Bệnh tật nh́n từ quan điểm của thuyết tiến hóa
Nguyễn Văn Tuấn
Đối phó với một bệnh tật, chúng ta thường hay đặt
câu hỏi “tại sao”, và có hai dạng tiếp cận với câu trả lời: một là căn nguyên
trực tiếp, và hai là giải thích bằng thuyết tiến hóa, hay có thể gọi là nguyên
nhân sâu xa. Những câu trả lời trực tiếp, thường thấy trong sách giáo khoa và
được dạy trong các trường y, mô tả những cơ chế bệnh nguyên, bệnh sinh đưa đến
bệnh tật mà khoa học biết được. Những câu trả lời này cần thiết, nhưng chưa
đủ. Chúng ta cần đến những nguyên nhân sâu xa, những câu trả lời dựa vào lí
thuyết tiến hóa của Charles Darwin, mô tả những tiến tŕnh tiến hóa của các cơ
phận trong cơ thể cũng như hành vi con người ngày nay. Mục tiêu chủ yếu của y
khoa Darwin (hay c̣n gọi là Darwinian Medicine) là t́m hiểu và giải thích tại
sao chúng ta mắc bệnh.
Kiến thức y học chủ yếu dựa vào nền tảng của sinh lí học.
Sinh lí học chủ yếu quan tâm đến việc phân tích cơ chế hoạt động và những tương
tác của các cơ quan trong cơ thể con người. Một khi một cơ phận nào đó trong cơ
thể có vấn đề hay bị trục trặc, thông qua sinh lí học, bằng lập luận về cơ chế
bệnh học, chúng ta có thể hiểu được tại sao nó xảy ra, và qua cơ chế bệnh sinh
đó, chúng ta có thể t́m cách chữa trị. Thành ra, có thể nói rằng chiến lược căn
bản của y khoa ngày nay là khảo sát sự tương tác lẫn nhau giữa các thành tố
trong một hệ thống vừa mở vừa kín, đó là: môi trường-con người (ngoại sinh và
nội sinh) thông qua các đặc tính di truyền, cơ chế sinh lí của cơ thể; và phản
ứng của chúng trong quá tŕnh đáp ứng với bệnh tật của cơ thể đó trong mối quan
hệ hỗ tương với môi trường xung quanh.
Nói nôm na cách chẩn đoán và điều trị bệnh cũng giống như
giới kĩ sư t́m hiểu sự vận hành và cách sửa máy móc cơ khí khi gặp phải sự cố.
Nói chung, đây là một chiến lược logic, và trong quá khứ đă thành công rực rỡ
trong việc khám phá ra nhiều biện pháp chữa trị hữu hiệu cho nhiều căn bệnh ngặt
nghèo. Nhưng dù thành công, chiến lược này không cung cấp cho chúng ta một bức
tranh toàn diện về bệnh tật, bởi v́ nó chú trọng vào việc chữa trị căn bệnh
hơn là chữa trị con người với căn bệnh. Nói cách khác, phương pháp
phân tích cơ chế bệnh nguyên bệnh sinh theo trường phái y học tây phương dường
như bỏ quên phần con người trong phương tŕnh bệnh tật. Chúng ta phải đi vượt
qua câu hỏi “Cơ phận này vận hành ra sao” để đặt câu hỏi “Tại sao có cơ phận
này”.
Tại sao sinh đẻ là một quá tŕnh đau đớn? Tại sao quá tŕnh
sinh đẻ lại quá phức tạp? Câu trả lời “trực tiếp” mà sách giáo khoa giải thích
là bởi v́ đường kính của khung xương chậu của người mẹ chỉ bằng hay dài hơn một
chút so với đường kính của đầu của thai nhi. Khung xương chậu lại là một loại
xương bán khớp, có nghĩa là nó không hẳn là một xương liền mà không hẳn khớp; nó
chỉ giăn nở ở phụ nữ trong giai đoạn cuối của thai kỳ và trong quá tŕnh sinh
nở. Xung quanh khớp, xương này là triệu triệu đầu dây thần kinh cảm giác. Khi
đó, đường ra của thai nhi hẹp, dẫn đến sự đau đớn cho người mẹ, và quá tŕnh
sinh đẻ có khi trở nên phức tạp khi bài toán khung chậu và kích thước đầu thai
nhi không giải quyết được qua “cơ chế cơ học”. Tuy nhiên, trong khi có thai, cơ
thể người mẹ tiết ra kích thích tố relaxin giúp làm cho cổ tử cung giăn nở đôi
chút, và qua đó làm giảm mức độ phức tạp của quá tŕnh sinh đẻ.
Với những câu trả lời như thế sinh viên có vẻ hài ḷng, mặc
dù trong thực tế đó là những câu trả lời chưa đầy đủ, nếu không muốn nói là có
tính “che đậy”. Thật vậy, những sinh viên nàp ṭ ṃ chắc chắn sẽ hỏi thêm “Tại
sao đầu của thai nhi lại quá lớn so với khung xương chậu”, hay “Tại sao cổ tử
cung của người mẹ không rộng hơn”? Đây là những câu hỏi không thể trả lời bằng
sinh lí học, mà phải được tiếp cận từ thuyết tiến hóa. Khoảng 2,5 triệu năm
trước đây, một loài sinh vật tiến hóa và tách rời thành 2 nhóm sinh vật, trong
đó một nhóm tiến hóa thành con người hiện đại ngày nay. Khoảng 500 ngàn năm
trước đây, tổ tiên của chúng ta đă có bộ óc và sọ lớn như bộ óc và sọ của chúng
ta ngày nay. Tuy nhiên, giống cái đă tiến hóa với một xương chậu tṛn trĩnh hơn
trước đây để cho việc sinh nở dễ dàng hơn. Nhưng có một hạn chế trong quá tŕnh
tiến hóa và thích ứng với môi trường sống – đó là con
người đi đứng bằng hai chân. Nếu khung xương chậu quá rộng, việc đi đứng (rất
quan trọng trong thời săn bắt) sẽ trở nên khó khăn và thiếu hiệu quả. Thành ra,
có thể nói kích thước của khung xương chậu là một kết quả của sự cân bằng (hay
“thỏa hiệp”) giữa lợi và hại của các đặc tính con người trong quá tŕnh tiến
hóa. Sự thoả hiệp này thể hiện ở điểm “không thể được cả hai”, và người phụ nữ
chỉ đau khi sinh nở thôi, c̣n để cái khung chậu có hẹp tí chút th́ lại có lợi
cho cả một quăng đời sống dài.
Đứng trên quan điểm tiến hóa, cơ thể con người là một bộ máy
mà trong đó các cơ phận được thiết kế tinh vi đến mức tuyệt vời, nhưng lại là
những thiết kế dựa vào những thỏa hiệp giữa lợi và hại. Hăy lấy mắt, có khi
được ví von là “cửa sổ của linh hồn”, làm một ví dụ. Mắt là một vật thể có thể
nói là một ḱ quan, với giác mạc được cấu trúc bằng những mô sáng trong và được
uốn cong cong một độ vừa phải, với mống mắt có chức năng điều chỉnh độ sáng tối
và thủy tinh thể đóng vai tṛ của một cái kính lúp “chăm sóc” tầm xa gần của
mắt, và hai cơ phận này làm việc nhịp nhàng với nhau để lượng sáng làm nổi bật
tiêu điểm một cách chính xác trên bề mặt của vơng mạc. Nhưng dù ngưỡng mộ một
ḱ quan như thế, chúng ta vẫn thấy thiết kế mắt có vài khuyết điểm đáng kể.
