyết, tất cả các loại thực phẩm nào hội đủ 3
điều kiện: “có chứa thành phần clorine + thành phần chất
béo + nhiệt” đều có thể sản sinh ra 3-MCPD, tuy nhiên
với hàm lượng từ mức độ vi lượng, vết hoặc nhiều vượt
mức an toàn, rất khác nhau. Những thực phẩm nào ngoài
nước tương và sản phẩm chế bién từ đậu nành qua thuỷ
phân bằng acid dưới nhiệt độ có chứa 3-MCPD sẽ được đề
cập trong một bài viết khác. Và cho đến hiện nay, cơ chế
nhiễm như thế nào, h́nh thành như thế nào, ở mức độ nào
để có thể h́nh thành được 3-MCPD trong thực phẩm vẫn
chưa được hiểu ngọn ngành. Tuy nhiên, một khi đă sinh ra
th́ tính ổn định của cấu trúc 3-MCPD phụ thuộc vào độ pH
và nhiệt độ môi trường. Độ pH càng cao (kiềm) và nhiệt
độ càng cao th́ tỷ lệ 3-MCPD bị phân huỷ tăng lên.
Sự
h́nh thành 3-MCPD trong thực phẩm do quá tŕnh sử dụng
acid clo-hydric (HCl) thuỷ phân protein thực vật (hay
c̣n gọi là acid-HPV) đă được phát hiện từ những năm 80s
nhưng các kết quả khảo sát lần đầu tiên được công bố là
vào được Collier và đồng nghiệp lần đầu tiên mô tả vào
năm 1991 (3).
Và theo khảo sát
và những năm 1990 và 1992 của MAFF (Bộ Nông-Lâm-Ngư
nghiệp) của Anh khảo sát và công bố cho thấy gần như
nồng độ của 3-MCPD cao ở mức 100mg/kg thực phẩm là rất
phổ biến vào thời đó (4, 5) nhưng đă giảm đi rất nhiều
vào các thời điểm sau này (6). Một trong những sản phẩm
công nghiệp có sử dụng acid thuỷ phân protein thực vật
đó là sản phẩm x́ dầu (nước tương) và dầu hào.
Chế
biến x́ dầu hoặc sản phẩm nước chấm từ đậu nành (đậu
tương) đầu tiên là phương pháp lên men hay c̣n gọi là
phương pháp lên men truyền thống. Khi công nghệ phát
triển, người ta thấy rằng chế biến x́ dầu hoặc sản phẩm
đậu tương bằng phương pháp thuỷ phân bằng acid HCl đem
lại hiệu năng rất cao về mặt chất lượng (vị ngon) và
hiệu suất thành phẩm, do đó phương pháp này dần dần
chiếm ưu thế trong công nghệ chế biến x́ dầu, dầu hào
và các sản phẩm từ đậu tương có thông qua quá tŕnh thuỷ
phân. Thế nhưng, quy tŕnh này lại sản sinh ra hợp chất
3-MCPD với nồng độ quá mức, được cho là có hại cho sức
khoẻ.
Lần đầu tiên ở Anh
quốc, năm 1999, một loại nước tương nhập từ Trung quốc
được phát hiện có nồng độ 3-MCPD ở mức 6-124mg/kg, sau
đó một khảo sát tiến hành trên 40 mẫu nước tương trên
thị trường (nhập từ Trung Quốc, Hồng Kông, Đài loan,
Phillippine), t́m thấy 2/3 lượng mẫu này có chứa hàm
lượng 3-MCPD ở mức độ giới hạn cao của liều lượng cho
phép (7); nhưng 1/3 mẫu c̣n lại hàm lượng trên 0.01
mg/kg, cao nhất là 30 mg/kg. Đỉnh điểm là vào giữa năm
2001, Cục Kiểm soát Thực phẩm Anh quốc đă kiểm nghiệm
vào công bố 22 lô nước tương và dầu hào thuộc các hăng
sản xuất khác nhau có nồng độ 3-MCPD cao ở ngưỡng nguy
hại và phải tiêu huỷ hoàn toàn các lô hàng này, đồng
thời ra quy chế về kiểm nghiệm 3-MCPD trong các sản phẩm
này trước khi được lưu hành trên thị trường. Thông tin
về 22 loại nước tương có nồng độ cao này được chúng tôi
lần đầu tiên thông báo ở Việt nam vào tháng 8/2001 (8).
