Cập nhật về vấn đề Điều trị
Chứng bệnh Bất toàn trong Tạo sinh xương (Osteogenesis
Imperfecta)
Nguyễn Đ́nh Nguyên
Một cách vắn tắt,
chứng bất toàn tạo sinh xương (có người gọi là hội chứng xương
bất toàn, hay tiếng Anh là Osteogenesis imperfecta (OI)), sẽ
viết tắt là OI, tức là hệ xương không đường h́nh thành một cách
hoàn hảo như b́nh thường. Người bệnh mắc chứng này là do t́nh
trạng đột biến di truyền trong cấu trúc có vai tṛ làm cho xương
có khả năng chịu lực. Do vậy khi bị bệnh th́ xương không có độ
bền dẻo nữa mà lại gịn và v́ thế mà xương rất dễ biến dạng và
găy ngay khi không có sang chấn hoặc sang chấn rất nhẹ như ho,
hắt hơi, vỗ vai....Cũng v́ thế mà c̣n gọi nôm na là "xương thuỷ
tinh" để chỉ bệnh này. Về phía di truyền nếu một trong hai cha
mẹ bị chứng này, th́ xác suất 50% con của cặp bố mẹ này bị bệnh.
Tuy nhiên mức độ găy và độ trầm trọng có thể khác. Cũng có các
trường hợp cha mẹ hoàn toàn b́nh thường nhưng vẫn có con bị bệnh
v́ như đă nói trên bệnh do đột biến di truyền tức là mới phát
sinh ngay trong cấu trúc di truyền của đứa con.
Về mặt dịch tễ
học, OI là một rối loạn xếp vào bệnh hiếm gặp (Theo tiêu chuẩn ở
Mỹ, một loại bệnh hiếm gặp ở Mỹ là bệnh có số người mắc bệnh này
dưới 200 000, trong khi đó tiêu chuẩn của châu Âu quy định bệnh
hiếm gặp là bệnh có tần suất dưới 1/2000). Tạo Mỹ, hiện nay có
khoảng 20000 đến 50000 người mắc chứng bệnh OI [1]. Tỷ lệ mắc
hàng năm của chứng bệnh này ở Mỹ vào khoảng 0.01% [2].
Về mặt bệnh lư
học, th́ do thương tổn gene chịu trách nhiệm sản xuất một thành
tố quan trọng có trong các mô liên kết của cơ thể đó là
collagen. Collagen có vai tṛ làm kết dính, tạo độ bền cho
những cấu trúc có h́nh dạng của cơ thể như khung xương, nhăn
cầu; nói một cách nôm na đó là bộ khung của các cấu trúc. Trong
chứng OI, th́ người bệnh hoặc có ít collagen hơn người b́nh
thường hoặc có đủ nhưng collagen không đủ chất lượng.
Trên lâm sàng,
bệnh bất toàn trong tạo sinh xương được chia làm bốn thể, mức độ
nặng nhẹ khác nhau. Một số các biểu hiện hoặc hội chứng khác
cũng có thể có OI đi kèm thí dụ như tầm vóc nhỏ, các hội chứng
như mặt tam giác, các rối loạn về hô hấp, hoặc kém thính giác.
Mỗi một cá thể bị OI có thể có những biểu hiện lâm sàng khác đi
kèm. Về h́nh thái, chứng bất toàn trong tạo xương, phổ biến và
được chấp nhận rộng răi là có 4 thể [3], có tính cách tương đối:
Loại I: Đây là
dạng hay gặp nhất và nhẹ nhất trong bệnh OI. Chất collagen trong
trường hợp này bị thiếu hụt (hay gặp) hoặc đủ số lượng nhưng kém
chất lượng. Xương bị găy trong thể bệnh này dễ chữa hơn các thể
khác. Găy xương thường xuất hiện trước tuổi dậy th́. Thể bệnh
này thường có tầm vóc b́nh thường hoặc tương đối như b́nh
thường. Có biểu hiện yếu dây chằng khớp, và trương lực cơ cũng
yếu làm cho sự di chuyển của bệnh nhân có thể khó khăn. Một số
trường hợp có biểu hiện có vết xanh thâm hay tím ở tṛng trắng
của mắt. Bệnh nhi có thể có khuôn mặt h́nh tam giác. Cột sống có
thể cong. Có thể dễ bị găy răng.