Khuyết điểm lớn nhất của mắt là cả mạch máu và thần kinh mắt bó chung lại thành
một bó và đi vào trực diện qua vơng mạc (v́ cấu trúc mắt nhỏ mà cần có đặc tính
thấu quang cao, cho nên mọi sắp xếp cần phải hợp lư theo tiến hoá), do đó chỉ
cần một chèn ép nhỏ th́ mù mắt xảy ra chỉ trong giây phút, điển h́nh là gặp
trơng trường hợp viêm động mạch mắt. Điểm thứ hai, chúng ta có thể thấy ở mắt,
để nh́n được h́nh ảnh một cách trung thực và chính xác, mắt của chúng ta cấu
trúc hoàn toàn như một cái máy ảnh (hay đúng hơn máy ảnh đă nhại lại tuyệt đối
nguyên lư cấu trúc của mắt). Như vậy toàn bộ bộ phận quang học của mắt phải
tuyệt đối trong suốt bao gồm giác mạc, dịch kính. Như thế th́ mắt không được có
vẩn đục, cho nên trong mắt rất ít hệ thống mạch máu hay nói đúng hơn là không
có. Mọi việc nuôi dưỡng mắt đều thông qua con đường thẩm thấu. Như thế, chỉ
cần ta thiếu nước mắt thôi, mắt chúng ta rơi vào t́nh trạng nguy hiểm rồi.
Cơ thể con người là một công tŕnh với nhiều mâu thuẫn đồng
tồn như thế. Nói một cách ví von nó tồn tại như một cặp phạm trù đối lập mà hỗ
tương:
·
Trong khi van tim được cấu trúc cực ḱ tinh vi,
th́ chúng ta cũng có cái răng khôn (mọc vào tuổi đă
khôn lớn, khoảng 18-20 tuổi,
nên gọi là răng khôn), nó chẳng có chức năng ǵ mấy,
mà khi mọc lại gây ra lắm phiền phức đặc biệt trên những người có cung hàm ngắn,
khi đó chúng ta đành gọi là “răng khôn mọc dại”.
·
Các mảng DNA có nhiệm vụ ra chỉ thị cho việc
phát triển khoảng 10 tỉ tỉ tế bào để làm nên cơ thể con người, nhưng cũng chính
DNA làm cho cơ thể suy đồi và dẫn đến cái chết.
·
Hệ thống miễn dịch của cơ thể có thể nhận dạng
và tiêu diệt hàng triệu loại vi khuẩn và “kẻ thù ngoại bang”, song lắm khi cơ
thể chúng ta lại chết v́ chính hệ thống miễn dịch của chúng ta, trong các trường
hợp sốc phản vệ hay quá mẫn, khi đó cơ thể chúng ta bị rơi vào t́nh cảnh “quân
ta sát hại quân ḿnh”.
·
Lại lấy ví dụ cũng về mắt: như đă đề cập ở
trên, nhăn cầu chúng ta là một bộ phận quang học kín, rất ít có quan hệ với các
cơ phận xung quanh. Do dó dù là “con cháu trong nhà” nhưng hệ thống miễn dịch
của cơ thể không bao giờ có “số đăng bộ” của các bộ phận nhỏ ở bên trong nhăn
cầu cả. Khi bị chấn thương nhăn cầu, nhăn cầu vỡ ra, các chất bên trong này
thâm nhập vào mạch máu. Hệ miễn dịch cơ thể lúc này kiểm tra thấy rằng đây là
những kẻ “ngoại bang” xâm nhập, do đó hệ miễn dịch trung ương bắt đầu sản xuất
ra hàng loạt đội quân đặc nhiệm tấn công những “kẻ ngoại bang” này; và vô h́nh
chung, chúng tấn công luôn bên mắt c̣n lại, và hậu quả là bệnh nhân bị mù.
Trường hợp này trong y khoa gọi là “nhăn viêm đồng cảm”.
Nhận ra những mâu thuẫn trên chúng ta cảm thấy như cơ thể con
người được thiết kế bởi một nhóm kĩ sư lỗi lạc nhưng thỉnh thoảng lại bị can
thiệp bởi những tay phá hoại vụng về.
Thế nhưng, những “phi lí” và mâu thuẫn như
thế chỉ trở nên hợp
lí khi chúng ta chịu khó nh́n vấn đề qua lăng kính của Darwin. Nhà di truyền
học danh tiếng Theodosius Dobzhansky từng nói: "Trong sinh học không có cái
ǵ có ư nghĩa cả, nếu chúng ta không đặt nó vào bối cảnh của quá tŕnh tiến hóa."
Sinh học là nền tảng của y học, và sinh học tiến hóa (Evolutionary biology) là
nền tảng của sinh học; cho nên có thể nói rằng chúng ta cần phải hiểu sinh học
tiến hóa để hiểu y học. Tuy nhiên, sinh học tiến hóa chỉ mới được công nhận là
một khoa học cơ bản của y học trong vài năm gần đây (từ thập niên 1990s) mà
thôi. Việc nghiên cứu các vấn đề y khoa trong bối cảnh quá tŕnh tiến hóa có
khi c̣n được gọi là Darwinian Medicine (Y học Darwin) hay Evolutionary
Medicine (Y học tiến hóa).
Đại đa số các nghiên cứu y khoa trong thời gian qua nhằm đi
t́m nguyên nhân của bệnh tật và t́m thuật chữa trị. Ngược lại, y học tiến hóa
đặt câu hỏi tại sao cơ thể con người được thiết kế như hiện nay để chúng ta mắc
những bệnh như ung thư, tiểu đường, xơ vữa động mạch, phiền muộn, và ho, v.v…
Thành ra, y học tiến hóa cung cấp cho chúng ta một viễn cảnh lớn hơn, góc nh́n
rộng hơn, nhằm giải thích bổ sung các kết quả của nghiên cứu y học.
Chọn lọc tự nhiên
Hai cụm từ chủ đạo trong y học tiến hóa là
chọn lọc tự nhiên (natural selection) và “tiến hóa”. Chọn lọc tự nhiên thực
ra là một nguyên lí (không phải là một lí thuyết) hết sức đơn giản nhưng dễ dẫn
đến hiểu lầm. Ngày xưa, khi Charles Darwin đề xuất nguyên lí chọn lọc tự nhiên,
ông chắc chắn chưa biết đến gen; ông chỉ quan tâm và dựa vào những khác biệt về
đặc điểm của con người. Thành ra, ông phát biểu những ư kiến về chọn lọc tự
nhiên dựa vào những thay đổi về đặc điểm con người với thời gian và một vài ư
tưởng mơ hồ về “mă số” di truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nhưng ngày nay
chúng ta biết đến gen và DNA cấu trúc của gen. Chúng ta biết rằng con người có
khoảng 30.000 đến 35.000 gen, và gen tương tác với môi trường để tạo nên những
đặc điểm khác nhau giữa con người.