Thông tin ban đầu này đă gây ra một xôn xao trong dư
luận và phản ứng mạnh mẽ về một tin đồn thất thiệt.
Cuối cùng th́ một uỷ ban liên bộ ngành cũng đă họp và
xác minh báo
Người Lao Động đă đưa thông tin đúng đắn và chính xác
(9). Cho đến tháng 11/2001, lần đầu tiên tại Việt nam,
các kiểm nghiệm về chất 3-MCPD được tiến hành và cũng
xác minh là nồng độ 3-MCPD có mặt trong một số sản phẩm
nước tương bán ở thị trường Việt nam là cao quá ngưỡng
cho phép rất nhiều (tiêu chuẩn châu Âu).
Đánh giá độ an
toàn của thực phẩm
Việc đánh giá độ
an toàn của thực phẩm có thể nói gần như gắn liền với
bản năng sinh tồn của sinh vật. Khời thuỷ, không có một
quy tŕnh đánh giá nào một cách nghiêm túc và có hệ
thống mà chỉ thông qua kinh nghiệm và chọn lựa, hay c̣n
gọi là “thử đi, rồi sai đâu sửa đó”. Cũng v́ thế mà
không ít những người thiếu kinh nghiệm đă phải trả giá
bằng sinh mạng của ḿnh qua việc sử dụng các thực phẩm
tự nhiên có chứa các hoá chất độc hại gây chết người,
như cá nóc, mật cóc, nấm v..v…Cũng xuất phát từ nhu cầu
thực phẩm bổ dưỡng, an toàn, và nhu cầu có nhiều thực
phẩm mới nên cần phải có những biện pháp thích hợp để
đánh giá mức độ an toàn của một loại thực phẩm mới khi
đưa vào thị trường tiêu thụ.
Ở châu Âu, từ năm
1997 đă có những quy định chặt chẽ cho những nhà sản
xuất các “hàng mới” khi đưa vào thị trường tiêu thụ phải
đạt được tiêu chuẩn. Một thực phẩm hay một thành phần
của thực phẩm được cho là mới tức là sản phẩm đó lần đầu
tiên được giới thiệu và chưa bao giờ được sử dụng trước
đây, khi đó công ty sản xuất và giới thiệu sản phẩm cần
phải xin phép lưu hành (10). Để đánh giá độ an toàn với
các sản phẩm mới này, phương pháp chính yếu là dựa trên
nguyên lư so sánh, so sánh một-đối-một với các sản phẩm
cùng loại đă được cho phép lưu hành và an toàn từ trước.
So sánh một-đối-một có nghĩa là sản phẩm mới cũng phải
có đáp ứng với từng chỉ số tiêu chuẩn của sản phẩm đă
được lưu hành trong một giới hạn cho phép. Một khi có
một thành tố nào đó khác lạ hoặc vượt quá ngưỡng chỉ
tiêu cũ th́ cần phải trải qua một khâu khác đó là khâu
đánh giá nguy cơ. Thành phần hoá chất có mặt trong thực
phẩm là đối tượng chủ yếu của các quy tŕnh đánh giá
nguy cơ.
Đánh giá nguy cơ
hoá chất được áp dụng cho tất cả các thành phần hoá chất
được sử dụng chế biến hoặc phụ gia hoặc là hợp chất hoá
học mới được phát hiện trong sản phẩm đó (11). [Từ
phân đoạn này của bài viết đến hết phần đánh giá nguy
cơ, chúng tôi nhận thấy bài tổng quan của tác giả
Tritscher tương đối rơ ràng, nên chúng tôi lược dịch và
sử dụng thông tin ở đây (11)]. Quy tŕnh đánh giá
nguy cơ hoá chất bao gồm bốn bước: (a) nhận dạng yếu tố
độc hại, (b) phân tích đặc điểm độc hại, (c) đánh giá
mức độ phơi nhiễm và cuối cùng (d) là tổng hợp đặc điểm
nguy cơ. Nhận dạng tính độc hại cơ bản là phải trả lời
được câu hỏi là chất này có hoạt năng ǵ. Phân tích đặc
điểm độc hại là đánh giá các mối tương quan về đáp ứng
liều lượng (dose response) và hiệu ứng liều lượng
(dose-effect) cũng như những nghi ngại liên quan đến cơ
chế/mô thức hoạt động và khả năng ngoại suy hoạt tính đó
giữa các chủng loại như thế nào. Đánh giá mức độ phơi
nhiễm bao gồm hai yếu tố: hàm lựợng có mặt trong thực
phẩm và số lượng thực phẩm tiêu thụ để dựa vào đó có thể
tính toán ra được mức độ cơ thể thu nhập trong một ngày
của người sử dụng. Trong khâu cuối cùng, là tích hợp các
thông tin để có thể hệ thống hoá được đặc điểm và mức độ
phơi nhiễm với nguy cơ. Các bước cụ thể của quy tŕnh
đánh giá này được Barlow và cộng sự (12) và Renwick và
cộng sự (13) mô tả.