Loại II: Là thể
loại nặng nhất của chứng OI, bệnh nhân tử vong ngay sau sinh
hoặc chỉ sống được một thời gian ngắn sau khi chào đời do rối
loạn hô hấp. Nhờ tiến bộ của kỹ thuật, hiện nay nhóm bệnh nhân
này có thể sống đến tuổi vị thành niên. Găy nhiều xương, biến
dạng xương nặng. Tầm vóc thấp bé đi kèm với thiểu năng hô hấp.
Loại III: Cũng là
một dạng tạo collagen không thích hợp thường là gây nên t́nh
trạng biến dạng xương nặng. Trẻ thường sinh ra xương đă găy.
Ḷng trắng mắt có thể quá trắng hoặc có màu xanh hoặc màu xám.
Bệnh nhân mắc OI loại III thường có tầm vóc thấp, có các biến
chứng bề hô hấp, rối loạn về răng. Có thể giảm chức năng nghe.
Loại IV: Là dạng
nặng trung b́nh về rối loạn tạo collagen, giữa các mức độ I, II
và III. Các xương dễ bị găy. Một số bệnh nhân có thể có tầm vóc
thấp hơn b́nh thường và có thể có rối loạn ở răng. Các xương bị
biến dạng ở mức nhẹ đến trung b́nh.
Tuy nhiên hiện
nay cũng đă có đến loại V, VI, và VII [4-6]. Như vậy, về mặt
mức độ từ nhẹ đến nặng trên lâm sàng được xếp như sau:
Loại I (nhẹ
nhất) < IV, V, VI, VII < loại III < loại II (nặng nhất)
Trong thời kỳ mẹ
mang thai, siêu âm có thể phát hiện được các trường hợp bệnh
nặng. Hoặc xét nghiệm di truyền có thể nhận dạng được t́nh
trạng đột biến của gen. Trong nhiều trường hợp, các xương găy
gần như tự nhiên hoặc do sang chấn tối thiểu, là một dấu hiệu
chỉ điểm của OI.
Loại V: Biểu
hiện lâm sàng như loại IV, chẩn đoán bằng sinh thiết xương
Loại VI: Biểu
hiện lâm sàng như các thể trung b́nh đến nặng. Ngoài ra c̣n có
tăng một loại biểu thị tố luân chuyển xương (bone turnover
marker) là alkaline phosphatase.
Điều trị:
Cho đến hiện nay,
chứng bất toàn trong tạo sinh xương vẫn được xem là một rối loạn
di truyền không thể chữa khỏi được. Lư do là chưa có thể thay
thế lại được cấu trúc của chất collagen trong cơ thể cũng như
hiện nay chưa có phương thức nào kích thích cho cơ thể tăng tổng
hợp số lượng collagen. Phương pháp can thiệp vào cấu trúc di
truyền vẫn là một thiết kế trong ư tưởng.
V́ thế, hiện nay
vấn đề đặt ra là quản lư bệnh nhân như thế nào, và giúp cho bệnh
nhân giảm thiểu tai biến găy xương đến mức có thể chứ không đặt
nặng vấn đề chữa khỏi. Điều trị phải dựa trên từng bệnh nhân
tuỳ thuộc vào mức độ nặng nhẹ của bệnh và tuổi tác của bệnh
nhân. Điều trị bệnh này phải có sự phối hợp của một đội ngũ các
thầy thuốc các chuyên khoa, vật lư trị liệu, y tá chuyên ngành,
nhân viên y tế cộng đồng.
Nguyên tắc trị
liệu bao gồm:
-
Tối ưu hoá chức năng của
bộ xương
-
Tối thiêu hoá các biến
dạng và sự tàn phế
-
Hỗ trợ và phát triển kỹ
năng sinh tồn độc lập của người bệnh
-
Duy tŕ sức khoẻ toàn
trạng, điều trị vật lư
Hầu hết các trị
liệu áp dụng cho bệnh nhân OI là trị liệu không can thiệp phẫu
thuật kể cả xương bị găy. Bó bột, bất động, nẹp cố định là những
biện pháp áp dụng để chữa găy xương trong OI. Tuy nhiên việc bất
động trong trị liệu này cũng gây ra nguy cơ là làm tăng nguy cơ
mắc bệnh khác cũng như tăng nguy cơ găy xương thêm. Do đó việc
cố định xương trị liệu phải kết hợp với vận động và vật lư trị
liệu ngay sau đó để giảm thiểu các nguy cơ khác phát sinh.