Nguyên lí chọn lọc phát biểu rằng nếu những người
với gen A có nhiều con cái hơn những người với gen B, th́ về lâu về dài gen A sẽ
trở nên phổ biến trong dân số hơn gen B, và gen B sẽ trở nên hiếm thấy trong dân
số. Do đó, nói đến chọn lọc tự nhiên là nói đến (a) sự biến thiên về thông tin
chứa trong gen làm nên những khác biệt về đặc tính một sinh vật; (b) sự khác
biệt về khả năng tái sản sinh của sinh vật, do hệ quả của (c) thay đổi thông tin
trong gen qua nhiều thế hệ. Ch́a khóa để hiểu chọn lọc tự nhiên là nhận thức
rằng sinh vật không thay đổi, nhưng thông tin và gen trong sinh vật thay đổi
theo thời gian.
Với nhận thức như trên, chúng ta hăy xét qua những giải thích
của y học Darwin. Tôi sẽ chia những giải thích này thành 4 nhóm: cơ chế pḥng
vệ, cạnh tranh với các sinh vật khác, cơ chế thỏa hiệp, và thích ứng với môi
trường mới.
Tiến hóa của cơ chế pḥng vệ
Nhiều triệu chứng của bệnh tật (hay ngay cả bệnh tật) là do
các tác nhân gây bệnh (pathogens) hay những bất b́nh thường trong cơ thể gây
nên, hay c̣n gọi là tác nhân ngoại sinh hoặc nội sinh. Nhiễm trùng, bại liệt,
bệnh vàng da, hay một cơn tai biến là một vài ví dụ cho phát biểu trên. Nhưng
một số biểu hiện khác th́ không phải do bất b́nh thường trong cơ thể mà do các
cơ chế pḥng vệ gây nên, và các cơ chế này được quá tiến hóa để bảo vệ chúng ta
khi phải đương đầu với một mối hiểm nguy. Chẳng hạn như ho, đau đớn, ói mửa,
tiêu chảy, mệt mỏi, và lo lắng. Có thể nhiều người trong chúng ta cho rằng đây
là những bệnh, nhưng trong thực tế có thể chúng là những cơ chế pḥng bệnh!
Ho có lẽ là một chứng thông thường nhất mà ai trong chúng ta
đều kinh qua. Nhưng tại sao chúng ta ho? Câu trả lời liên quan đến cơ chế
pḥng vệ của cơ thể. Thật vậy, ho có thể là một cơ chế pḥng vệ hữu hiệu nhất,
bởi v́ nó giúp cho việc tống xuất những độc chất ra ngoài cơ thể. Nhiều nghiên
cứu cho thấy những người không có khả năng thải các dị vật trong đường hô hấp và
phổi thường bị chết v́ viêm phổi. Và điều rơ ràng nhất, trong các trường hợp bị
viêm phổi trong giai đoạn cấp tính, nếu bệnh nhân không ho được hoặc dùng thuốc
cắt cơn ho, tiến tŕnh bệnh sẽ kéo dài hơn và nhiều trường hợp chết v́ ứ đọng
đờm giăi gây tắc nghẽn thông khí.
Khả năng đau đớn và lo lắng là những “sản phẩm” của quá tŕnh
chọn lọc tự nhiên. Nỗi lo lắng và đau đớn là hai “chứng” hay đi đôi với nhau
mỗi khi chúng ta kinh qua một sự mất mát lớn (như có người thân trong gia đ́nh
qua đời), và do đó chúng thường gắn liền với những cảm nhận tiêu cực. Thế nhưng
khả năng chịu đựng đau đớn và lo lắng cũng có lợi ích của nó. Nếu không có lợi,
có lẽ chúng ta chẳng bao giờ có khả năng lo lắng hay chịu đựng đau đớn.
Đau đớn là một cơ chế pḥng vệ. Đau đớn, dù làm cho biết bao
chúng ta phải khốn đốn, thực chất là một tín hiệu báo động cho cơ thể biết là
các mô và tế bào đang trong t́nh trạng nguy hiểm hay đang bị tổn thương. Phản
ứng đau là một dấu hiệu báo cho bộ năo chúng ta biết, và điều khiển lí trí chúng
ta phải dừng hoạt động các bộ phận đó lại để cho chúng có thời gian hồi phục.
Những người không biết đau đớn thường chết sớm (trước tuổi 30), và không có cơ
hội lưu truyền gen cho thế hệ mai sau. Chẳng hạn như những người với chứng rỗng
tủy sống (syringoyelia), do hư hỏng dây thần kinh phát đi tín hiệu đau đớn, có
thể cầm một tách cà phê cực nóng và uống b́nh thường, hay có thể để cho điếu
thuốc lá cháy dần đến ngón tay mà không hề cảm thấy đau đớn ǵ cả. Hay nhưng
với các bệnh nhân bị phong (leprosy), các dây thần kinh cảm giác (đau, nóng) bị
tổn thương, làm cho các chi không c̣n biết “sợ” là ǵ, hậu quả dẫn đến các bệnh
nhân bị cụt dần các đốt ngón tay ngón chân, do đó mà gọi là phong cùi! Thành
ra, ngăn ngừa đau đớn một cách vô ư thức bằng thuốc có thể dẫn đến nhiều hậu quả
khó lường.
Sợ hăi cũng là một cơ chế pḥng về có lợi ích.
Phần đông chúng ta đều cảm thấy sợ hăi trước những sinh vật nguy hiểm như rắn,
rết, nhện, hay lo sợ khi đứng trên một ṭa nhà cao ngất trời. Tiến hóa và chọn
lọc tự nhiên đă làm cho chúng ta phải t́m cách tránh những hiểm nguy này. Bộ
năo của thỏ được “chương tŕnh hóa” để tránh chó sói, và cũng không ngạc nhiên
khi biết bộ năo chúng ta cũng có một khả năng tương tự. Nhưng sợ hăi cũng là
một quá tŕnh học hỏi qua tiến hóa, và bài học có khi sai, có khi đúng, cho nên
chúng ta thỉnh thoảng vẫn phải trả một giá đắt cho sự sợ hăi. Giáo sư tâm lí
học Susan Mineka từng tiến hành một nghiên cứu thú vị: khi khỉ được nuôi trong
chuồng chúng không hề biết sợ rắn, chúng c̣n dám bước qua con rắn để kiếm chuối
làm thức ăn; nhưng khi chúng được cho xem một video mà trong đó khỉ phản ứng sợ
hăi trước con rắn, chúng trở nên sợ rắn kể từ đó và không dám lại gần rắn nữa!
Một cơn sốt, không chỉ đơn giản gia tăng tỉ lệ nội tiết, mà
c̣n có công dụng điều chỉnh nhiệt độ cơ thể. Gia tăng nhiệt độ làm cho việc
tiêu diệt các tác nhân gây bệnh (pathogens) hay độc tố nhanh chóng và dễ dàng
hơn. Và chính nhiệt độ cơ thể tăng là một cơ chế làm thay đổi môi trường sống
tối ưu của vi khuẩn, làm cho chúng mau chết. Nhiều nghiên cứu khoa học cho thấy
ngay cả khi thằn lằn (có máu lạnh), khi được cấy vi khuẩn làm cho chúng nhiễm
trùng, thường t́m đến các khu vực ấm áp cho đến khi cơ thể chúng tăng vài độ.
