|
Bệnh xơ hóa cơ delta qua y v ăn
thế giới
Nguyễn Văn
Tuấn
Tính đến ngày 15/5/2006, báo chí
cho biết đă có trên 2000 trường hợp trẻ em mắc bệnh
xơ hóa cơ delta (có khi gọi là bệnh "chim
xệ cánh") trên toàn quốc.
Đây là một con số lớn, và có thể nói t́nh trạng
đang bộc phát nhanh chóng, v́ số trường hợp trẻ em
mắc bệnh được liên tục tăng nhanh chóng.
Nhưng các chuyên gia h́nh như vẫn chưa nhất trí nguyên nhân
của bệnh. Một số người th́ dựa vào kinh nghiệm cá nhân phát biểu
một cách khẳng định rằng nguyên nhân bệnh là do tiêm
chích thuốc nhiều lần. Nhưng cũng có người cho rằng "không có ‘bệnh
teo cơ delta’ mà chỉ có triệu chứng cơ delta" (www.vietnamnet.vn/khoahoc/suckhoe/2006/05/574459).
Thực ra gọi là "bệnh xơ hóa cơ delta" hay "rối loạn cơ delta" (deltoid
fibrosis disorder) trong thực tế chỉ là một. Nhưng ở đây,
đứng trên phương diện lâm sàng, có lẽ việc phân biệt từ ngữ
"bệnh" với "triệu chứng" có vẻ xa xỉ khi có quá nhiều trường hợp
bệnh đang cần điều trị. Bài viết sau đây tổng
hợp y văn trên thế giới về bệnh xơ hóa cơ delta, với hi vọng
sẽ cung cấp vài thông tin có ích cho đồng nghiệp trong nước.
Cơ delta là một cơ có h́nh dạng giống như một
tam giác bao bọc khớp vai (xem H́nh 1). Cơ này có chức năng
giúp nâng cánh tay bên cơ thể. Bệnh teo cơ delta hay
xơ hóa
cơ delta, như tên gọi, là một sự rối loạn cơ, với đặc tính
chính là những sợi đai của cơ trong cơ delta
bị xơ hóa, và ảnh hưởng đến cơ chế của các xương trong khu
vực vai. Hậu quả là phần xương bả vai nhô lên như có cánh,
và vùng giữa hai vai bị xệ xuống. Có khi xương sống bị vẹo.
Xơ hóa
cơ delta cũng có khi liên quan đến xơ hóa cơ vùng mông
và cơ tứ đầu (tức cơ phần chân).
Xơ hóa cơ delta không phải là một bệnh mới. Từ
thập niên 1960s, trên y văn tiếng Anh đă
có vài báo cáo về bệnh này. Tuy nhiên, trước thập niên 1960s
đă một số trường hợp bệnh được phát hiện và
mô tả khá chi tiết trong các nước đang phát triển.
Sau Thế chiến thứ 2, nhiều loại thuốc như trụ sinh và chống sốt
rét được sử dụng phổ biến qua đường tiêm chích. Tần
số các trường hợp xơ hóa cơ delta tăng dần với việc gia tăng
tiêm thuốc trong cơ. Do đó, giới y khoa nghi ngờ rằng
bệnh xơ hóa cơ delta là hệ quả của tiêm thuốc.
Đứng trên phương diện lí thuyết mà nói, xơ hóa
cơ delta là một phần của rối loạn dưỡng cơ, có ảnh
hưởng đến phần trên và phần dưới của tứ chi. Mặc dù
ở bất cứ độ tuổi nào cũng có nguy cơ mắc bệnh, nhưng
phần lớn trường hợp được phát hiện trên thế giới thường tập trung
vào nhóm trẻ em. Bệnh xơ hóa cơ delta, trong vài trường hợp hiếm,
cũng được phát hiện cả chân và tay. T́nh trạng cơ bị
xơ hóa có thể làm hạn chế hoạt động của tay chân.