Tuy hiếm, nhưng
phẫu thuật cũng có thể áp dụng trên những xương bị găy đi găy
lại nhiều lần, biến dạng nặng. Trong những trường hợp đó thường
là đóng đinh để cố định xương, nhưng phức tạp là cần phải có tái
phẫu thuật để thay đinh cho phù hợp với tuổi lớn của trẻ.
Hoá dược điều
trị chứng bất toàn trong tạo xương:
Đây có lẽ là vấn
đề nóng bỏng nhất trong phương thức trị liệu hội chứng bất toàn
trong tạo sinh xương. Như đă đề cập ở trên, mục đích t́m kiếm
một hoá trị liệu hiện nay không nhằm để sửa chữa được khả năng
sản xuất chất collagen của cơ thể mà là nhằm vào việc làm gia
tăng sức bền của xương cũng như cải thiện tầm vóc cho bệnh nhân.
Tuy nhiên, nhiều
loại thuốc được dùng để điều trị cho bệnh nhân bệnh OI gần như
là không đạt được một kết quả khả quan nào. Một nghiên cứu tổng
hợp [7] đánh giá hiệu quả điều trị của khoảng 20 loại thuốc khác
nhau bao gồm các nhóm hormone, vitamin, khoáng chất và một số
hoá chất ngoại sinh, nhưng hầu như không có loại nào chứng tỏ là
hiệu quả sau một thời gian điều trị. Các loại thuốc này là:
calcitonin, cortisone, oestrogens, androgens, thyroxine; các
vitamin A, C và D; aluminium, calcium, fluoride, magnesium,
phosphate và strontium; arsenic, các chất phóng xạ, acid HCl pha
loăng và chiết xuất từ xương ḅ con.
Sử dụng nội
tiết tố (hormone) tăng trưởng
Vấn đề tầm vóc
của bệnh nhân trong bệnh OI là một vấn đê nghiêm trọng, v́ các
thể trung b́nh đến nặng, bệnh nhân đều có tầm vóc rất thấp. Cho
đến nay khoa học cũng chưa t́m được lư do tại sao. Thế nhưng,
về mặt sinh lư học, một loại hormone gọi là hormone tăng trưởng
(growth hormone) nó đóng vai tṛ giúp cho cơ thể phát triển
chiều cao đặc biệt trong giai đoạn dậy th́. Cho nên các nhà
khoa học hướng đến việc thử nghiệm sử dụng chất này cho những
bệnh nhân OI có tầm vóc thấp.
Cho đến hiện nay,
việc sử dụng hormone tăng trưởng đối với chứng OI vẫn c̣n đang
bắt đầu thử nghiệm lâm sàng ở giai đoạn 2 (Mỗi một quy tŕnh thử
nghiệm lâm sàng phải trải qua 4 giai đoạn), tức là quy mô nghiên
cứu mở rộng hơn, số lượng đối tượng nghiên cứu lớn hơn, từ
100-300 người, và nghiên cứu không chỉ dừng lại ở tác dụng mà
c̣n nghiên cứu độ an toàn, tác dụng phụ của thuốc. Kỳ thực giai
đoạn 2 của nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng của hormone tăng
trưởng chỉ mới trong giai đoạn trứng nước, có nghĩa là vẫn c̣n
đang t́m kiếm đối tượng bệnh nhân t́nh nguyện (đủ tiêu chuẩn
nghiên cứu) tham gia nghiên cứu.