Nếu ngăn chận những thằn lằn đến những vùng ấm áp, chúng có nguy cơ chết nhanh
v́ nhiễm trùng. Một nghiên cứu tương tự của Evelyn Satinoff (Đại học Delaware)
trên chuột cao tuổi cũng cho thấy một kết quả tương tự: khi chuột bị cho nhiễm
trùng, chúng thường t́m đến những nơi có nhiệt độ cao để sống sót.
Nhưng nhận thức được những lợi ích của các cơ chế pḥng vệ
cũng không hẳn hiển nhiên như các trường hợp trên. Nhiều người trong chúng ta
thường kinh qua những phản ứng tưởng như vô thưởng vô phạt trước những đau đớn,
sốt, tiêu chảy, hay ói mửa. Muốn hiểu những phản ứng này, cần phải phân tích hệ
thống chi phối các phản ứng của cơ thể theo lí thuyết nhận dạng tín hiệu
(signal-detection theory). Nhiều độc tố lưu chuyển trong cơ thể thường xuất
phát từ bao tử. Một sinh vật có thể tống xuất nó một cách hữu hiệu là bằng cách
ói mửa, nhưng cũng phải trả một cái giá “dương tính giả”, tức là cơ chế ói mửa
được khởi động, nhưng trong cơ thể không có độc tố, và hành vi này tốn mất vài
calories năng lượng. Thế nhưng nếu cơ chế pḥng vệ không được phát động trong
khi trong cơ thể có độc tố th́ cái giá phải trả có khi c̣n đắt hơn nhiều: tử
vong.
Chọn lọc tự nhiên, do đó, có xu hướng điều chỉnh các cơ chế
cực ḱ bén nhạy theo nguyên lí nhận dạng tín hiệu vừa nói trên. Một hệ thống
pḥng cháy được xem là đáng tin cậy nếu nó báo động bất cứ lúc nào có khói hay
có lửa, nhưng nó cũng có thể cho ra báo động giả (như khói xuất phát từ một ḷ
nướng!) Tương tự, trong cơ thể con người cũng có rất nhiều hệ thống báo động
như thế, nhưng có nhiều khi chúng cũng báo động một cách không cần thiết, và
chúng ta đôi khi phải khổ sở v́ những báo động “giả” này. Nguyên lí này giải
thích tại sao việc khống chế các cơ chế pḥng vệ thường dẫn đến những hệ quả
nghiêm trọng. Bởi v́ phần lớn những phản ứng xuất phát từ những mối đe dọa nhỏ,
việc can thiệp vào những cơ chế pḥng vệ thường vô hại; chỉ khi nào các cơ chế
pḥng vệ lớn bị khống chế th́ hệ quả mới nghiêm trọng. Ở đây ta hiểu nôm na, là
sự tiến hoá của các cơ phận của cơ thể cũng tuân theo một nguyên tắc “thà đánh
nhầm c̣n hơn bỏ sót!”
Xung đột với các sinh vật khác
Một phần lớn bệnh tật là hệ quả của sự cạnh tranh sinh tồn
giữa các sinh vật. Một ví dụ hiển nhiên nhất là cạnh tranh giữa con người và vi
khuẩn và những tác nhân gây bệnh. Có thể lấy sự cạnh tranh giữa thỏ và chó sói
để minh họa cho ư tưởng này. Nếu có một gen (hay đột biến gen) làm cho chó sói
chạy nhanh hơn các thú vật khác, chó sói sẽ bắt thỏ dễ dàng, và gen này sẽ trở
nên phổ biến hơn trong các thế hệ sau. Và đối với thỏ, hậu quả của hiện tượng
này là càng ngày càng có ít thỏ sống sót, và những thỏ sống sót cũng ở trong
t́nh trạng nguy hiểm. Chỉ có những chú thỏ chạy thật nhanh mới sống sót lâu
dài, và chọn lọc tự nhiên sẽ làm tăng gen làm cho thỏ chạy nhanh hơn. Ngay
trong loài thỏ, thỏ rừng (hare) có độ tinh quái và tốc độ chay nhanh hơn gấp
nhiều lần so với thỏ nhà khù khờ.
Tương tự trong con người, chọn lọc tự nhiên không thể cung
cấp cho chúng ta một cơ chế pḥng vệ toàn năng chống lại tất cả những độc tố và
tác nhân gây bệnh, bởi v́ những độc tố và tác nhân gây bệnh này thường tiến hóa
nhanh hơn cơ thể con người! Chẳng hạn như vi khuẩn E. coli, với
tỉ lệ tái sản sinh cực nhanh (một ngày tiến hóa của chúng bằng thời gian tiến
hóa của con người khoảng 1000 năm), và v́ thế chúng có thừa thời gian để tồn tại
và tấn công vào con người, trong khi đó, hệ thống pḥng vệ của cơ thể, dù là tự
nhiên (nội lực) hay do sử dụng thuốc, không có đủ thời gian để đối phó với những
kẻ thù mới. Chính v́ thế mà cho đến ngày nay, giới khoa học gia c̣n vẫn đang
phải bó tay với t́nh trạng kháng thuốc rất nhanh của vi khuẩn đối với bất kỳ một
thế hệ thuốc mới nào ra đời. Hay cho đến nay, chưa ai biết nếu ngăn chận chứng
sổ mũi bằng thuốc có hiệu quả làm ngắn thời gian bệnh tật hay không? Các loại
thuốc chống sổ mũi hoàn toàn không có tác dụng chữa bệnh mà nó chỉ làm cho giảm
tiết dịch của tế bào mà thôi, trong khi đó lợi bất cập hại. Sổ mũi chính là cơ
chế pḥng vệ của cơ thể, nước mũi tiết ra là để tẩy rửa vi trùng; rồi chúng ta
phải hắt x́ hơi để tống xuất mầm bệnh ra ngoài. Trong khi đó dùng thuốc chống
chảy mũi, chống hắt x́ hơi, là chúng ta giam hăm mầm bệnh lại trong cơ thể ḿnh,
tiến tŕnh bệnh lư c̣n có nguy cơ kéo dài hơn nhiều.
Nhiễm trùng là hệ quả của sự cạnh tranh v́ sinh tồn giữa hai
sinh vật: giữa kí sinh vật (vi khuẩn) và kí chủ (tức cơ thể của chúng ta mà vi
khuẩn sống nhờ). Con người nói chung đă chinh phục nhiều tác nhân gây bệnh với
những thuốc như thuốc kháng sinh và vắc-xin. Chiến thắng của con người tương
đối nhanh và có vẻ như hoàn toàn, như lời tuyên bố đầy tự tin của Bộ trưởng y tế
Mĩ, William H. Stewart, vào năm 1969: "Bây giờ
chúng ta có thể nói rằng bệnh truyền nhiễm đă được khống chế hoàn toàn. Đă đến
lúc chúng ta đóng sổ căn bệnh này." Thế nhưng kẻ
thù, và với sức mạnh của chọn lọc tự nhiên, đă làm cho lời tuyên bố đó trở thành
khôi hài! Thực tế phũ phàng là các tác nhân gây bệnh có khả năng thích nghi với
bất cứ hóa chất nào mà con người dùng để tiêu diệt
chúng. Một nhà khoa học nói một cách chua chát: "Cuộc chiến đă kết thúc,
nhưng kẻ thắng trận là kẻ thù của chúng ta."