Có hai cách đánh
giá nguy cơ theo phương thức truyền thống, được áp dụng
tuỳ thuộc và mô thức hoạt tính của hoá chất đó. Nếu
hoá chất mới (do phát sinh hoặc phụ gia) không gây độc
cho gen trực tiếp, th́ nó được giả định là có hoạt
năng theo cơ chế ngưỡng nồng độ; và khi đó việc đánh giá
sẽ theo quy chế thực nghiệm t́m ngưỡng hàm lượng không
gây hại của hoá chất này [tiếng Anh gọi là
NOEL/NOAEL, NOEL: no-observed-effect level; NOAEL:
no-observed-adverse-effect level đều có nghĩa như nhau,
tức là nồng độ thử ở mức cao nhất không t́m thấy được
khả năng gây tác hại (14)]. Dựa vào đó và thông qua
việc ứng dụng các nguyên lư an toàn và tính bất định, mà
người ta có thể thiết lập ra được mức độ dung nạp an
toàn cho cơ thể mỗi ngày (tolerance daily intake, hay
TDI) và liều tham chiếu [reference dose, hay RfD,
liều tham chiếu được ước tính bằng liều NOAEL chia cho
một chỉ số bất định (thường là 100) và chỉ số chỉnh lư.
Liều tham chiếu cũng giống như chỉ số thu nạp cho phép
mỗi ngày (ADI, acceptable daily intake), được xác định
nếu mỗi ngày mức thu nạp hoá chất đó thấp hơn liều tham
chiếu th́ ít có khả năng gây hại, và nó được cho là chỉ
số thích hợp hơn ADI để đánh giá độ an toàn cho quần thể
(15)].
Ngược lại, đối
với một hoá chất (sử dụng làm phụ gia) mà được coi là có
cơ chế hoạt động gây độc cho gen, và tiền lệ hoá
chất này cũng chưa đạt tiêu chuẩn cơ chế ‘không có
ngưỡng’ [non-threshold mechanism; cơ chế này được xác
định là hoá chất có hiện diện ở trong thực phẩm ở nồng
độ không thể phát hiện được và thực tế cũng chưa thấy là
có tác hại ǵ đến sức khoẻ] mà cũng không có một
ngưỡng an toàn nào đă đặt ra, th́ hoá chất này không
được phép tự ư sử dụng làm phụ gia trong quá tŕnh sản
xuất. Tuy nhiên đối với những hợp chất tạp nhiễm không
tránh khỏi và cũng không muốn nó hiện diện trong thực
phẩm th́ phương thức đánh giá nguy cơ sẽ dựa trên nguyên
lư ‘ALARA’ (as low as reasonably achievable, đạt mức
thấp nhất hợp lư).
Thế nhưng chúng ta
thấy rằng với các nguyên lư xác định nồng độ cho phép
này lại không thể chứng minh được bằng thực nghiệm trong
cơ thể (in vivo), mà quyết định lại dựa trên sự hiểu
biết và giả định về chơ chế hoạt động của hợp chất hoá
học đó. Cho nên cả hai là những phương thức đánh giá mức
độ an toàn hay nguy cơ mà không thể lượng hoá được cụ
thể mối nguy cơ. Cách đánh giá nguy theo phương thức
định lượng là phải xác định được một khả năng có tác hại
có thể xảy ra ở một mức độ phơi nhiễm nhất định nào đó,
hiện nay vẫn chưa được áp dụng rộng răi trong lĩnh vực
thực phẩm. V́ vậy phương pháp đánh giá nguy cơ của hợp
chất 3-MCPD theo mô típ định lượng sẽ được tŕnh bày
dưới đây.