Thế nhưng, nghiên
cứu thử nghiệm lâm sàng sử dụng hormone tăng trưởng giai đoạn 1
cũng không cho một kết quả nào khả quan hơn. Trong một nhóm có
22 trẻ (13 trai, 9 gái) bị OI đang tuổi dậy th́ [8], 10 trẻ bị
OI loại III, 10 loại IV và 2 trẻ bị loại I. Thử nghiệm lâm sàng
này đặt ra nhiều mục tiêu, như xem các trẻ bị OI có bị thiếu
hụt hormone tăng trưởng không, chúng có đáp ứng với kích thích
tăng hormone không và xem có đáp ứng với điều trị bằng hormone
tăng trưởng không. Nhưng đối với mục tiêu đánh giá tác động
của hormone tăng trưởng th́ chỉ mới tiến hành ở mức độ thử
nghiệm tiên phong (pilot), tức là chỉ nghiên cứu trên một nhóm
ít bệnh nhân xem nó có kết quả hứa hẹn ǵ không; th́ nghiên cứu
tiên phong này chỉ có 7 trẻ, một sử dụng hormone tăng trưởng
ngoại sinh và 6 trẻ được dùng clonidine, trong một thời gian 6
tháng. Kết quả sau đó cho thấy 1 trẻ dùng hormone tăng trưởng
ngoại sinh và 3/6 trẻ c̣n lại có tăng chiều cao trung b́nh
4.7cm/năm so với tỷ lệ tăng trưởng của trẻ trước điều trị. Như
vậy có nghĩa là cũng chỉ có một vài trẻ có đáp ứng tăng trưởng
chiều cao trong một thời gian theo dơi, một vài th́ không; c̣n
về lâu về dài th́ không rơ. Chính v́ vậy mà thử nghiệm lâm sàng
dùng hormone tăng trưởng nhằm để cái thiện chiều cao của trẻ bị
chứng bất toàn trong tạo sinh xương vẫn c̣n đang tiếp tục với số
lượng bệnh nhân nghiên cứu lớn hơn và với thời gian theo dơi dự
kiến sẽ lâu hơn.
Việc sử dụng
hormone tăng trưởng có thể đạt kết quả tốt hơn khi kết hợp với
thuốc chống huỷ xương nhóm bisphosphonates, nhưng vẫn c̣n đang
trên con đường t́m ṭi và thử nghiệm.
Sử dụng thuốc
ngăn cản quá tŕnh huỷ xương
Trong những năm
cuối XX và đầu XXI, một trong những thử nghiệm hoá dược trong
điều trị OI được coi là hứa hẹn nhất hiện nay đó là sử dụng
thuốc ngăn cản quá tŕnh huỷ xương (antiresorption agent) nhóm
bisphosphonates, mà thuốc chủ yếu là pamidronate. Từ 1997, có
tất cả 18 nghiên cứu quan sát sử dụng bisphosphonates điều trị
trong bệnh OI, số lượng bệnh nhân trong một nghiên cứu ít nhất
là 4 [9] và nhiều nhất là 165 [10]; trong số đó có 15 nghiên cứu
sử dụng pamidronate.
Đặc điểm nổi bật
cần chú ư trong các nghiên cứu này là:
-
Tất cả các nghiên cứu này
đều không phải là các thử nghiệm lâm sàng (bằng chứng có giá trị
cao nhất trong bậc thang giá trị khoa học) mà chỉ là các nghiên
cứu quan sát (chỉ có giá trị gợi ư nhất định).
-
Pamidronate truyền tĩnh
mạch là chủ yếu.
-
Tuổi nghiên cứu của bệnh
nhân dao động khá rộng giữa các nghiên cứu, nhưng đa số là tuổi
nhỏ đến vị thành niên.
-
Thời gian theo dơi trung
b́nh là khoảng 1 đến 3 năm.
-
Đối tượng nghiên cứu là
các bệnh nhân mắc OI thể trung b́nh nặng đến nặng.
Hiệu quả tác dụng
của điều trị (dùng pamidronate truyền tĩnh mạch) không đồng bộ
giữa các nghiên cứu quan sát này, và hiệu quả cũng không xảy ra
ở đại đa số bệnh nhân trong mỗi nghiên cứu: có biểu hiện giảm
đau sau vài tuần điều trị [9-14], có cảm giác khoẻ khoắn hơn
[15], tăng lực cơ [16]. Một số các nghiên cứu cho thấy mật độ
xương đốt sống tăng hơn những bệnh nhân không được điều trị [11,
15, 17-19]. Và cũng nên nhắc lại rằng, các triệu chứng này chỉ
là kết quả của các nghiên cứu quan sát; chịu nhiều ảnh hưởng của
yếu tố ngoại lai và bị chi phối bởi các yếu tố gây nhiễu khác,
mà bản chất của một nghiên cứu quan sát không cho phép kiểm soát
để có câu trả lời thoả đáng. Nhưng dù sao cũng là những điểm nên
ghi nhận để kiểm chứng.