Tần số. Ở Mĩ vá Âu châu bệnh xơ hóa cơ delta
xảy ra rất ít, cho nên giới y tế chẳng mấy quan tâm. Thật vậy,
điểm qua y văn, các trường hợp xảy ra ở Mĩ thường tập trung
vào một số vùng và tần số cũng không cao (chỉ xảy ra trong
vài gia đ́nh). Trong mấy năm gần đây th́
hầu như không thấy báo cáo nào về bệnh này. Nhưng ở các nước
đang phát triển, có khá nhiều trường hợp xơ hóa cơ
delta đă được phát hiện và báo cáo trong
y văn. Ở Nhật có thời bệnh này bộc phát đến nổi
trở thành một vấn đề xă hội. Ở Đài
Loan, bệnh có thời trở thành phổ biến trong thập niên 1980s với
tần số lên đến 10% trẻ em ở một số vùng. Hiện nay,
ở nước ta chưa có nghiên cứu có hệ thống để ước tính tần số
bệnh, nhưng một nghiên cứu sơ bộ tại Hà Tĩnh cho thấy có
đến 20% người mắc bệnh này!
Nguyên nhân số một của các trường hợp
xơ
hóa cơ delta được xác định là liên quan đến sự
thay đổi trong cơ delta sau khi tiêm thuốc. T́nh trạng sử
dụng nhiều loại thuốc cũng được xem là "thủ phạm" làm cho cơ bị
xơ hóa, kể cả những thuốc như
Dramamine, Iron, Penicillin, Lincomycin,
Pentazocine/Talwin, Hypodermoclyses, Streptomycin, Tetracycline,
và thuốc chống sốt rét.
Nhưng tại sao một số không nhỏ các trường hợp
trẻ em ít tiêm thuốc mà cũng bị xơ hóa cơ delta th́ không ai biết
và đến nay vẫn chưa có lí giải thỏa đáng. Có nhiều
gia đ́nh mà trong đó phần lớn anh chị
em không bị xơ hóa cơ delta dù họ cũng được tiêm nhiều
lần như nhau. Một báo cáo ở Đài Loan cho thấy bệnh
này chỉ xảy ra trong khoảng 30% anh chị em trong gia đ́nh.
Một nghiên cứu trên 17 bệnh nhân ở Calcutta (Ấn Độ) cho thấy
xơ hóa cơ delta có xu hướng tập trung vào một số dân tộc
thiểu số và một số vùng (giống như hiện nay ở nước ta bệnh tập trung
huyện Nghi Xuân). Chẳng hạn như trẻ em từ các vùng ngoại ô Calcutta
không bị chứng bệnh này. Có thể suy luận từ các nghiên cứu này là
điều kiện sinh sống có thể có ảnh hưởng đến nguy cơ
mắc bệnh lớn hơn so với các yếu tố di truyền và bẩm sinh.
Bệnh lí. Cơ delta có 3 vùng chính: xương
đ̣n (clavicle), xương mỏm cùng vai (acromion, tức là
chỗ nhô h́nh thuôn ở chóp của gai xương bả vai), và xương bả vai
(xem H́nh 2). Có một đầu bám trong vùng này,
đó là lồi củ delta (deltoid tubercle) nằm phía trên
xương cánh tay. Phần phía trước và phía sau hội tụ với nhau làm
thành vùng đầu bám, c̣n phần chính giữa là đa pha (multipennate).
Phần chính giữa có 4 vách kéo dài từ phần bên cạnh của xương mỏm
cùng vai. Chúng đan xen nhau bằng 3 vách từ
lồi củ delta.
Chức năng chính của cơ delta là làm cho cánh tay vận
động lên xuống, xoay quanh.
Xơ hóa cơ delta thường được phát hiện trong
cả 3 phần, nhưng phần giữa là phổ biến nhất. Vùng phổ biến
thứ hai là phần bên của cơ delta. Đây cũng chính là
những chỗ thường được chọn làm nơi để
tiêm thuốc.