Đánh giá nguy
cơ hợp chất 3-MCPD
Như
đă đề cập ở trên chlorinated propanol được h́nh thành
trong quy tŕnh sản xuất một số loại thực phẩm nhất định
(16) và trong nấu nướng thức ăn tại gia đ́nh (17). Nông
độ các chất này cao nhất t́m thấy trong các sản phẩm có
dùng protein thực vật được thuỷ phân bằng hoá chất; và
3-MCPD cùng với 1,3-DPC, hai hợp chất phổ biến nhất của
nhóm chloropropanol và là trung tâm gây chú ư giới khoa
học và truyền thông v́ nó gây ung thư trên mô h́nh động
vật thực nghiệm, v́ thể nó được xem là chất gây ung thư.
Vào
năm 2001, Uỷ ban Khoa học Thực phẩm Âu châu và Uỷ ban
Chuyên gia liên kết giữa FAO/WHO đă đánh giá nguy cơ hợp
chất 3-MCPD (16, 18), kết quả tóm lược như sau.
Nhận dạng
độc hại và mô tả đặc tính độc hại
Nghiên cứu thực
nghiệm về độc tính
Liều
gây độc cấp tính qua đường uống của 3-MCPD ở chuột cống
(rat) là 150mg/kg thể trọng. Nếu cho chuột cống dùng
liều lặp lại (ngắn hạn) ở nồng độ 1mg/kg thể trọng th́
có biểu hiện giảm độ di chuyển của tinh trùng, thay đổi
h́nh dạng tinh trùng và gây suy giảm khả năng sinh sản ở
chuột cống đực cũng như các loài có vú khác (với liều sử
dụng cao hơn liều trên). Nếu cho chuột nhà (mouse) và
chuột cống tiếp xúc với liều 25mg/kg cơ thể th́ có thấy
xuất hiện các thương tổn ở hệ thần kinh trung ương.
Cũng
đă có bốn nghiên cứu dài hạn tường tŕnh về độc tố và
khả năng gây ung thư, hai nghiên cứu trong số đó tiến
hành trên chuột nhà và chuột cống. Tuy nhiên chỉ có một
nghiên cứu được xác nhận là đủ tiêu chuẩn để có thể đánh
giá được nguy cơ. Nghiên cứu này cho thấy chuột cống
phơi nhiễm dài hạn với 3-MCPD sẽ bị tổn thương thận tiến
triển măn tính, tăng sản ống thận và u tuyến. Ngoài ra
cũng t́m thấy các tổn thương quá sản và tân sản ở các tế
bào Leydig của tinh hoàn, tuyến vú, tuyến tuỵ và bao quy
đầu. Ngoài ra cũng thấy tỷ lệ phát sinh của thương tổn
tăng sản hoặc khối u chịu ảnh hưởng hiệu ứng liều lượng,
gặp ở tất cả các nhóm động vật nghiên cứu [có nghĩa
là tỷ lệ thương tổn gia tăng khi cho tiếp xúc với liều
lượng cao hơn, và giảm xuống khi giảm liều tiếp xúc].
Trong nghiên cứu này, các khoa học gia xác nhận thương
tổn tăng sản ống thận là tai biến nhạy nhất.
Nghiên
cứu về tính đột biến ở tế bào vú biệt lập cho thấy
thường là dương tính nhưng phải với liều tiếp xúc khá
cao (0.1-9mg/ml). Một số thử nghiệm về tính đột biến
trong cơ thể cho thấy kết quả âm tính. Tóm lại, uỷ ban
khoa học hiện thời kết luận 3-MCPD chưa phải là độc tố
gây tổn hại gen trong cơ thể.
Nghiên cứu quan
sát trên người
Cho
đến nay, vẫn chưa có một nghiên cứu dịch tễ học hay lâm
sàng nào về tác hại của 3-MCPD trên người cả. Tuy
nhiên, nghiên cứu trên tế bào tinh trùng người trong
pḥng thí nghiệm cho thấy có hiệu ứng hiệp lực giữa
3-MCPD với nguyên tố đồng (Cu) làm giảm khả năng di
chuyển của tinh trùng.