Hiện tượng đề kháng thuốc kháng sinh là một minh chứng cổ
điển cho sức mạnh của chọn lọc tự nhiên. Vi khuẩn có những gen giúp cho chúng
sinh sôi nẩy nở, mặc cho sự hiện diện của thuốc kháng sinh chúng tái sản sinh
rất nhanh, và do đó các gen có chức năng đề kháng thuốc kháng sinh có cơ hội
bành trướng hoạt động khắp nơi. Tiến sĩ Joshua Lederberg (Rockefeller
University, giải Nobel) từng làm nghiên cứu cho thấy kí sinh trùng có thể chuyền
từ kí sinh chủ này sang kí sinh chủ khác, thậm chí c̣n phát sinh thêm một vài
mảng DNA nhiễm trùng. Ngày nay, một số vi khuẩn gây bệnh lao ở New York có khả
năng đề kháng chống lại tất cả ba nhóm điều trị bằng thuốc kháng sinh; thời gian
sống sót của các bệnh nhân mang những vi khuẩn này không lâu hơn so với thời
gian mà bệnh nhân TB sống sót vào một thế kỉ trước.
Nhiều người, kể cả giới thầy thuốc và khoa học gia, vẫn tin
rằng tác nhân gây bệnh trở nên “hiền lành” hơn sau khi chúng sống chung với kí
sinh chủ một thời gian dài. Thoạt đầu mới nghe qua th́ thuyết này có vẻ có lí.
Một sinh vật có khả năng giết chết kí chủ một cách nhanh chóng khó mà t́m một kí
chủ mới để tồn tại; thành ra, chọn lọc tự nhiên có vẻ “tử tế” với những tác nhân
gây bệnh ôn ḥa. Chẳng hạn như bệnh giang mai, một bệnh cực ḱ độc hại khi lần
đầu lan đến Âu châu, sau vài thế kỉ tồn tại, bệnh này trở nên “lành” hơn. Mức
độ độc hại của tác nhân gây bệnh là một câu chuyện đời, có lúc thăng trầm, tùy
thuộc vào lựa chọn nào có lợi cho gen của chúng.
Bởi v́ các tác nhân gây bệnh (như vi khuẩn) truyền từ bệnh
nhân này sang bệnh nhân khác, và nếu mức độ độc hại thấp th́ chúng có thể đem
lại lợi ích, bởi v́ chúng “cho phép” kí chủ (bệnh nhân) mạnh khỏe để tiếp xúc
với nhiều kí sinh vật khác, và do đó chúng sẽ có thời gian và cơ hội tồn tại lâu
hơn. Nhưng đối với vài bệnh, như sốt rét chẳng hạn, vi khuẩn cũng có thể truyền
từ bệnh nhân này sang bệnh nhân khác, nhưng chỉ trong những bệnh nhân suy kiệt,
mất gần hết năng lực. Đối với các tác nhân gây bệnh như thế, chúng thường dựa
vào những “sinh vật trung gian” (như muỗi chẳng hạn), và một mức độ độc hại cao
có thể đem lại lợi ích trong một t́nh huống nào đó. Nguyên lí này có liên quan
đến việc kiểm soát và khống chế bệnh truyền nhiễm trong các bệnh viện, nơi mà
bàn tay nhân viên y tế có thể là những trung gian dẫn đến việc sản sinh ra những
loại vi khuẩn nguy hiểm.
Với trường hợp bệnh dịch tả, nguồn nước công cộng đóng một
vai tṛ của con muỗi. Khi nước uống và tắm rửa bị nhiễm do các chất thải và
phóng uế từ bệnh nhân bị liệt không đi đứng được, chọn lọc tự nhiên có xu hướng
tăng cường độ độc hại, bởi v́ càng nhiều trường hợp tiêu chảy càng nâng cao khả
năng bành trướng của kí sinh vật ngay cả khi bệnh nhân bị chết nhanh chóng.
Nhưng khi t́nh h́nh vệ sinh cải thiện, chọn lọc tự nhiên có xu hướng chống lại
những vi khuẩn gây bệnh tiêu chảy (như phẩy khuẩn tả) để ưu tiên cho sự tồn tại
của loài vi khuẩn yếu hơn như vi khuẩn El Tor. Trong điều kiện này, một
khi kí chủ bị chết cũng có nghĩa là vi khuẩn chết theo. Nhưng một kí chủ bệnh
nhẹ hơn và c̣n năng động hơn, th́ vi khuẩn có cường độ độc hại thấp và có thêm
cơ hội lây truyền sang nhiều ki sinh chủ khác và sống lâu hơn. Một ví dụ khác
tương đối hiển nhiên hơn là một khi t́nh h́nh vệ sinh trở nên tốt sẽ làm cho vi
khuẩn độc hại như trực khuẩn Lỵ ḍng flexerie bị loại khỏi môi
trường và thay vào đó là một vi khuẩn “hiền lành” hơn là trực khuẩn Lỵ ḍng
sonnei.
Nhận thức được những t́nh huống tế nhị như thế có thể giúp
ích cho việc hoạch định chính sách y tế công cộng. Dựa vào lí thuyết tiến hóa
chúng ta có thể tiên đoán rằng dùng kim chích sạch và khuyến khích an toàn sex
có thể cứu sống nhiều nạn nhân nhiễm HIV nhiều hơn là dùng thuốc để tiêu diệt
HIV. Nếu hành vi con người tự nó có thể ngăn ngừa (hay giảm thiểu tỉ lệ) truyền
nhiễm HIV, th́ những chi vi khuẩn không giết chết “chủ nhà” của chúng (tức bệnh
nhân) có khả năng tồn tại lâu dài hơn những vi khuẩn độc hại thường hay chết
theo với gia chủ của chúng. Thành ra, ư thức được điều này có thể làm thay đổi
t́nh h́nh HIV hiện nay. Nếu nh́n nhận vấn đề dưới góc độ y học tiến hoá, th́
điều này hoàn toàn logic và dễ hiểu. Virút HIV nó đă tồn tại qua chọn lọc tự
nhiên, thích nghi được với kư chủ qua thích ứng tự nhiên. Chúng ta cũng phải
bằng cái tự nhiên để mời “những vị khách không mời” này ra khỏi cơ thể chúng ta
th́ hẳn là hiệu quả và an toàn hơn nhiều khi chúng ta dùng một hoá chất nhân tạo
để tác động vào vi rút; một phần có thể thuốc của chúng ta chính là một sự
khuyến khích cho virút HIV đột biến nhanh hơn, sớm hơn để thích nghi với hoàn
cảnh sống mới, mặt khác chúng ta hại ḿnh bằng những hoá chất đó.
Xung đột với các vi sinh vật khác không chỉ giới hạn trong
các tác nhân gây bệnh hay vi khuẩn. Trong quá khứ, con người thường phải đương
đầu với dă thú, những “kẻ thù” không ngần ngại dùng con người làm bữa ăn cho
chúng. Ngoại trừ vài nơi trên thế giới, những dă thú ăn thịt người ngày nay
không c̣n là mối đe dọa cho sự sinh tồn của con người nữa. Ngày nay, chúng ta
đang đương đầu với những sinh vật nhỏ hơn như nhện và rắn chẳng hạn. Một điều
khá trớ trêu là chúng ta sợ hăi những sinh vật nhỏ bé v́ những ám ảnh về nguy cơ
tiếp xúc với chúng. Sự thật là có một sinh vật c̣n nguy hiểm hơn cả những dă
thú hay những sinh vật có khả năng đầu độc: sinh vật đó chính là … con người.
