|
Ói
mửa, cao huyết áp và hôn mê
(khi
nguyên tắc căn bản lăo khoa bị quên)
Lisa
Sander (*)
1.
Triệu chứng
Một
làn sóng nôn mửa lướt qua trong người đàn bà cao tuổi khi bà cố
gắng bước lên bậc thang lầu trong nhà cô con gái. Bà cảm thấy
không khỏe trong người ngay từ hôm trước, khi bà rời căn hộ nhỏ
ở Florida để đi thăm gia đ́nh con gái. Bà ngồi sà xuống bậc
thang và bật tiếng rên rỉ nhỏ; mặt bà tái đi, môi xám xịt. “Má
xin lỗi con,” bà nói trong khi cô con gái chạy đến bên cạnh đỡ
bà đứng dậy, “Má phải ngồi trên bậc thang này”. Bà cảm thấy
ngượng nghịu, và thú nhận rằng bà cảm thấy không khỏe từ hôm
trước, nhưng vẫn cố gắng đến đây. Bà cũng nghĩ không muốn ghé
thăm và làm phiền con, nhưng ở độ tuổi 93, c̣n bao nhiêu lễ Noel
nữa bà có thể chung vui với con cháu. Thôi th́ cố gắng một lần
này hăy cứ cho là lần cuối cũng được. Bà cố giải thích và phân
bua với cô con gái.
“Má
ơi, thật vậy sao? Sao má nghĩ là làm phiền con?” Cô con gái nói
như quở trách một cách nhẹ nhàng trong khi cô giúp bà lên giường
nằm nghỉ và nhanh nhẹn kiểm tra huyết áp cho bà. Huyết áp cao:
200/80 (mức độ b́nh thường là dưới 120/80). Cô con gái lập tức
gọi điện cho bác sĩ gia đ́nh ở Florida, và bác sĩ khuyên nên chở
má cô vào pḥng cấp cứu ngay.
Chiều
hôm đó, bác sĩ Ben Musher nghe cô bác sĩ nội trú năm thứ 3,
Radhika Varada, báo cáo t́nh trạng của bệnh nhân: 93 tuổi với
tiền sử cao huyết áp và ung thư thận, từng trải qua điều trị ở
pḥng cấp cứu sau hai ngày bị ói mửa và hôn mê. Bác sĩ Varada
kiểm tra dữ liệu từ pḥng cấp cứu, rồi dẫn bác sĩ Musher gặp
bệnh nhân. Ông chú ư bệnh nhân trông trẻ hơn nhiều so với tuổi
đời 93. Ông nói lại những ǵ ông được báo cáo cho bệnh nhân
nghe, và bệnh nhân không có ǵ để nói thêm.
Hai
bác sĩ cùng khám bệnh nhân cẩn thận. Thật ra, bác sĩ Varada đă
khám bà từ chiều hôm qua khi bà nhập viện. Huyết áp của bà vẫn
c̣n cao – dù không cao như lúc ở nhà. Bụng bà mềm và cảm giác
đau v́ ói mửa. Ngoài những điều đó, không có ǵ đáng chú ư
khác. Chụp CT scan bụng không phát hiện một dấu hiệu ǵ đáng khả
nghi, ngoại trừ quả thận bên trái không c̣n (v́ đă cắt bỏ 4 năm
trước khi bà bị ung thư). Chụp X quang ngực kết quả cũng b́nh
thường. Phát hiện “thú vị” nhất là từ xét nghiệm máu: độ sodium
rất thấp, thấp đến độ có thể nói là nguy hiểm.