Đánh giá mức
độ phơi nhiễm
Mức độ hiện
diện trong thực phẩm
3-MCPD
đầu tiên được phát hiện là một hoá chất tạp nhiễm trong
các sản phẩm gia vị có chứa protein thực vật được thuỷ
phân bằng acid. Quy tŕnh sản xuất này sử dụng acid HCl
đậm đặc để chiết xuất các loại thực vật giàu protein như
đậu tương (đậu nành) dưới nhiệt độ cao. Và v́ thế mà
3-MCPD cũng có một hàm lượng nhất định nào đó trong một
số loại thực phẩm hoặc thành phần chế tạo thực phẩm, như
các sản phẩm quay rán, nướng (16).
Đối
với sản phẩm nước tương và tương tự, Cục Kiểm nghiêm
thực Phẩm Anh quốc đă tiến hành một số các đánh giá cho
thấy đây là sản phẩm phổ biến nhât có chứa hàm lượng
3-MCPD cao nhất. Các thực phẩm khác cũng t́m thấy phổ
biến có chứa 3-MCPD là bánh ḿ và bánh bích-quy
(biscuit) (chủ yếu là loại nướng hoặc rang) và thịt cá
có ướp. Thức ăn nấu nướng trong gia đ́nh cũng t́m thấy
có chứa 3-MCPD nhất là những món nướng ḷ, nướng điện
(17).
Một
số thực phẩm có thể bị nhiễm 3-MCPD do tiếp xúc với màng
bao có nước chứa epichlorhyrin như xúc-xích, trà túi
lọc, lọc cà phê. Tuy nhiên, với công nghệ cải tiến các
màng bao bọc, việc tiếp xúc với chất liệu có thể gây
nhiễm 3-MCPD có thể coi như ít gây hại cho người (16).
Ước tính lượng
thu nạp của cơ thể mỗi ngày
Như
đă nêu trên, sản phẩm nước tương và tương tự là những
thực phẩm phổ biến có chứa hàm lượng 3-MCPD cao nhất, do
đó việc ước tính mức độ thu nạp cho cơ thể mỗi ngày chủ
yếu dựa trên số liệu tiêu thụ loại thực phẩm này do các
nước cung cấp. Có nghĩa là, mỗi quốc gia cần phải có một
khảo sát riêng cho nước ḿnh về lượng nước tương tiêu
thụ trung b́nh cho mỗi người dân trong một ngày là bao
nhiêu; ngoài ra cũng cần phải xác định lượng tiêu thụ
thấp nhất và lượng tiêu thụ cao nhất, để cân nhắc mức độ
lệch của chỉ số tiêu thụ.
Đối
với các sản phẩm có chứa 3-MCPD khác không phải nước
tương, th́ Bộ Nông-Lâm-Ngư nghiệp của Anh và các nước âu
châu chấp nhận giả định là 1/8 trọng lượng thức ăn đó;
có nghĩa là 180g/ngày trên 1500g của lượng thực phẩm khô
đó, bao gồm các gia vị có khả năng chứa 3-MCPD. Dựa
trên số liệu khảo sát của Anh quốc, nồng độ tồn lưu
trung b́nh của 3-MCPD được tính là 0.012mg/kg, nên có
thể ước tính mức tiêu thụ trên mỗi đầu người/ngày cho
các thực phẩm khác có chứa 3-MCPD là 2 microgam.
Tổng hợp đặc
tính nguy cơ
Theo
kiến thức hiện hành, 3-MCPD được xem là hoá chất có thể
gây ung thư nhưng hoạt năng theo cơ chế không gây độc
cho gen trong nghiên cứu trên cơ thể sống (t́m thấy cơ
chế này trên thực nghiệm mô biệt lập với liều tiếp xúc
cao). Với hoá chất có cơ chế hoạt động theo mô thức này
th́ cho phép xác định ngưỡng liều có thể gây hiệu ứng
sinh học, và từ đó có thể ước tính được liều thu nạp
hàng ngày cho mỗi cơ thể và liều tối đa cho phép hiện
diện trong thực phẩm.