Xét nghiệm bằng electromyelogram (EMG) cho thấy
các cơ bị ảnh hưởng không có dấu hiệu c̣n hoạt động, nhưng
các dây thần kinh vẫn hoạt động b́nh thường.
Nghiên cứu từ Đài Loan cho thấy xét nghiệm EMG không
chỉ phát hiện t́nh trạng bất b́nh thường của cơ bị ảnh hưởng (xơ
hóa) mà c̣n cho chúng ta thấy các cơ không ảnh hưởng. Các kết quả
nghiên cứu trong quá khứ cho phép chúng ta suy luận rằng những cơ
bị ảnh hưởng có thể đă có triệu chứng bất b́nh thường
trước khi tiêm thuốc, và sau khi tiêm thuốc th́ chúng trở nên dễ
bị xơ hóa. Các nhà nghiên cứu Đài Loan đề suất
3 cơ chế để giải thích về sự phát sinh của xơ hóa cơ delta
như sau:
· Kim sử dụng cho tiêm thuốc hoặc
chính độc tính của thuốc trực tiếp phá vỡ cơ.
· Thiếu máu cơ (myoischemia) do
dung lượng thuốc tiêm, cộng với chứng phù, cơ bị, và mạch
máu bị tổn thương (mô bị phù thường đẩy mạnh quá tŕnh
hoạt động tạo cơ và chất collagen).
· Các mô của cơ bị "ngăn
hóa thành sợi" (fibrotic compartmentalization), dẫn
đến nguyên nhân thiếu máu cơ và làm tổn thương
đến các dây thần kinh. (Các dây thần kinh có thể bị
đứt trong quá tŕnh xơ hóa.)
Tổn thương thừ tiêm thuốc nhiều lần hoặc
độc tính cơ (myotoxicity) của thuốc được xem
là hai "c̣ súng" khởi đầu quá tŕnh xơ hóa cơ
delta, gây nên chứng viêm cơ trung tâm (focal myositis) và quá tŕnh
thoái hóa cơ (myopathic degeneration process). Dây thần kinh bị
tổn thương hay bị đứt cùng một lúc với quá tŕnh xơ
hóa của cơ. Ngoài ra, các mô nối kết cũng có thể bị tổn thương trong
quá tŕnh này. Những tổn thương này có thể do thiếu enzyme trong
qui tŕnh sản sinh collagen, hay tốc độ sản sinh collagen
gia tăng quá cao, hay đột biến từ những gen có
chức năng kiểm soát qui tŕnh sản xuất collagen. Một trong
những cơ chế trên có thể giải thích tại sao một số không ít bệnh
nhân không có tiêm thuốc mà cũng bị bệnh xơ hóa cơ delta.
Kiểm tra lâm sàng
Kinh nghiệm của các bác sĩ ở Đài Loan, Ấn
Độ và Nhật cung cấp một số kiểm tra lâm sàng cần thiết
để xác định bệnh xơ hóa cơ delta như sau:
· Kiểm tra tiền sử tiêm chủng
hay tiêm thuốc tại những vùng chung quanh vai;
· Kiểm tra xơ cứng ở các bộ phận
khác của cơ thể;
· Thân nhân trong gia đ́nh
có ai mắc chứng xơ hóa cơ;
· Kiểm tra vận động tay
chân hàng ngày có bị hạn chế ǵ không;
· Xem xét sự vận động của
cổ và kiểm tra xem có biến dạng Sprengel (tức một
biến dạng bẩm sinh mà đặc điểm chính là xương
bả vai nhỏ và ở trên cao vai. Điều này cho
thấy xương vai không phát triển b́nh thường) và các bất
b́nh thường khác mang tính dị tật bẩm sinh;
· Xem xét vai và phần trên của
cơ thể, nhất là xem có ổ khớp ở cánh tay và vận động
của vai;
· Xem xét sự vận chuyển của xương
vai có khó khăn hay không;
· T́m bằng chứng hay dấu hiệu
về xơ cứng nơi khác của cơ thể;
· Xem xét t́nh trạng thần kinh
cơ;
· Xem xét phần xương sống và xương
ngực, t́m xem có dấu hiệu vẹo xương sống hay các bất b́nh
thường khác.