Trong điều trị
bệnh OI, mục tiêu tối hậu là làm giảm tỷ lệ găy xương, ngăn cản
quá tŕnh làm biến dạng các xương dài gây ra gù vẹo cột sống
cũng như cong vẹo chi, và cải thiện chức năng phụ thuộc vào
khung xương (hô hấp, vận động). Thế nhưng các nghiên cứu về vấn
đề mấu chốt này lại rất hiếm hoi [20]. Thực tế, mới chỉ có hai
nghiên cứu đề cập đến vấn đề hậu quả găy xương của OI [11, 16].
Hai nghiên cứu này cho thấy tỷ lệ mắc bệnh trong số các bệnh
nhân dùng pamidronate thấp hơn so với những bệnh nhân không
dùng. Tuy nhiên, cũng cần phải cân đối nhiều yếu tố tác động đến
tỷ lệ găy xương như tuổi tác chênh lệch giữa hai nhóm, can thiệp
điều trị khác (như phẫu thuật, vật lư trị liệu) giữa hai nhóm
khác nhau cũng như các đặc tính khác mà trong nghiên cứu quan
sát không có khả năng điều chỉnh [20]. Chỉ có một nghiên cứu
[11] trong số hai nghiên cứu này cho thấy tỷ lệ tử vong trong số
bệnh nhân dùng pamidronate thấp hơn so với số bệnh nhân không
dùng. Thế nhưng tỷ lệ tử vong giảm này chỉ có một phần là do tác
dụng của pamidronate mà thôi. Cho đến hiện nay, chưa có câu trả
lời, liệu pamidronate có tác dụng pḥng ngừa biến dạng xương dài
hay di chứng gù vẹo hay không so với những bệnh nhân cùng điều
kiện bệnh lư mà không dung thuốc [20].
Trong khi hiệu
quả của việc sử dụng pamidronate điều trị bệnh nhân OI c̣n chưa
ngă ngũ và chưa có bằng chứng đáng tin cậy th́ không ít các tác
dụng phụ cũng xày ra, chủ yếu ở bệnh nhi và vị thành niên (đối
tượng chủ yếu cần điều trị OI). Tai biến sớm trong điều trị
pamidronate là giảm nồng độ calcium huyết thanh. Nhiều bệnh nhân
khác có biểu hiện như cúm.
Điều đáng ngại nhất của việc sử
dụng nhóm bisphosphonates trong điều trị OI là tai biến về xa.
Do đặc điểm của bệnh là bệnh di truyền, do đó điều trị không thể
nhất thời mà phải điều trị dài hạn. Thế nhưng cho đến hiện nay,
giới chuyên môn lo ngại tác hại khi sử dụng bisphosphonates lâu
dài [21]. Về cơ chế, các loại bisphosphonates là thuốc chống quá
tŕnh huỷ xương, làm giảm t́nh trạng thủng nát bè xương, và
trong quá tŕnh đó chúng ức chế các biểu tố luân chuyển xương
(bone turnover markers), hậu quả gây tăng quá tŕnh khoáng hoá
và tích luỹ các vi tổn thương. Chính quá tŕnh khoáng hoá làm
cho xương trở nên ḍn hơn. Điều này đă được minh chứng thông
qua đo các yếu tố cơ sinh của xương [22]. Một khi quá tŕnh huỷ
xương bị ức chế mạnh th́ nó sẽ gây hiệu ứng ngược, ngăn cản quá
tŕnh sửa chữa các thương tổn v́ không có hoạt động của huỷ cốt
bào. Trên nghiên cứu thực nghiệm ở động vật cho thấy dùng
bisphosphonates liều cao gây ra sự tích tụ các vi thương tổn của
xương [23]. Nghiên cứu trên chuột cũng cho thấy dùng
bisphosphonates gây ức chế phát triển xương dài [24].
Về nguyên lư sinh học,
quá tŕnh tái cấu trúc xương có lẽ là quá tŕnh loại bỏ những vi
thương tổn của xương cũ và thay thế chất xương mới vào. Nếu quá
tŕnh này bị dừng lại, th́ thương tổn tích luỹ và cuối cùng th́
làm cho xương yếu hơn [25].
Cho dù trên đây
là những lập luận về mặt sinh học, cơ chế và những thực nghiệm.