Trên
mô h́nh thực nghiệm có phản ứng tăng sinh ống thận, có
xu hướng phụ thuộc liều lượng tiếp xúc, mặc dù không có
ư nghĩa thống kê đối với liều thấp nhất. Cho đến hiện
nay vẫn chưa có nghiên cứu tác hại của 3-MCPD trên
người, nên chưa có cơ sở dữ liệu để có thể thiết lập mối
quan hệ liều lượng tiếp xúc. Trong t́nh cảnh đó, dựa
trên nguyên lư bất định, liều lượng độc tính chuyển đổi
giữa các chủng loại khác nhau (mô h́nh chuột và người)
th́ chấp nhận hệ số chuyển đổi là 20 lần giữa hai chủng
loại đối với động năng độc lực và hiệu số động độc lực
(toxicokinetic difference); ngoài ra cũng c̣n phải hiệu
chỉnh thêm có các yếu tố phụ nếu cho là cần thiết, ví dụ
như phải tính đến cả t́nh trạng thiếu dữ kiện.
Trở
lại vấn đề đánh giá an toàn của 3-MCPD, Bộ Nông-Lâm-Ngư
nghiệp cũng như Uỷ ban Khoa học Âu châu đă xác định được
liều lượng thấp nhất có thể gây hại (LOAEL) trong nghiên
cứu dài ngày ở chuột là 1.1mg/kg cân nặng (chuột)/ngày,
và coi đây là liều lượng gần nhất so với liều NOAEL
(nồng độ thử ở mức cao nhất không t́m thấy được khả năng
gây tác hại) [v́ không xác định được chính xác NOAEL,
do đó trên thực tế khi t́m được liều thấp nhất có thể
gây hại th́ nó cũng gần sát với liều cao nhất không gây
hại]. Kết hợp với các yếu tố thiếu dữ kiện về tác
hại lên hệ thống sinh sản, và phải ngoại suy dữ kiện
giữa hai chủng loại khác nhau, th́ liều có thể dung nạp
tối đa trong một ngày cho cơ thể người (TDI) được tính
là 2microgam/kg thể trọng/ngày (có nghĩa là 2 phần ngh́n
gram/kg cơ thể/ngày).
Nhận xét và kết
luận
Quá
tŕnh thuỷ phân và nhiệt hoá trong sản xuất thực phẩm có
thể gây ra nhiều ảnh hưởng khác nhau đến chất lượng cũng
như thành phần của thực phẩm ngoài ư muốn. Quy tŕnh sử
dụng acid HCl đậm đặc để thuỷ phân protein trong đậu
nành dưới nhiệt độ để chế biến nước tương và sản phẩm
tương đương nhằm để gia tăng chất lượng sản phẩm và hiệu
năng kinh tế không phải là quy tŕnh bị cấm, nhưng công
đoạn này lại tạo ra các hợp chất hoá học ngoài ư muốn và
được xem là tác nhân có thể gây ảnh hưởng đến sức khoẻ
cơ thể.
Trước
sự hiện diện của một hoá chất ngoài ư muốn trong thực
phẩm công nghiệp, cần phải tiến hành đánh giá nguy cơ
một cách nghiêm túc và cẩn thận theo bốn bước của kỹ
thuật đánh giá độ an toàn hay nguy cơ theo thông lệ như
đă tŕnh bày.
Tuy
nhiên, như tác giả Tritscher (11) nhận xét, quy tŕnh
đánh giá độ an toàn cổ điển đối với hợp chất có khả năng
gây độc cho gen mà chỉ dựa trên việc coi nếu chưa có
bằng chứng chất này gây độc và xác định liều thấp nhất
hợp lư (ALARA) là không phù hợp. Dựa trên nền tảng kiến
thức mới, người ta có thể sử dụng phương pháp đánh giá
nguy cơ bằng định lượng bằng cách xây dựng mô h́nh đáp
ứng theo liều lượng tiếp xúc và thông qua việc khảo sát
mức độ tiêu thụ của cộng đồng đối với sản phẩm, từ đó có
thể ước tính được liều nguy cơ có thể chấp nhận được.
Chính
v́ sự khác biệt mức độ tiêu thụ (hay c̣n gọi là mức phơi
nhiễm) với sản phẩm có chứa 3-MPCD ở từng nước và từng
vùng khác nhau nên mới có những nồng độ cho phép sự hiện
diện của 3-MCPD trong thực phẩm khác nhau, như xem ở
bảng dưới đây.