Phần lớn bệnh nhân xơ hóa cơ delta có bờ vai
bị giang ra khi phần chính giữa bị ảnh hưởng xơ hóa. Nếu phần phía
trước bị ảnh hưởng, cánh tay có h́nh dạng như bị uốn cong và rẽ
ra. Nếu phần phía sau bị ảnh hưởng, cánh tay như bị kéo dài ra và
rẽ ra. Khi cánh tay bị kéo dài hay uống cong, phần đầu của
xương cánh tay có thể bị trật khớp.
Một số trường hợp trật khớp có thể tái phát và
tổn thương đến môi gờ (môi thấy ở vài nơi quanh bờ
hốc khớp của xương hông) đă được ghi nhận trong
y văn. Khám nghiệm bằng quang tuyến phần khớp xương cánh
tay có thể khó phát hiện v́ vị trí của xương bả vai bị thay
đổi. Trong trường hợp đó, có thể phải cần đến
CT scan để xét nghiệm khớp cánh tay.
Ở những bệnh nhân mà bộ xương đă
phát triển đến độ trưởng thành, phần đầu của xương cánh tay
có thể phẳng và những thay đổi về mỏm cùng vai
(acromial morphology) có thể thấy khá rơ ràng. Khi sơ cứng giạng
ra, trọng lượng của cánh tay làm cho phần dưới của xương bả vai
xoay về trung tâm, và hai bên xương bả vai nhô lên như có cánh.
Thông thường, da chung quanh vùng bị ảnh hưởng có h́nh lúm
đồng tiền, và các dây cơ hiện lên khá rơ, rất dễ thấy. Chứng
vẹo xương sống có thể xảy ra trong một số trường hợp nặng, và bệnh
nhân cảm thấy đi đứng khó khăn.
Xét nghiệm và chẩn đoán
Hiện nay, chưa có xét nghiệm sinh hóa nào cho
bệnh xơ hóa cơ delta, và cũng chưa có chỉ số sinh hóa nào phản ánh
chứng xơ hóa cơ delta. Cũng không có xét nghiệm hay phân tích gen
nào có thể sử dụng cho việc chẩn đoán xơ hóa cơ delta.
Xét nghiệm để chẩn đoán bệnh, do đó, chủ yếu dựa vào
quang tuyến X, huỳnh quang và CT scan.
· Bước đầu, xem xét kết
quả quang tuyến X có b́nh thường hay không.
· Bước hai, khi phim quang tuyến
X không cho ra kết quả rơ ràng, xét nghiệm huỳnh quang (fluoroscopic
exam) cần phải tiến hành. Xét nghiệm huỳnh quang c̣n có
thể sử dụng để xem xét ổ khớp cánh tay và dấu
hiệu bất b́nh thường trên xương sống ngực.
· Bước ba, nếu kết quả xét nghiệm
huỳnh quang không rơ ràng, cần phải tiến hành xét nghiệm
bằng CT scan. Lợi thế của CT scan là có thể thẩm định
xem có thay đổi nào đáng kể liên quan
đến xương và khớp xương. Kết quả của CT scan
nói chung rất đáng tin cậy.
· Xét nghiệm bằng EMG rất ít khi
nào sử dụng cho mục tiêu lâm sàng, nhưng thường được
sử dụng cho nghiên cứu.
· Xét nghiệm mô học.
Trong tất cả các trường hợp xơ hóa cơ delta, kết quả
xét nghiệm mô học cho thấy mật độ mô dày
đặt và vài cơ bị teo.
Lưu ư rằng xét nghiệm huỳnh quang và CT scan
có thể cần thiết để xem xét những dị dạng một cách đầy đủ.