Khoa học vẫn chưa có câu trả lời liệu tác dụng xấu đó có xảy ra
trên cơ thể người hay không. Tuy nhiên điều quan trọng là chúng
ta phải biết để t́m hiểu thêm, nhất là đối với những bệnh nhân
OI là đối tượng cần dùng thuốc kéo dài.
Tóm lại, cho đến
hiện nay, vẫn c̣n quá nhiều câu hỏi chưa có câu trả lời cho việc
sử dụng pamidronate để điều trị bệnh nhân bất toàn trong tạo
sinh xương [20]: Lợi ích lâu dài của pamidronate là ǵ? Thời
gian sử dụng pamidronate là bao lâu để có thể đạt được kết quả
tối ưu mà tác dụng phụ tối thiểu? Liệu thuốc có thể dùng được
suốt đời không? Nếu không, điều ǵ sẽ phát sinh sau khi ngừng
điều trị thuốc? Cùng là một nhóm bisphosphonates với nhau, hiện
nay chỉ có pamidronate là được nghiên cứu nhiều hơn cả, vậy
những loại khác cùng họ bisphosphonates mà giá thành rẻ hơn,
liệu có hiệu quả như pamidronate không?
Các câu hỏi này
chỉ có thể giải đáp được bằng các nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng
được thiết kế công phu, kỹ lưỡng, mà trên hết là rất tốn kém.
Cho đến hiện nay, chưa có một thử nghiệm lâm sàng nào tiến hành
nghiên cứu tác dụng của pamidronate đối với bệnh nhân bất toàn
trong tạo sinh xương cả.
Các điều trị
khác:
Một dạng điều trị
khác được cho là có tiềm năng đối với bệnh nhân bất toàn trong
tạo sinh xương đó là việc cấy tuỷ sử dụng tế bào b́nh thường
hoặc thậm chí cả mô bào. Tuy nhiên các nghiên cứu này c̣n chỉ ở
mới dạng phôi thai.
Việc tác động vào
hệ thống di truyền chỉ huy việc sản xuất collagen là một vấn đề
thiên nan vạn nan, nhưng chúng ta vẫn có quyền hy vọng vào sự
tiến bộ nhanh của khoa học kỹ thuật.
Điều trị dự
pḥng
Tập thể dụng là
biện pháp tốt để giúp cho người bệnh tăng cường độ chịu lực của
xương và sức lực của cơ bắp, là các yếu tố giúp ngăn ngừa găy
xương.
Bơi lội có lẽ là
một biện pháp tập luyện cơ xương khớp toàn thân tốt và thích hợp
nhất đối với bệnh nhân mắc OI, v́ vận động dưới nước ít bị nguy
cơ găy xương. Đối với những người đi lại được th́ đi bộ là một
loại h́nh tập thể dục khá thích hợp. Tuy nhiên, với từng cá
nhân, việc tư vấn với các chuyên gia về lư trị liệu và phục hồi
chức năng chuyên khoa là cần thiết để có thể có từng mô h́nh tập
luyện thích hợp cho từng cá nhân một. Điều này chỉ có thể thực
hiện ở những nơi có đội ngũ chuyên môn chuyên khoa sâu, chuyên
biệt hoá và nhân viên được huấn luyện kỹ về chứng bất toàn trong
tạo sinh xương.
Duy tŕ trọng
lượng cơ thể cũng là một yếu tố quan trọng, cho nên vai tṛ dinh
dưỡng trong bệnh OI cần phải lưu tâm. Bệnh nhân cũng cần phải
thực hiện một lối sống lành mạnh là không hút thuốc lá, tránh
uống cà phê, rượu, tránh dùng các loại thuốc chống viêm có
corticosteroid.
Nói tóm lại, bệnh
bất toàn trong tạo sinh xương là một bệnh lư di truyền, gây hậu
quả lên sức bền của khung xương nặng hay nhẹ tuỳ theo thể bệnh.
Cho đến hiện nay, vẫn chưa có phương thức điều trị triệt để.
Bệnh dù không thể chữa khỏi, nhưng vẫn có một số biện pháp quản
lư nhằm hạn chế biến chứng của bệnh, làm giảm tần suất găy xương
cũng như cải thiện các chức năng khác của cơ thể.