Nồng độ tối đa
3-MCPD cho phép trong một kg nước tương của các nước
(19) như sau (*)
|
Nước |
Nồng độ tối đa 3-MCPD cho phép /kg
nước tương |
|
Canada
Phần lan
Áo
Các tiểu vương quốc Ả-rập |
1mg/kg |
|
Mỹ |
1mg/kg cho 3-MCPD và 0.05mg/kg cho
1,3-DCP |
|
Úc
và Niu di-lân |
0.2mg/kg cho 3-MCPD và
0.005mg/kg cho 1,3-DCP |
|
Liên hiệp Âu châu
Hà-lan
Hy-lạp
Bồ-đào-nha
Malaysia
Thuỵ-điển |
0.02mg/kg |
|
Anh quốc |
0.01mg/kg |
|
(*) Có tham chiếu với số liệu hiện hành
của các nước |
Cho
đến hiện nay, theo chúng tôi được biết Việt nam hiện vẫn
chưa có một công tŕnh khảo sát nào có tính hệ thống để
đánh giá mức tiêu thụ trung b́nh, tối thiểu và tối đa
đối với sản phẩm nước tương. Tuy vậy, giới chức thẩm
quyền chúng ta cũng có quy định hàm lượng tối đa cho
phép sự hiện diện của 3-MCPD trong 1kg nước tương là
1mg/kg. Quy định này được cho là an toàn sức khoẻ cho
người tiêu dùng (20). Nhưng chúng ta cần phải hiểu vấn
đề này cho cho rơ ràng hơn.
Quy
định 1mg/kg hay 0.02mg/kg 3-MCPD của nước tương như đă
nói trên là được đánh giá dựa vào số liệu khảo sát chung
tính trên b́nh quân đầu người của một quốc gia, để thuận
tiện trong việc ước tính hiệu suất vừa an toàn cho người
tiêu dùng và cũng dung hoà được cho nhà sản xuất có thể
đáp ứng được tiêu chuẩn kỹ thuật. Đành rằng quy định cho
đến hiện nay của FAO/WHO vẫn đang chấp nhận mức tiêu thụ
tối đa cho mỗi cơ thể (tính trung b́nh đối với người
khoẻ mạnh trong dân chúng) là 2microgram/kg cơ thể, có
nghĩa là nếu một người nặng 50kg th́ lượng 3-MCPD tiêu
thụ tối đa một ngày có thể là 0.1mg; và với một loại
nước tương vừa đạt đúng tiêu chuẩn 1mg/kg (và cho rằng
1kg nước tương cũng bằng 1lít nước tương) th́ người này
có thể tiêu thụ tối đa một ngày đến 100ml.
Thế
nhưng đây là giả định chung tính chung cho trung b́nh
chứ không riêng cho một cá thể nào cả. Do đó chúng ta
cần hiểu quy định 1mg/kg hay 0.02mg/kg 3-MCPD trong nước
tương hay liều cho phép thu nạp 2microgram/kg cơ
thể/ngày đều là trị số tham khảo chứ không phải là trị
số an toàn cho sức khoẻ. Trị số này có thể thay đổi một
khi có bằng chứng mới. Bởi v́ các trị số này đều chỉ mới
được ước tính từ mô h́nh thực nghiệm ở chuột chứ chưa có
nghiên cứu nào tiến hành trên người cả. Sở dĩ Liên hiệp
châu Âu lại quy định mức 3-MCPD tối đa cho phép trong
sản phẩm nước tương chỉ là 0.02mg/kg là nhằm mục đích
bảo vệ người tiêu dùng nhằm giảm thiểu yếu tố nguy cơ
của nước tương gia tăng tích luỹ vào mức độ cơ thể tiêu
thụ cho phép hàng ngày là 2microgram/kg cơ thể, bởi v́
3-MCPD c̣n có thể đến từ các nguồn thức ăn khác nữa.
Do
đó để dung hoà các khía cạnh, giới chức có thẩm quyền
thiết lập một tiêu chuẩn ở ngưỡng được công nhận là
tương đối an toàn để nhà sản xuất có thể đáp ứng được;
c̣n phía người tiêu dùng, tuỳ cá nhân ḿnh có thể tự
quyết định cho ḿnh là nên dùng bao nhiêu, liều lượng
như thế nào là vừa phải, tuỳ theo thể trạng sức khoẻ.