Con người gây chiến tranh, đánh phá chém giết nhau, không phải để ăn thịt mà để
kết bạn, để t́m thêm thuộc địa và tài nguyên thiên nhiên. Những cuộc xung đột
bạo động giữa con người thường xảy ra trong phái nam, nhất là thời c̣n trẻ tuổi,
và qua những xung đột này con người tổ chức thành từng nhóm riêng lẻ để phục vụ
cho mục đích gây hấn. Chính v́ thế chúng ta thấy quân đội gồm đại đa số là
thanh niên, và con người phải trả một cái giá đắt cho việc tổ chức thành nhóm
này!
Ngay cả những mối quan hệ mật thiết giữa con người cũng có
khi gây nên những xung đột có ư nghĩa y khoa. Chẳng hạn như lợi ích tái sản
sinh của người mẹ và trẻ sơ sinh, thoạt đầu th́ có vẻ theo chiều hướng “đôi bên
cùng có lợi”, nhưng nếu xem xét kĩ th́ có thể ngược lại. Nhà sinh vật học
Robert L. Trivers trong một bài viết năm 1974 từng đưa ra một nhận xét rằng khi
đứa con của người mẹ lên vài ba tuổi, lợi ích di truyền của bà mẹ đ̣i hỏi hay
khuyến khích bà mẹ nên có thai một lần nữa, trong khi đó lợi ích của đứa trẻ là
được tiếp tục nuôi dưỡng. Ngay từ khi c̣n trong bụng mẹ, cuộc “tranh chấp” đă
xảy ra. Đứng trên quan điểm ưu thế của bà mẹ, kích thước tối ưu của bào thai
phải nhỏ hơn một chút so với kích thước mà bào thai và người cha mong muốn. Sự
mâu thuẫn lợi ích này, theo David Haig (Harvard University) làm cho cuộc chạy
đua giữa bào thai và bà mẹ trong việc điều chỉnh áp suất máu và lượng đường
trong máu, thỉnh thoảng có thể làm cho bà mẹ bị cao huyết áp và tiểu đường trong
khi mang thai.
Cân bằng lợi và hại
Hầu như mỗi cơ phận của cơ thể con người đều được
“thiết kế” để pḥng chống bệnh tật, nhưng với một cái giá. Chẳng hạn như tại
sao cánh tay của chúng ta không mạnh hơn để pḥng chống găy xương? Xương tay có
thể thiết kế dày hơn để chống găy xương khi chúng ta té, nhưng nếu xương tay
được làm cho dày hơn, sự năng động và khéo léo của tay sẽ bị giảm và cổ tay sẽ
không linh động được.
Tại sao chúng ta đi đứng bằng hai chân? Nhiều giải thích đă
được đề ra: đi đứng bằng hai chân có lợi ích sử dụng dụng cụ, vũ khí và bồng bế
con. Đi đứng bằng hai chân có nhiều lợi ích, nhưng chúng ta vẫn phải trả giá
bởi v́ xương sống được thiết kế tối ưu cho sinh vật đi bằng bốn chân, và khi
đứng thẳng một lực ép lớn đè nặng trên các đĩa của đệm phần dưới xương cột sống
làm đau đớn và có khi tàn phế. Thật vậy, đau lưng là một trong những chứng
thường hay gặp nhất trong tất cả các bệnh tật. Có thể thời gian tiến hóa của
con người chưa đầy đủ để hóa giải những tác hại này.
Bệnh hồng cầu liềm (sickle cell disease) là một ví dụ khác về
sự tương quan giữa lợi và hại của gen. Gen gây nên bệnh hồng cầu liềm cũng là
gen có lợi ích chống lại bệnh sốt rét. Bệnh này do một gen có tên là hemoglobin
(Hb) gây ra. Gen Hb có hai biến thể (alleles: S và A) làm nên ba dạng
(genotypes): SS, SA và AA. Biến thể S thường hay
t́m thấy trong các sắc dân sinh sống ở các vùng nhiệt đới và Phi châu nơi bệnh
sốt rét c̣n hoành hành, nhưng tại các sắc dân da trắng rất hiếm (dưới 1%) người
mang biến thể S. Những người có dạng gen SS rất dễ bị mắc bệnh
hồng cầu liềm, nhưng nguy cơ bị bệnh sốt rét th́ hầu như không đáng kể!
Thích ứng với cái mới
Môi trường mà chúng ta đang sống rất khác với môi trường mà
chúng ta từng được thiết kế để sống hàng trăm ngàn năm trước đây. Phần lớn
những bệnh chúng ta hay gặp ngày nay chỉ phố biến trong ṿng 100 năm qua do thay
đổi môi trường sống, một phần lớn khác phát sinh từ khi con người bắt đầu làm
cuộc cách mạng nông nghiệp (khoảng 15 đến 20 ngàn năm trước đây tại Đông Nam
Á). Trước thời cách mạng nông nghiệp, con người sống chủ yếu từng nhóm 10 – 50
người bằng nghề săn thú và hái trái cây hoa quả. Vào thời ḱ đó, muối c̣n rất
hiếm và đường chỉ có từ trái cây chín hay mật ong, và béo ph́ có lẽ chưa tồn
tại. Nhưng ngày nay chúng ta sống trong một môi trường hoàn toàn khác.
Chỉ cần dạo một ṿng bệnh viện chúng ta có thể thấy rất nhiều
bệnh hiểm nghèo do chính con người gây nên. Tai biến mạch máu năo, chẳng hạn,
là do chứng vữa xơ động mạch, một vấn đề trở nên
rất phổ biến chỉ trong thế kỉ này nhưng rất hiếm trong thời con người c̣n sống
trong cuộc sống săn bắt và hái lượm. Nhiều nghiên cứu dịch tễ học chỉ ra hàng
tá yếu tố nguy cơ mà chúng ta có thể tránh để giảm nguy cơ bệnh tim, như hạn chế
chất béo, ăn nhiều rau xanh, vận động thường xuyên. Nhưng ở phương Tây, trong
khi hàng trăm hệ thống nhà hàng ăn liền khấm khá ra và bành trướng thêm, th́
thực phẩm “diet” (tiết thực) lại ṃn mỏi đợi trong siêu thị để chờ khách hàng
đến chiếu cố, và các thiết bị tập thể dục trở thành những cái móc treo quần áo
thời trang đắt tiền. Tỉ lệ người Mĩ quá cân hiện đang lên đến con số 30%, và
đang gia tăng. Chúng ta biết cái ǵ tốt và cái ǵ xấu cho sức khỏe chúng ta,
nhưng tại sao phần đông chúng ta lại tiếp tục đi theo con đường thiếu lành mạnh
và có hại cho sức khỏe?