Đặc biệt, gần đây
trong nước rộ lên một số thông tin cho rằng: “Trong vài năm
gần đây loại thuốc bisphosphnate pamidronate (biệt dược Aredia
của hăng Novartis) được đưa vào sử dụng và đă đạt kết quả khả
quan. Chế phẩm này làm tăng tỷ trọng xương, giảm số lần gẫy
xương, giảm biến dạng xương và giảm triệu chứng đau xương một
cách rơ rệt ở bệnh nhân” là một thông tin không đầy đủ, gây
t́nh trạng sai lạc thông tin và gây hiểu nhầm. Cần phải thừa
nhận, sử dụng pamidronate điều trị bệnh không phải là không có
tác dụng nhưng những hiệu quả tác dụng đó c̣n rời rạc, không đủ
bằng chứng và chưa thể áp dụng để điều trị đại trà cho bệnh nhân
mà chỉ c̣n trong ṿng nghiên cứu. Dẫu rằng việc điều trị đơn lẻ
có ghi nhận được một số kết quả nào đó đi nữa th́ cũng c̣n chứa
nhiều yếu tố ngoại lai và ngẫu nhiên hoặc chỉ là một vài trường
hợp lâm sàng đơn lẻ mà thôi. Đem kết quả trên các nghiên cứu
quan sát, ít có giá trị khoa học, trên một nhóm nhỏ quần thể
bệnh nhân đặc biệt để vào điều trị cho một bệnh nhân cụ thể
hoặc cho đại trà bệnh nhân với các mặt bệnh khác nhau và đặc
điểm cá thể khác nhau là một suy diễn ngoại suy không có tinh
khoa học, Cần phải nghiên cứu cẩn thận, trước khi cho bệnh nhân
một niềm tin mà giá trị khoa học chưa được chứng minh đầy đủ,
cũng như mức độ tác hại của thuốc chưa được hiểu rơ.
Nằm trong chiến
lược “Sức khoẻ con người 2010”, trong năm 2001, bộ Y tế Mỹ đă
chi 1 triệu đô la cho chương tŕnh hoạch định nghiên cứu 9 mục
tiêu chuyên biệt đối với bệnh bất toàn trong tạo sinh xương,
nhằm để hiểu rơ hơn cơ chế chuyển hoá các hoá sinh trong bệnh,
cơ chế tác động của một số thuốc trong đó có bisphosphonates lên
xương, về di truyền học. Giới khoa học gia vẫn đang nổ lực
nghiên cứu t́m ra phương thức khả quan hơn để kiểm soát và quản
lư bệnh.
12/06-01/07
Ghi chú: Trong khuôn khổ bài viết trên thông tin đại chúng, chúng tôi lược bớt phần tài liệu tham khảo. Do đó bạn đọc muốn nghiên cứu sâu, xin liên lạc với tác giả để có thêm phần tài liệu tham khảo bổ sung (bằng tiếng Anh).
Tài liệu tham khảo:
1. National Institute of Health
Osteoporosis and Related Bone diseases, What is Osteogenesis Imperfecta? at
http://www.niams.nih.gov/bone, accessed Dec 18, 2006. (2006).
2. McPhee SJ, Lingappa VR, Ganong WF,
In "Pathophysiology
of Disease: An Introduction to Clinical Medicine" (4th ed.). McGraw-Hill
Companies(2003).
3. Sillence DO, Senn A, Danks DM, Genetic
heterogeneity in osteogenesis imperfecta. J Med Genet. 16, 101-116
(1979).
4. Glorieux FH, Ward LM, Rauch F, Lalic L, Roughley
PJ, Travers R, Osteogenesis imperfecta type VI: a form of brittle bone disease
with a mineralization defect. J Bone Miner Res. 17, 30-38 (2002).
5. Glorieux FH, Rauch F, Plotkin H, Ward L, Travers
R, Roughley P, Lalic L, Glorieux DF, Fassier F, Bishop NJ, Type V osteogenesis
imperfecta: a new form of brittle bone disease. J Bone Miner Res. 15,
1650-1658 (2000).
6. Ward LM, Rauch F, Travers R, Chabot G, Azouz EM,
Lalic L, Roughley PJ, Glorieux FH, Osteogenesis imperfecta type VII: an
autosomal recessive form of brittle bone disease. Bone. 31, 12-18
(2002).