Nhưng chúng ta cũng nên hiểu rằng, trong cuộc sống hàng
ngày chúng ta tiếp xúc với rất nhiều nguy cơ gây tổn hại
đến sức khoẻ của chúng ta. Các nguy cơ này luôn thường
trực, có một phần chúng ta đă nhận dạng được nhưng đa
phần là chưa nhận dạng được. Quá chú trọng đến những
chuyện thời sự nóng bỏng này, quên đi những yếu tố nguy
cơ khác th́ tổn hại lâu dài chưa xuất hiện, chúng ta có
thể bị ảnh hưởng bởi những nguy cơ tức thời.
26/05/2007
Tài liệu tham
khảo
1. Lado BH,
Yousef AE. Alternative food-preservation
technologies: efficacy and mechanisms. Microbes
Infect. 2002 Apr;4(4):433-40.
2. Zink DL.
The impact of consumer demands and trends on food
processing. Emerg Infect Dis. 1997
Oct-Dec;3(4):467-9.
3. Collier PD,
Cromie DDO, Davies AP. Mechanism of formation of
chloropropands present in protein hydrolysates. J Am
Oil Chem Soc. 1991;68:785-90.
4. MAFF.
Survey of hydrolysed vegetable proteins for
chlorinated propanols. CSL Report FD 91/6. 1991.
5. MAFF.
Survey of chlorinated propanols in hydrolysed
vegetable protein 1992. CSL Report FD 93/17. 1993.
6. JFSSG.
Survey of 3-monochloropropane-1,2-diol (3-MCPD) in
acidhydrolysed vegetable protein. Food Surveillance
Information Sheet No. 181. 1999.
7. JFSSG.
Survey of 3-monochloropropane-1,2-diol (3-MCPD) in
soy sauce and similar products. Food Surveillance
Information Sheet No. 187. 1999.
8. Nguyễn Đ́nh
Nguyên. Cảnh giác khi dùng nước tương (x́ dầu) và
dầu hào (oyster sauce). Số 2193, 20/08/2001. Báo
Người Lao Động.
9. H. Phương.
Phản hồi: Báo Người Lao Động đă thông tin đúng về
dầu hào, nước tương gây ung thư. 26/09/2001. Báo
Người Lao Động.
10. European
Commission. Regulation (EC) No 258/97 of the
European Parliamen and of the Council of 27 January
1997 concerning novel foods and novel food
ingridients. Official Journal of the European
Communities No L43/1. 1997.
11. Tritscher
AM. Human health risk assessment of
processing-related compounds in food. Toxicol Lett.
2004 Apr 1;149(1-3):177-86.
12. Barlow SM,
Greig JB, Bridges JW, Carere A, Carpy AJ, Galli CL,
et al. Hazard identification by methods of
animal-based toxicology. Food Chem Toxicol. 2002
Feb-Mar;40(2-3):145-91.
13. Renwick
AG, Barlow SM, Hertz-Picciotto I, Boobis AR, Dybing
E, Edler L, et al. Risk characterisation of
chemicals in food and diet. Food Chem Toxicol. 2003
Sep;41(9):1211-71.
14. Edler L,
Poirier K, Dourson M, Kleiner J, Mileson B, Nordmann
H, et al. Mathematical modelling and quantitative
methods. Food Chem Toxicol. 2002
Feb-Mar;40(2-3):283-326.
15. Barnes DG,
Dourson M. Reference dose (RfD): description and use
in health risk assessments. Regul Toxicol Pharmacol.
1988 Dec;8(4):471-86.
16. Schlatter
J, Baars AJ, DiNovi M, Lawrie S, Lorentzen R.
3-xhloro-,1,2-propane-diol. Proceeding of the
Fifty-seventh Meeting of the Joint FAO/WHO Expert
Committee on Food Addictives (JECFA) of the Safety
Evaluation of Certain Food Additives and
Contaminants WHO Food Additive Series No 48: WHO;
2002. p. 401-32.
17. Crews C,
Brereton P, Davies A. The effects of domestic
cooking on the levels of 3-monochloropropanediol in
foods. Food Addit Contam. 2001 Apr;18(4):271-80.
18. Scientific
Committee on Food. Opnion of the Scientific
Committee on Food on 3-momochloro-propane-1,2-fiol
(3-MCPD) udating the SCF opinion of 1994 adopted on
30 May 2001. 2002.