Các chuyên gia có kinh nghiệm về xơ hóa cơ delta cho biết
dị dạng phần đầu xương cánh tay có thể t́m thấy trong
vài trường hợp ở độ tuổi vị thành niên, mặc dù các
phim quang tuyến thường không phát hiện được.
Điều trị.
Chưa có thuốc nào
để điều trị bệnh xơ hóa cơ delta, nhưng chỉ có các
thuốc loại phi steroid (non-steroid) dùng cho giảm đau.
Điều trị bằng y khoa chỉ đơn giản theo dơi, vật lí trị liệu
như kéo căng. Nhưng chưa có bằng chứng nào cho thấy các phương pháp
điều trị này có hiệu quả.
Do đó, phẫu thuật được xem là cách
điều trị chuẩn hiện nay. Phẫu thuật thường nhằm
mục đích "giải thoát" những dây cơ bị sơ cứng. Tuy
nhiên, không phải bệnh nhân nào cũng cần đến giải phẫu. Giải
phẫu chỉ nên tiến hành ở các bệnh nhân ở độ tuổi mà
các dị dạng xương có thể tự điều chỉnh trong thời gian trưởng
thành. Cách chọn bệnh nhân cho giải phẫu như thế là nhằm
mục đích giảm nguy cơ bị arthritic viêm khớp khi bệnh
nhân đă trưởng thành.
Ngoài ra, theo các chuyên gia có kinh nghiệm,
phẫu thuật chỉ được tiến hành trong những trường hợp
với độ giạng ra bằng hay cao hơn 25 độ.
Bệnh nhân phải từ 5 tuổi trở lên và có dấu hiệu dị dạng trong quá
tŕnh xương trưởng thành (chẳng hạn như đầu xương bị phẳng,
thay đổi ở xương mỏm cùng vai, khớp xương mỏm cùng vai giang
rộng ra, vẹo xương sống, v.v…).
Nói chung, kết quả phẫu thuật tốt, từ 96%
đến 100% được điều trị thành công. Nhưng có một số
nghiên cứu cho thấy tỉ lệ tái phát khoảng 6%.
Vài nhận xét
Thông tin về bệnh xơ hóa cơ delta trong thời gian qua (nhất
là trên hệ thống truyền thông đại chúng) có vẻ nhiều, nhưng
tựu trung lại là chưa rơ ràng. Từ những bài báo đầu
cho biết “vẫn chưa rơ nguyên nhân gây bệnh teo cơ"
đến những khẳng định rằng bệnh là do "lạm dụng kháng sinh",
lại có chuyên gia khẳng định do tiêm thuốc nhiều lần,
thậm chí có người c̣n nghi ngờ "xệ cánh v́ tiêm chủng", v.v… Một
vấn đề y khoa khi đến tay nhà báo có vẻ trở nên rắc
rối và … lẫn lộn. Nhưng điểm qua y văn thế giới
trên đây, có thể rút ra vài nhận xét chung và
cung cấp cho chúng ta vài thông tin rơ ràng hơn vệ bệnh lí và cách
chẩn đoán:
Thứ nhất, teo cơ delta hay xơ hóa cơ delta là
một rối loạn cơ, và những đặc tính của bệnh được tŕnh
bày trong y văn cũng rất phù hợp với những trường hợp
được báo chí trong nước mô tả trong thời gian qua. Bệnh này
rất hiếm thấy ở các nước đă phát triển, nhưng ở các
nước Á châu như Nhật, Ấn Độ, Đài Loan bệnh này tương
đối phổ biến trong thời gian qua. Ở nước ta, có nơi
tỉ lệ trẻ em mắc bệnh lên đến 20% là rất cao, nhưng
cũng khá phù hợp với tần số mà các nước khác như Nhật, Ấn
Độ và Đài Loan đă ghi nhận trước
đây.