7. Albright JA, Systemic treatment of osteogenesis
imperfecta. Clin Orthop Relat Res, 88-96 (1981).
8. Marini JC, Bordenick S, Heavner G, Rose S, Hintz
R, Rosenfeld R, Chrousos GP, The growth hormone and somatomedin axis in short
children with osteogenesis imperfecta. J Clin Endocrinol Metab. 76,
251-256 (1993).
9. Brumsen C, Hamdy NA, Papapoulos SE, Long-term
effects of bisphosphonates on the growing skeleton. Studies of young patients
with severe osteoporosis. Medicine (Baltimore). 76, 266-283
(1997).
10. Rauch F, Plotkin H, Travers R, Zeitlin L, Glorieux
FH, Osteogenesis imperfecta types I, III, and IV: effect of pamidronate therapy
on bone and mineral metabolism. J Clin Endocrinol Metab. 88,
986-992 (2003).
11. Glorieux FH, Bishop NJ, Plotkin H, Chabot G, Lanoue
G, Travers R, Cyclic administration of pamidronate in children with severe
osteogenesis imperfecta. N Engl J Med. 339, 947-952 (1998).
12. Plotkin H, Rauch F, Bishop NJ, Montpetit K,
Ruck-Gibis J, Travers R, Glorieux FH, Pamidronate treatment of severe
osteogenesis imperfecta in children under 3 years of age. J Clin Endocrinol
Metab. 85, 1846-1850 (2000).
13. Rauch F, Plotkin H, Zeitlin L, Glorieux FH, Bone
mass, size, and density in children and adolescents with osteogenesis
imperfecta: effect of intravenous pamidronate therapy. J Bone Miner Res.
18, 610-614 (2003).
14. Zeitlin L, Rauch F, Plotkin H, Glorieux FH, Height
and weight development during four years of therapy with cyclical intravenous
pamidronate in children and adolescents with osteogenesis imperfecta types I,
III, and IV. Pediatrics. 111, 1030-1036 (2003).
15. Astrom J, Beertema J, Reduced risk of hip fracture
in the mothers of patients with osteoarthritis of the hip. J Bone Joint Surg
Br. 74, 270-271 (1992).
16. Montpetit K, Plotkin H, Rauch F, Bilodeau N,
Cloutier S, Rabzel M, Glorieux FH, Rapid increase in grip force after start of
pamidronate therapy in children and adolescents with severe osteogenesis
imperfecta. Pediatrics. 111, e601-603 (2003).
17. Zacharin M, Bateman J, Pamidronate treatment of
osteogenesis imperfecta--lack of correlation between clinical severity, age at
onset of treatment, predicted collagen mutation and treatment response. J
Pediatr Endocrinol Metab. 15, 163-174 (2002).
18. Giraud F, Meunier PJ, Effect of cyclical
intravenous pamidronate therapy in children with osteogenesis imperfecta.
Open-label study in seven patients. Joint Bone Spine. 69, 486-490
(2002).
19. Lee YS, Low SL, Lim LA, Loke KY, Cyclic pamidronate
infusion improves bone mineralisation and reduces fracture incidence in
osteogenesis imperfecta. Eur J Pediatr. 160, 641-644 (2001).
20. Rauch F, Glorieux FH, Osteogenesis imperfecta.
Lancet. 363, 1377-1385 (2004).
21. Srivastava T, Alon US, Bisphosphonates: from
grandparents to grandchildren. Clin Pediatr (Phila). 38, 687-702
(1999).
22. Currey JD, Effects of differences in mineralization
on the mechanical properties of bone. Philos Trans R Soc Lond B Biol Sci.
304, 509-518 (1984).
23. Mashiba T, Turner CH, Hirano T, Forwood MR,
Johnston CC, Burr DB, Effects of suppressed bone turnover by bisphosphonates on
microdamage accumulation and biomechanical properties in clinically relevant
skeletal sites in beagles. Bone. 28, 524-531 (2001).
24. Schenk R, Eggli P, Fleisch H, Rosini S,
Quantitative morphometric evaluation of the inhibitory activity of new
aminobisphosphonates on bone resorption in the rat. Calcif Tissue Int. 38, 342-349 (1986).
25. Ott SM, Long-term safety of bisphosphonates.
J
Clin Endocrinol Metab. 90, 1897-1899 (2005).
|