2. Điều tra
Các
bác sĩ trong pḥng cấp cứu cho rằng độ sodium thấp
(hyponatremia) là do bệnh nhân từng ói mửa nhiều, và trong quá
tŕnh ói, bà bị khử nước (dehydration) nhiều quá. Họ bắt đầu
truyền nước biển cho bệnh nhân. Mất nước chắc chắn là một trong
những nguyên nhân quan trọng cho t́nh trạng thiếu sodium – đặc
biệt là ở bệnh nhân bị ói mửa nhiều hay từng bị tiêu chảy. Đó
là một giả thiết có lí, nhưng bác sĩ Musher không nghĩ đó là một
giả thiết đúng. Khám tổng quát không cho thấy dấu hiệu ǵ bà bị
mất nước: huyết áp cao, nhịp tim b́nh thường, và nước tiểu
loăng. Với bằng chứng này, bác sĩ Musher cho rằng ói mửa là do
độ sodium thấp, chứ không phải ói mửa làm cho độ sodium xuống
thấp. Nhưng cái ǵ làm cho soidum xuống thấp?
Bác
sĩ Musher chú tâm vào những khả năng rất gần ở bệnh nhân cao
tuổi. Trước hết, đó là thuốc men. Nhiều thuốc thông thường có
thể làm giảm sodium, và bệnh nhân này đang uống rất nhiều thuốc.
Hai bác sĩ lại cẩn thận xem xét hồ sơ bệnh nhân, chú ư đến những
thuốc mà bà đem theo, nhưng chẳng thấy thuốc nào có thể nói là
liên quan đến t́nh trạng thiếu sodium cả.
Khả
năng thứ hai là một số bệnh liên quan đến hệ thống hormone cũng
có thể gây ra t́nh trạng thiếu sodium, như bệnh Addison – xảy ra
khi tuyến adrenal thượng thận ngưng sản xuất hormones – có thể
làm cho cơ thể mất sodium. Khi hormone tuyến giáp xuống thấp
(hay quá ít) cũng có thể làm giảm độ sodium trong người. Một xét
nghiệm máu đơn giản có thể chỉ ra nếu một trong hai khả năng
này.
Nhưng
điều làm bác sĩ Musher quan tâm nhất là khả năng ung thư. Bệnh
nhân từng hút thuốc lá nhiều, nguy cơ ung thư phổi có thể khá
cao, và ung thư phổi cũng có thể làm giảm sodium. Các tế bào ung
thư sản xuất một loại hormone giống như loại hormone mà cơ thể
sản xuất ra (vasopressin) để kiểm soát lượng nước trong người.
Nếu vasopressin lên quá cao sẽ làm cho thận giữ lại nước. Các
bác sĩ cần phải nghiên cứu thêm để có thể đưa ra một chẩn đoán
chính xác. Trong cùng lúc, họ ngưng truyền nước biển và khuyên
bệnh nhân nên uống ít nước để giảm hoạt động của quả thận c̣n
lại và hi vọng sẽ làm cân bằng lượng nước trong người.
Sáng
hôm sau, hai bác sĩ ghé qua thăm bệnh nhân, và thấy t́nh trạng
sức khỏe bệnh nhân có vẻ tốt hơn hôm qua. Bệnh nhân cũng nói bà
cảm thấy khỏe hơn. Tóc bà được chải một cách thời trang, đôi
môi lại được tô son. Độ sodium cũng được cải tiến, nhưng vẫn
c̣n thấp hơn mức độ b́nh thường. Kết quả xét nghiệm hai tuyến
giáp và tuyến thượng thận b́nh thường. Trong khi hai bác sĩ nghĩ
ḿnh phải làm ǵ kế tiếp th́ cô con gái của bà ghé qua. Cô nói
quả thật trông bề ngoài th́ má cô quả là khỏe hơn, và muốn biết
bà có thể về nhà ăn Nobel với con cháu đêm nay không.
Bác
sĩ Musher do dự. Lúc đó ông nghĩ rằng cái nguyên nhân khả dĩ
nhất của t́nh trạng sodium xuống thấp là ung thư. Bà cần phải
được điều trị. Thế nhưng, đêm nay là đêm Nobel – nếu bà ở lại
đây, bác sĩ có làm được ǵ không?
Sau
khi chỉ dẫn cho cô con gái về giới hạn uống nước, ông đồng ư cho
bà về ăn Nobel đêm nay. “Nếu quả thật ung thư phổi là thủ phạm
th́ có lẽ đây là cái Nobel cuối cùng mà bà vui cùng con cháu,”
ông nghĩ.