Thứ hai, bệnh lí của xơ hóa cơ delta có vẻ phức
tạp (v́ có nhiều nguyên nhân) hơn một số người suy nghĩ. Trong thời
gian gần đây nhiều chuyên gia trong nước cho rằng nguyên
nhân chính của bệnh là do "bị" tiêm thuốc nhiều lần, nhưng có lẽ
đây chỉ là một yếu tố nguy cơ mà thôi, chứ không phải
nguyên nhân trực tiếp gây nên bệnh. Thật vậy, nghiên cứu của Tiến
sĩ Nguyễn Thanh Liêm (Viện Nhi trung ương) cho biết trẻ em từng
bị tiêm thuốc nhiều lần có nguy cơ mắc bệnh cao gấp 4 lần so với
trẻ em không có tiền sử tiêm thuốc. Nói cách khác, không phải bất
cứ trẻ em có tiền sử bị tiêm thuốc cũng đều mắc bệnh (họ chỉ
có nguy cơ mắc bệnh cao hơn), mà ngay cả trẻ em không có
tiền sử tiêm thuốc cũng mắc bệnh.
Kết quả của Tiến sĩ Liêm cũng phù hợp với y văn
thế giới: đó là tiêm chích chỉ là một yếu tố nguy cơ, c̣n
nhiều nguyên nhân mang tính lâm sàng khác nữa. Thật vậy, ở trẻ em
với bệnh xơ hóa cơ delta, tiêm thuốc nhiều lần là một yếu tố nguy
cơ, nhưng độc tính của thuốc cũng có thể là một yếu
tố nguy cơ khác.
Về bệnh lí, điểm qua nghiên cứu
ở Đài Loan và Nhật, chúng ta có thể nói ở trẻ em, bệnh
có thể xuất phát từ dị tật bẩm sinh, hay rối loạn cơ trong quá tŕnh
phát triển của cơ thể. Trẻ em mắc bệnh xơ hóa cơ delta có lẽ
đă sẵn có trong người những yếu tố bẩm sinh có nguy
cơ bị xơ hóa cơ delta trước khi tiêm thuốc; do đó tiêm
thuốc chỉ là một thành tố "xúc tác" hay "trigger" gây nên quá tŕnh
xơ hóa cơ.
Thứ ba, vấn đề chẩn đoán nên
được quan tâm nhiều hơn, v́ không phải bất cứ bệnh
nhân nào có h́nh dạng "chim sệ cánh" đều là bệnh xơ
hóa cơ delta. Có người đề nghị sử dụng phương pháp phân tích
mô để chẩn đoán, nhưng kinh nghiệm các nước khác cho thấy kết quả
xét nghiệm mô chẳng cung cấp thêm thông tin ǵ mà bác sĩ
đă có thể cảm nhận qua khám lâm sàng và qua CT scan
hay quang tuyến.
Ở đây, không thể loại trừ vai tṛ
của gen, nhưng chúng ta vẫn chưa biết gen nào có ảnh hưởng
đến bệnh; do đó, quả là không thực tế khi có đề nghị
phân tích gen để chẩn đoán bệnh. Chúng ta không cần phân tích gen
để chẩn đoán bệnh, nhưng có thể cần phân tích gen để nghiên
cứu bệnh lí, nhưng đây không phải là việc làm trước
mắt.
Thứ tư, bệnh "chim sệ cánh" có thể điều
trị được bằng phẫu thuật, nhưng cần thận trọng trong việc chọn bệnh
nhân cho giải phẫu. Có chuyên gia trong nước đă
quan tâm đến vấn đề giải phẫu đại trà ("không
định bệnh chính xác, đă mổ c̣n hại hơn"), và quan tâm này
rất chính đáng. Hi vọng kinh nghiệm của các nước khác được
tŕnh bày trên đây có thể cung cấp cho các chuyên
gia phẫu thuật vài tiêu chuẩn để tuyển chọn bệnh nhân cho
phẫu thuật sao cho có hiệu quả cao và an toàn.