Nhân tố nào đă đi đến những quyết định thiếu sáng suốt như
thế? Trả lời: bộ năo. Mà bộ năo th́ được h́nh thành để đối ứng và thích nghi
với một môi trường rất khác với môi trường chúng ta đang sống. Ở vùng hoang mạc
Phi châu, nơi mà tổ tiên chúng ta được “thiết kế” và hun đúc, chất béo, muối và
đường thường rất hiếm và quí. Thời đó, những ai có cơ hội tiêu thụ nhiều chất
béo có lợi thế sống sót rất đáng kể. Nói cách khác, những người này có cơ may
thoát khỏi những đợt đói khát từng tiêu diệt hầu hết những người đồng tộc ốm yếu
hơn. Và chúng ta, hậu duệ của họ, vẫn mang trong người những thói quen ham mê
chất béo cho đến ngày nay, nhưng ngày nay chất béo không phải là cái ǵ quá hiếm
hoi nữa. Những “đam mê tiền sử” này -- được thôi thúc bằng những quảng cáo hấp
dẫn của các công ti thực phẩm khổng lồ, những công ti cũng t́m cách sống sót vào
nỗ lực bán những ǵ chúng ta muốn tiêu thụ -- dễ dàng đánh bại tri thức và ư chí
của chúng ta. Thật là trớ trêu khi con người phải lao động hàng chục thế kỉ để
tạo ra những môi trường sống với sữa và mật thừa thăi, để rồi phải chứng kiến sự
thành công của chúng ta gây nên những bệnh tật hiểm nghèo và dẫn đến cái chết.
Càng ngày chúng ta càng lệ thuộc vào nhiều hóa chất, nhất là
rượu và thuốc lá. Những hóa chất gây ra rất nhiều bệnh tật, làm tốn kém đến
ngân sách gia đ́nh và nhà nước, cũng như nạn tử vong non. Mặc dù con người
trong quá khứ vẫn sử dụng các hóa chất trợ thần kinh (psychoactive substances),
nhưng tác hại chỉ trở nên hiển nhiên khi khi chúng ta tiếp xúc với một môi
trường mới: đó là sự có mặt của các loại thuốc mới có thể tiêm trực tiếp vào cơ
thể. Phần lớn những hóa chất này, kể cả nicotine, côcain và thuốc phiện, là
những sản phẩm của quá tŕnh chọn lọc tự nhiên đă được tiến hóa để pḥng chống
cây cỏ và côn trùng. Bởi v́ con người có chung một di sản tiến hóa cùng côn
trùng, cho nên phần lớn những hóa chất này ảnh hưởng đến hệ thống thần kinh.
Trong vài thập niên gần đây bệnh ung thư vú đang trên đà gia
tăng. Ngoài vài trường hợp do các yếu tố di truyền gây ra, xu hướng này có thể
là hệ quả của sự thay đổi môi trường và cách sống của chúng ta. Tiến sĩ Boyd
Eaton và đồng nghiệp tại Đại học Emory cho biết tỉ lệ ung thư vú trong các xă
hội được xem là "lạc hậu" chỉ bằng một phần nhỏ so với tỉ lệ ở các nước "văn
minh" như Mĩ và Âu châu. Họ giả thuyết rằng thời gian giữa tuổi có kinh và tuổi
có thai lần đầu là một yếu tố nguy cơ số một. Ngoài ra, yếu tố nguy cơ khác là
thời gian từ lúc tuổi có kinh đến tuổi măn kinh. Trong thời con người c̣n sống
bằng săn hái, tuổi có kinh là khoảng 15 hay thậm chí muộn hơn nữa, và sau đó vài
năm là có thể mang thai và sau 2 hay 3 năm nuôi con, lại có thai lần nữa. Thời
gian giữa lúc nuôi con và mang thai lần nữa là thời gian nồng độ kích thích tố
cao nhất và có thể có ảnh hưởng tiêu cực đến nguy cơ bị ung thư vú.
Trong các xă hội hiện đại, ngược lại, tuổi có kinh lần đầu là
12 hay 13, có lẽ một phần là do lượng chất béo đầy đủ cho phép người phụ nữ có
khả năng nuôi dưỡng một bào thai – và lần có thai đầu tiên có lẽ vài thập niên
sau đó hay không bao giờ. Một người phụ nữ thời săn hái có lẽ có 150 lần kinh
nguyệt trong đời, trong khi đó một người phụ nữ trung b́nh trong xă hội hiện đại
có 400 lần kinh nguyệt hay thậm chí cao hơn.
Như đă lưu ư trên, mắt của động vật có xương sống được “bố
trí” ngược. Mắt của con mực, ngược lại, không có cấu trức ngược đời này, với
mạch máu và dây thần kinh bố trí ở phía ngoài, xuyên qua những nơi cần thiết và
ghim xuống cái vơng mạc để không dễ dàng bị tháo gỡ. Cấu trúc sai lầm của mắt
con người là do một nhầm lẫn may rủi; mấy trăm triệu năm về trước, lớp tế bào
nhạy cảm trước ánh sáng trong tổ tiên chúng ta được đặt ở vị trí khác với tổ
tiên của mực. Hai thiết kế tiến hóa theo hai chiều hướng khác nhau, và cho đến
nay không có con đường trở lại!
Tiến hóa và y học tiến hóa
Y khoa là một ngành nghề thực tế hơn là lí thuyết. Để điều
trị bệnh nhân người bác sĩ muốn biết tại sao bệnh nhân mắc bệnh và phải làm ǵ
để bệnh nhân hết bệnh. Đứng trước bệnh nhân, người bác sĩ thực hành không cần
đặt câu hỏi tại sao một cộng đồng mắc bệnh như bệnh nhân này. Bệnh nhân đến
pḥng mạch bác sĩ với một móng chân sưng v́ có quá nhiều acid uric, và bác sĩ
cần phải lập tức giúp đỡ bệnh nhân. C̣n việc nồng độ acid uric cao lại có thể
bảo vệ chúng ta chống lại lăo hóa th́ chẳng ăn nhập ǵ đến chuyện gây ra cái
móng chân đau trong trường hợp này cũng như không nằm trong phương tŕnh của
điều trị bệnh nhân.
Thế nhưng y học tiến hóa có thể giúp cho bác sĩ trong nhiều
vấn đề thực tế. Chẳng hạn như nhận thức được rằng tiêu chảy, cảm cúm, đau đớn,
ói mửa, và lo lắng là những cơ chế pḥng vệ có ích cho con người giúp cho bác sĩ
điều trị những bệnh này một cách tinh vi hơn. Một mặt, nhận thức này buộc bác
sĩ phải suy nghĩ cẩn thận trước khi quyết định có nên dùng thuốc để làm tê liệt
những cơ chế pḥng vệ hay không.
Đối với y tế công cộng, tiếp cận bệnh tật qua quan điểm của
thuyết tiến hóa có ư nghĩa quan trọng, bởi v́ nó giúp cho những người hoạch định
chính sách suy nghĩ về thay đổi môi trường sinh sống của một dân số. Chẳng hạn
như nhận thức rằng những sinh vật có khả năng lây truyền bệnh giữa các kí chủ
(bệnh nhân) bại liệt là những sinh vật nguy hiểm có thể giúp ích cho việc phát
triển chính sách y tế công cộng. Sử dụng condom không những chỉ pḥng ngừa lây
truyền các bệnh liên quan đến t́nh dục, mà c̣n làm giảm cường độ độc hại của tác
nhân gây bệnh. Một bệnh lây truyền qua t́nh dục làm cho con người chết sớm hay
tê liệt sớm thường có xu hướng tăng cường độ độc hại nếu bệnh nhân có nhiều quan
hệ t́nh dục với nhiều người khác nhau; nhưng nếu bệnh nhân sử dụng các phương
tiện bảo vệ hay tránh “phiêu lưu” với t́nh dục th́, theo thuyết tiến hóa, cường
độ độc hại của tác nhân gây bệnh có thể giảm. Những nguyên lí này rất có ích
cho việc phát triển vắc-xin để pḥng chống bệnh tật.