3.
Liệu pháp
Bốn
ngày sau đó, hai mẹ con lại vào pḥng cấp cứu. Hôm Noel vui vẻ
cả nhà, nhưng nay th́ bệnh nhân cảm thấy có vấn đề một lần nữa.
Độ sodium tốt hơn trước nhưng vẫn c̣n quá thấp. Bác sĩ Varada
chào hỏi hai mẹ con với một nụ cười. “Để xem, lần này chúng tôi
có thể truy ra thủ phạm của căn bệnh cho bà hay không.” Cô bác
sĩ xem xét cẩn thận số liệu mà y tá pḥng cấp cứu thu thập. Rồi
cô quay sang danh sách thuốc men bà đang dùng. “Bà c̣n có dùng
thuốc nào khác nữa không? Chẳng hạn như thuốc Bắc hay thuốc mua
không cần toa bác sĩ? Bất cứ thuốc nào mà bà dùng nhưng không
có trong danh sách này?” Bác sĩ Verada hỏi một lần nữa. Bệnh
nhân nghĩ một lúc rồi nói ngập ngừng: “Tôi không biết cái thuốc
tôi mới dùng có trong danh sách đó hay không.” Bà không nhớ tên
thuốc, nhưng bác sĩ chuyên khoa niệu đă cho bà dùng để giảm số
lần bà phải đi đái nhiều lần trong đêm. Bà có uống thuốc này vài
lần, nhưng đă ngưng dùng v́ không thấy hợp với thuốc. Tuy nhiên,
trong chuyến đi thăm cô con gái vừa qua, bà có dùng một lần trên
xe.
Bệnh
nhân nh́n sang chỗ khác. Cô con gái bà chưa từng biết chuyện
này, nhưng cô cũng không ngạc nhiên nếu má cô không nói cho ḿnh
biết. Cô biết má ḿnh rất kín đáo, không muốn tiết lộ thông tin
cá nhân cho người thân, thậm chí không muốn ai biết ḿnh là
người cao tuổi! Cô lập tức gọi điện kêu chồng về nhà. So sánh
các thuốc bà dùng và có trong ví với các thuốc trong danh sách
mà bác sĩ Verada có, họ phát hiện ngay “thủ phạm”. Trên lọ thuốc
có một nhăn hiệu DDAVP. Đó là một loại thuốc được sản xuất từ
vasopressin – loại hormone làm cho cơ thể giữ nước trong thận.
Trong khi điều trị cho bệnh nhân, các bác sĩ đă quên một nguyên
tắc cực ḱ căn bản trong lăo khoa: đó là khi nói đến thuốc men,
tin bệnh nhân, nhưng lúc nào cũng phải kiểm tra lại.
Liệu
pháp đă rơ: ngưng sử dụng DDAVP. Sau gần 3 tuần, bệnh nhân đă
b́nh thường trở lại. “Toàn bộ câu chuyện cứ như là một giấc
chiêm bao”, bà hồi tưởng lại những ǵ xảy ra và nói như thế. Bà
cảm thấy hối lỗi khi không báo đầy đủ thuốc mà bà sử dụng, nhưng
cũng đồng thời cảm thấy bực ḿnh với người bác sĩ cho bà thuốc
đó mà không nói cho bà biết về tác hại phụ của nó. Bà nhún vai.
“Ô, cô biết không, tôi già rồi,” bà nói với tôi. “Tôi đâu có
biết là nó đă xảy ra như thế. Ḿnh tưởng trước sau ḿnh chỉ là
một người – nhưng không phải như thế. Và nếu ḿnh quên điều đó,
không có ǵ là đúng cả.”
(*)
Nguyễn Văn Tuấn lược dịch từ bài viết “Vomiting, Hypertension,
Lethargy” của Lisa Sanders, đăng trên tờ New York Times, số ra
ngày 19/6/2005. |