Sau cùng, chúng ta cần nghiên cứu thêm. Như
đề cập trên, môi trường sống cũng có thể có ảnh hưởng
đến nguy cơ mắc bệnh. Môi trường sống ở nước ta khác với các
nước như Đài Loan hay Ấn Độ (mà các kinh nghiệm
này được mô tả trên), cho nên chúng ta vẫn cần phải
tiến hành một hay hai nghiên cứu qui mô, có hệ thống, đúng
tiêu chuẩn khoa học để làm rơ hơn những nguyên
nhân và yếu tố gây bệnh ở các trẻ em trong nước. Hi vọng rằng với
kết quả nghiên cứu khoa học, nước ta sẽ sớm xóa sổ căn bệnh
gây ra đau khổ cho hàng ngàn trẻ em.
Tài liệu tham khảo và đọc thêm: Sau đây
là một số bài báo liên quan đến bệnh xơ hóa cơ delta
mà tôi sử dụng và trích dẫn trong bài viết:
1. Bhattacharyya
S: Abduction contracture of the shoulder from contracture of
the intermediate part of the deltoid. Report of three cases.
J Bone Joint Surg Br 1966 Feb; 48(1): 127-31.
2. Chatterjee P, Gupta SK: Deltoid contracture
in children of central Calcutta. J Pediatr Orthop 1983
Jul; 3(3): 380-3.
3. Chen SS, Chien CH, Yu HS: Syndrome of
deltoid and/or gluteal fibrotic contracture: an injection myopathy.
Acta Neurol Scand 1988 Sep; 78(3): 167-76.
4. Chen WJ, Wu CC, Lin YH: Treatment of deltoid
contracture in adults by distal release of the deltoid. Clin
Orthop 2000 Sep; (378): 136-42.
5. Chung SM, Nissenbaum MM: Congenital and
developmental defects of the shoulder. Orthop Clin North
Am 1975 Apr; 6(2): 381-92.
6. Cozen LN: Pentazocine injections as a
causative factor in dislocation of the shoulder. J Bone Joint
Surg Am 1977 Oct; 59(7): 979.
7. Goodfellow JW, Nade S: Flexion contracture
of the shoulder joint from fibrosis of the anterior part of
the deltoid muscle. J Bone Joint Surg Br 1969 May; 51(2):
356-8.
8. Groves RJ, Goldner JL: Contracture of
the deltoid muscle in the adult after intramuscular injections.
J Bone Joint Surg Am 1974 Jun; 56(4): 817-20.
9. Hang YS, Miller JW: Abduction contracture
of the shoulder. A report of two patients. Acta Orthop Scand
1978 Apr; 49(2): 154-7.
10. Hill NA, Liebler WA, Wilson HJ: Abduction
contractures of both glenohumeral joints and extension contracture
of one knee secondary to partial muscle fibrosis. J Bone
Joint Surg Am 1967 Jul; 49(5): 961-4.
11. Ko JY, An KN, Yamamoto R: Contracture
of the deltoid muscle. Results of distal release.J Bone Joint
Surg Am 1998 Feb; 80(2): 229-38.
12. Manske PR: Deltoid muscle abduction contracture.
Clin Orthop 1977 Oct; (128): 165-6.
13. Minami M, Yamazaki J, Minami A: A postoperative
long-term study of the deltoid contracture in children. J
Pediatr Orthop 1984 Sep; 4(5): 609-13.
14. Ogawa K, Yoshida A, Inokuchi W: Deltoid
contracture: a radiographic survey of bone and joint abnormalities.
J Shoulder Elbow Surg 1999 Jan-Feb; 8(1): 22-5.
15. Ogawa K, Inokuchi W, Naniwa T: Subacromial
impingement associated with deltoid contracture. A report of
two cases. J Bone Joint Surg Am 1999 Dec; 81(12): 1744-6.
16. Wolbrink AJ, Hsu Z, Bianco AJ: Abduction
contracture of the shoulders and hips secondary to fibrous bands.
J Bone Joint Surg Am 1973 Jun; 55(4): 844-6.
|