Đối với nghiên cứu y khoa và giáo dục y khoa, y
học tiến hóa đặt ra rất nhiều chủ đề nghiên cứu thú vị. Hiện nay, mở bất cứ
sách giáo khoa y học nào chúng ta đều thấy những lí giải về bệnh tật dưới những
tiêu đề như dấu hiệu và triệu chứng, các phát hiện từ nghiên cứu y học, các chẩn
đoán khả dĩ, quá tŕnh phát triển của bệnh, biến chứng, dịch tễ học, nguyên
nhân, sinh lí học, điều trị, và hệ quả. Nhưng chưa có sách giáo khoa nào có
tiêu đề dành cho các lí giải về bệnh tật dưới ánh sáng của y học tiến hóa.
Nhiều nhà nghiên cứu y học cho rằng đó là một thiếu sót. Một lí giải bệnh tật
đầy đủ phải trả lời những câu hỏi sau đây:
·
Khía cạnh nào của hội chứng của căn bệnh là
trực tiếp xuất phát từ bệnh, và khía cạnh nào xuất phát từ các cơ chế pḥng vệ
của cơ thể?
·
Nếu căn bệnh là do một phần di truyền th́ tại
sao các gen gây bệnh tồn tại?
·
Có phải các yếu tố liên quan đến môi trường
sống cũng góp phần gây nên căn bệnh?
·
Nếu căn bệnh liên quan đến nhiễm trùng th́ khía
cạnh nào của căn bệnh là có lợi cho kí chủ (bệnh nhân) và khía cạnh nào có lợi
cho kí sinh trùng? Các tác nhân gây bệnh sử dụng “chiến lược” nào để làm tê
liệt hệ thống pḥng vệ của cơ thể?
·
Những di sản tiến hóa nào hay những dàn xếp gữa
lợi và hại nào làm cho chúng ta mắc bệnh?
Những câu hỏi đơn giản như thế có thể giúp cho chúng ta một
số định hướng để nghiên cứu y học trong tương lai. Ngay cả đối với cảm lạnh
cũng đặt ra một số đề tài thú vị: sử dụng aspirin sẽ đem lại hiệu quả hay tác
hại ǵ? Hệ quả của việc sử dụng thuốc hít vào muỗi (inhalers) hay các thuốc
chống nghẹt muỗi ra sao? Một thách thức cho y học tiến hóa là đánh giá hiệu quả
của các chất chống oxy hóa (anti-oxidants) như vitamin C, vitamin E và
beta-carotene. Y học cổ truyền từ lâu cho rằng những chất này có hiệu quả chống
lại bệnh tim mạch, ung thư, và thậm chí làm giảm lăo hóa. Đến nay đă có nhiều
kết quả từ các nghiên cứu lâm sàng nhất quán với quan điểm cổ truyền trên, nhưng
một nghiên cứu qui mô khác vào năm 1994 lại cho thấy các chất trên có thể làm
tăng nguy cơ ung thư ở vài người! Nhưng đứng trên nguyên lí của y học tiến hóa,
chúng ta có thể lí giải rằng chọn lọc tự nhiên có thể làm cho nồng độ hóa chất
chống oxy hóa trong cơ thể nâng cao ngay cả chúng có thể gây ra một số bệnh.
Nồng độ axít uric thường cao hơn ở các sinh vật sống lâu và ở những người với
bệnh gout. Rất có thể chọn lọc tự nhiên làm tăng nồng độ axít uric hay các hóa
chất khác kể cả bilirubin, bởi v́ đây là những hóa chất chống oxy hóa có thể làm
chậm quá tŕnh lăo hóa ở những sinh vật sống lâu. Đây là những đề tài đơn giản
mà chúng ta có thể khai thác trong tương lai.
Như chúng ta đă thấy qua vài trường hợp tŕnh bày trên đây,
chọn lọc tự nhiên hay tiến hóa không phải nhằm mục đích tối ưu hóa sức khỏe của
sinh vật, mà chỉ quan tâm đến sự tái sản sinh của gen. Những ǵ đem lại lợi ích
cho gen không có nghĩa là sẽ đem lại lợi ích cho sinh vật, cho chúng ta. Thành
ra, một gen có thể làm cho chúng ta có khả năng tái sản sinh tốt, và gen đó sẽ
trở nên phổ biến hơn trong các thế hệ mai sau, nhưng cũng chính gen đó có thể
gây tác hại khác đến sức khỏe của chúng ta!
Trong phần cuối của cuốn sách nổi tiếng “Origin of Species”
(Nguồn gốc của các chủng loại), Charles Darwin tiên đoán rằng công tŕnh của ông
sẽ dẫn đến nhiều nghiên cứu quan trọng trong một tương lai gần. Sau gần 200
năm, tiên đoán của Darwin đang dần dần trở thành sự thật. Mặc dù dưới ánh sáng
của lí thuyết Darwin, sinh học tiến hóa nay chỉ mới đang trong giai đoạn phôi
thai, và mới được công nhận là một bộ môn khoa học cơ bản của y khoa. Hiện nay,
y học tiến hóa chỉ tồn tại ở mức độ lí thuyết, nhưng những giải thích sâu sắc
của y học tiến hóa có thể dẫn đến một cuộc cách mạng trong y học hiện đại. Nếu
không hiểu thấu đáo được sự năng động của quá tŕnh tiến hóa, chúng ta sẽ không
thể nào hiểu đúng nguồn gốc của bệnh tật.
Ghi chú:
1. Phần lớn bài viết này là tóm tắt quyển sách “Why we
get sick: The new science of Darwinian medicine” của Randolph M. Nesse và
George C. Williams, Nhà xuất bản Vintage Books , New York, 1994. Có thể nói
Nesse và Williams là hai nhà khoa học khởi xướng thuyết y học tiến hóa hay y học
Darwin. Randolph M. Nesse là một bác sĩ tâm thần và giữ chức giáo sư y khoa,
Đại học Michigan. George C. Williams là giáo sư sinh thái học và tiến hóa
(ecology and evolution) thuộc đại học Stony Brook (State University of Stony
Brook).
2. Ngoài cuốn sách trên, một số dữ kiện được trích ra từ các
tài liệu sau đây: Harris EE, Malyango AA. Evolutionary explanations in medical
health profession courses: are you answering your students “why” questions?
BMC Medical Education 2005, 5:16 doi:10.1186/1472-6920-5-16; Wick G,
et al. A Darwinian-evolutionary concept of age-related diseases. Experimental
Gerontology 2003; 38:13-25; Nesse RM, Williams GC. On Darwinian medicine.
Life Science Research (published in China) 1999; 3:1-17, and 1999; 2:79-91.
3. Tác giả cám ơn Bác sĩ Nguyễn Đ́nh Nguyên đă đọc qua bản
thảo, biên tập và góp ư vài phần trong bài viết.
|